|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 519/2024/DS-PT
Ngày 11 – 7 – 2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,
yêu cầu hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Văn Mười
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh
Bà Trần Thị Thúy Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Sơn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
141/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng
đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2122/2024/QĐ-PT ngày 26/6/2024,
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vày Chóc N (tên gọi khác: Vày C), sinh năm 1966; Địa chỉ: Số B, Khu G, ấp G, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bị đơn:
- Bà Đặng Thị X, sinh năm 1937; Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông N: Ông Trần Hoàng M, sinh năm 1980; Địa chỉ: F tổ D, ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Theo Giấy ủy quyền ngày 10/5/2024, có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà X: Ông Trần Quang H, sinh năm 1974; Địa chỉ: KDC A, ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (theo Văn bản ủy quyền ngày 16/4/2018, có mặt).
- Ông Trần Quang H, sinh năm 1974; Địa chỉ: KDC A, ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Bà Nguyễn Ái N1, sinh năm 1995; Địa chỉ: 769/49/23, khu A, đường Cách mạng tháng tám, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Theo Văn bản ủy quyền ngày 10/5/2022, có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972; Địa chỉ: KDC A, ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Ông Trần Xuân H2, sinh năm 1954, đã chết ngày 08/3/2024.
- Bà Trần Thị N2, sinh năm 1954; Địa chỉ: Đ, ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Trần Thị N3, sinh năm 1978; Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Trần Thị H3, sinh năm 1980; Địa chỉ: Khu dân cư A, ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1988; Địa chỉ: F tổ D, ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Ông Trần Hoàng M, sinh năm 1980; Địa chỉ: F tổ D, ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Bà Trần Ngọc L, sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Trần Thị Thu L1, sinh năm 1997; Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Trần Thị N2, sinh năm 1954; Địa chỉ: Đ, ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Bà Lầm A K, sinh năm 1967; Địa chỉ: Số B, Khu G, ấp G, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Trần Thị T, sinh năm 1966; (vắng mặt)
- Ông Trần Văn L2, 1968; (vắng mặt)
- Trần Thị T1, sinh năm 1970; (vắng mặt)
- Bà Trần Thị Thanh T2, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Ông Trần Hoàng P, sinh năm 1976; Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Ông Trần Văn H4, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Ông Trần Thanh V, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số F, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
Những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Xuân H2:
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lầm A K: Ông Trần Hoàng M, sinh năm 1980; Địa chỉ: F tổ D, ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Nam B; Chức vụ: Chủ tịch (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai
Người đại diện theo ủy quyền của bà T, ông L2, bà T1, bà T2, ông P, ông H4: Ông Trần Quang H, sinh năm 1974; Địa chỉ: KDC A, ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Vày Chóc N4.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Vày Chóc N4 và lời khai của ông Trần Xuân H2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; là đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà K trình bày:
Năm 1995, ông N4 đã nhận chuyển nhượng 23.299m² diện tích đất từ ông Trần Thanh V, trong đó có thửa đất số 34 thuộc tờ bản đồ số 20 với diện tích 3.006m² (phía Bắc giáp với đất ông Từ Phi P1; Phía Nam giáp với mặt đường; phía Tây giáp với thửa đất số 39 của ông). Ông N4 đã trực tiếp sử dụng, đăng ký kê khai, nộp thuế cho Nhà nước và đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vày Chóc Nàm đứng tên số K348874 (số vào số cấp giấy chứng nhận 01013QSDĐ 273 QĐUBH) ngày 15/7/1997.
Ngày 20/4/2002, ông N4 làm giấy chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N4 đứng tên Vày Chóc Nam số K348874 (số vào số cấp giấy chứng nhận 01013QSDĐ/273 QĐUBH) ngày 15/7/1997 cho ông Trần Xuân H2 trong đó có 3.006m² thuộc thửa 34, tờ bản đồ số 20. Việc chuyển nhượng có 03 người làm chứng, trong đó có ông Trần Thanh V (người đã bán đất cho N4) và ông Trần Hoàng P là con của bà Đặng Thị X và ông Từ Phi P1. Ông N4 đã giao toàn bộ diện tích đất cùng các bản chính giấy tờ liên quan cho ông, trong đó có số đỏ ông trực tiếp sử dụng, đóng thuế cho Nhà nước.
Năm 2006, ông N4 đã nộp hồ sơ xin đăng ký quyền sử dụng đất tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (có biên nhận số 8194/VPĐK-QSDĐ ngày 27/9/2006) nhưng chưa được sang tên quyền sử dụng đất. Đến năm 2008, ông Trần Quang H và bà Đặng Thị X tranh chấp với ông N4 và ông thuộc phần đất diện tích 3.006m² thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 20 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N4 ngày 15/7/1997 tọa lạc tại xã P. Trị giá phần đất tranh chấp ước tính là 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng chẵn). Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Ủy ban nhân dân xã yêu cầu phía ông tạm ngưng sử dụng đất để chờ cơ quan chức năng giải quyết. Bên ông H đã tự ý chiếm 3.006m² đất nói trên có nguồn gốc từ ông N4 đã được chuyển nhượng lại cho ông và chiếm cây điều nằm giữa 2 thửa đất số 35 và 39 cây điều này khoảng 20 năm tuổi, giá trị khoảng 2.000.000đ (hai triệu đồng).
Ông N4 đã liên tục khiếu nại cho mãi đến năm 2013, ông N4 mới nhận được Công văn số 292/UBND-IT ngày 25/02/2013 của Ủy ban nhân dân huyện Đ. Theo nội dung Công văn này thì Ủy ban nhân dân huyện Đ đã ra Quyết định số 1852/QĐ-UBND ngày 13/11/2009 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K348874 ngày 15/7/1997 của ông N4. Hiện trừ diện tích 3.006m² đất đang tranh chấp, số đất 5 thửa còn lại trong sổ đỏ của ông N4 Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông. Ông N4 đã nhiều lần làm đơn khởi kiện và yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Đ cung cấp Quyết định số 1852/QĐ-UBND ngày 13/11/2009 cho ông nhưng ông N4 vẫn không được cấp.
Từ ngày 19/9/2013, ông N4 đã gửi nhiều đơn tới Ủy ban nhân dân xã P để yêu cầu giải quyết việc tranh chấp 3.006m² đất nói trên nhưng mãi tới hơn một năm sau Ủy ban nhân dân xã P mới tổ chức hòa giải có lập biên bản hòa giải không thành ngày 23/12/2014 tại Ủy ban nhân dân xã P. Ngay sau đó ông N4 đã có đơn khởi kiện tranh chấp QSD gửi tới Tòa án nhưng Tòa án chỉ thụ lí vụ án hành chính. Ngày 05/9/2016, ông N4 đã được phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Đ giao quyết định 1761/QĐ-UBND ngày 24.8.2016 chủ tịch UBND huyện Đ về việc thu hồi và hủy bỏ quyết định 762/QĐ UBND ngày 01/6/2015 của UBND huyện Đ là quyết định mà ông đã khởi kiện vụ án hành chính.
Ngày 21/9/2016, ông H2 có làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhưng bị trả lại đơn khởi kiện theo thông báo số 376/2016/TA-TB ngày 31/10/2016 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán với nội dung chính là biên bản hòa giải ngày 23/12/2014 của UBND xã P là chưa hợp lệ. Ông N4 có làm đơn yêu cầu UBND xã P tiến hành hòa giải lại nhưng UBND xã P không thực hiện và ra công văn số 89/UBND ngày 04/11/2016 của UBND xã P và khẳng định là đảm bảo thành phần của hội đồng hòa giải theo đúng quy định.
Vậy nay ông đại diện cho ông N4, yêu cầu Tòa án dân tỉnh Đồng Nai giải quyết như sau: Buộc ông Trần Quang H và bà Đặng Thị X trả lại diện tích 2.469,9m² thuộc một phần của thửa 34, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P được Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K348874 ngày 15/7/1997. Theo bản đồ mới là một phần của thửa đất số 221, tờ bản đồ số 30 xã P được giới hạn bởi các mốc (21, 22, 1, 2, 3, 4, 5, b, 12', 13, d, e, 17', f, g, h, 21) theo trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1703/2023 ngày 28/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
Ý kiến của ông đồng ý với kết quả bản vẽ, chứng thư Thẩm định giá, và không yêu cầu Tòa án tiến hành thẩm định giá lại, yêu cầu căn cứ vào kết quả đã định giá để làm căn cứ cho việc giải quyết án. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Quang H ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của ông H.
Ông Trần Quang H là bị đơn, là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đặng Thị X, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H1, bà T, ông L2, bà T1, bà T2, ông P, ông Văn H4 trình bày:
Thửa đất số 34, tờ bản đồ địa chính số 20 (cũ) xã P (diện tích 3.006m²) nay thuộc thửa số 205, tờ bản đồ số 30 (gọi là “Khu Đất”) hiện đang tranh chấp do bà Đặng Thị X khai phá trước năm 1980. Đến năm 2007, do có khó khăn về kinh tế, bà X đã đề nghị sang nhượng lại cho ông và ông đã đồng ý sang nhượng Khu Đất. Từ đó, ông đã tiếp nhận Khu Đất đồng thời quản lý, sử dụng ổn định Khu Đất. Cùng năm 2007 thì ông cũng đã tiến hành thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp biên nhận thửa đất 205. Tuy nhiên, đến năm 2008 khi ông tiến hành đóng cọc bê tông làm rào cho Khu Đất thì ông Trần Xuân H2 đã ngăn cản vì cho rằng ông xâm phạm phần đất của ông H2 và đưa vụ việc ra tranh chấp tại UBND các cấp. Theo đó, ông Trần Xuân H2 nhận chuyển nhượng đất từ ông V1 Chóc Nàm vì ông N4 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K348874 ngày 15/7/1997 đối với thửa đất 34 của ông. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này hoàn toàn không chính xác và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của ông và đã được xác định là sai sót thể hiện trong toàn bộ hồ sơ vụ án. Cụ thể, trong quá trình giải quyết tại các cơ quan ban ngành, cụ thể tại Báo cáo kết quả xác minh tranh chấp của Phòng Tài nguyên và Môi trường UBND huyện Đ ngày 08/5/2009, kết luận của Thanh tra UBND huyện Đ ngày 06/7/2009, lời khai của những người sống lân cận Khu Đất như ông Nguyễn Văn D (phó ấp 4, xã P), ông Từ Phi P1 (chủ khu đất lân cận), cũng như chính ông Vày Chóc N4 đều thừa nhận rằng ông N4 sang nhượng đất từ ông Trần Thanh V không có phần diện tích Khu Đất. Khi ông N4 làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do không hiểu biết về bản đồ địa chính nên ông N4 đã đăng ký nhầm thêm thửa đất số 34 hiện đang tranh chấp. Ông N4 cũng đã khai nhận rằng khi chuyển nhượng lại đất cho ông H2 thì có chỉ ranh đất và khẳng định là không có thửa 34 nói trên (bản sao Báo cáo gửi kèm). Theo văn bản phúc đáp của UBND huyện Đ gửi Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ngày 08/01/2018 cũng đã xác minh toàn bộ thông tin nói trên là đúng sự thật, UBND huyện Đ cũng đã ban hành quyết định số 1852/QĐ-UBND về việc thu hồi lại GCNQSDĐ của ông N4 nhưng ông N4 đã không giao lại giấy được thể hiện tại văn bản số 48/UBND-TT (đính kèm). Hiện thửa đất số 34 (nay là thửa số 205) do ông quản lý và sử dụng hoàn toàn hợp pháp. Việc GCNQSDĐ được cấp cho ông V1 Chóc Nàm là sai sót trong quá trình đăng ký. Do đó, ông N4 hoàn toàn không có bất kỳ quyền hạn nào đối với Khu Đất của ông. Qua đo đạc thực tế theo trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1703/2023 ngày 28/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ thì xác định phần đất tranh chấp là diện tích 2.469,9m² theo bản đồ địa chính cũ thuộc một phần của thửa 34, tờ bản đồ số 20 tọa lạc tại xã P được Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K348874 ngày 15/7/1997. Theo bản đồ mới là một phần của thửa đất số 221, tờ bản đồ số 30 xã P được giới hạn bởi các mốc (21, 22, 1, 2, 3, 4, 5, b, 12', 13, d, e, 17', f, g, h, 21) theo trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1703/2023 ngày 28/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
Nay ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông N4, và ông vẫn giữ nguyên khởi kiện phản tố, yêu cầu Tòa án: Hủy bỏ giao dịch sang nhượng đất giữa ông Vày Chóc N4 và ông Trần Xuân H2 đối với Khu Đất; Đồng thời, tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K348874 ngày 15/7/1997 được UBND huyện Đ cấp cho ông V1 Chóc Nàm đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ 20, diện tích 3.006m². Ông được quyền sử dụng diện tích 2.469.9m² theo bản đồ mới là một phần của thửa đất số 221, tờ bản đồ số 30 xã P được giới hạn bởi các mốc (21, 22, 1, 2, 3, 4, 5, b, 12', 13, d, e, 17', f, g, h, 21) theo trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1703/2023 ngày 28/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ và được đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của ông đồng ý với kết quả bản vẽ, chứng thư Thẩm định giá và không yêu cầu Tòa án tiến hành thẩm định giá lại, yêu cầu căn cứ vào kết quả đã định giá để làm căn cứ cho việc giải quyết án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh V trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Vày Chóc N4, năm 1995 ông có chuyển nhượng đất cho ông Vày Chóc N4. Lúc chuyển nhượng thì ông và ông N4 có làm giấy tay, nhưng hiện tại do thời gian quá lâu nên ông hiện cũng không còn giữ giấy viết tay này. Về diện tích đất mà ông đã chuyển nhượng cho ông Vày Chóc N4, thì lúc đó diện tích thửa đất bao gồm những thửa nào thì ông không biết vì thời điểm đó chưa có thửa rõ ràng tuy nhiên ông khẳng định rằng thửa đất số 34, tờ bản đồ địa chính số 20 (cũ) xã P (diện tích 3006m2) nay thuộc thửa số 205, tờ bản đồ số 30 (“thửa số 34”) không thuộc quyền sở hữu của ông. Vì khu đất của ông mà ông bán cho ông V1 Chóc Nàm là giáp ranh với thửa đất số 34 của bà Đặng Thị X và thửa số 34 là thuộc quyền sở hữu, quản lý và sử dụng của bà Đặng Thị X do bà khai hoang, canh tác. Ông hoàn toàn không có quyền gì đối với thửa đất số 34 này. Tại thời điểm ông bán đất cho ông N4 năm 1995 thì lúc đó ông chưa lập gia đình, còn tại sao ông N4 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp số K348874 ngày 15/7/1997 đối với thửa đất số 34 thì ông không rõ. Ông cho rằng việc chuyển nhượng đất giữa ông H2 với ông N4 là trái pháp luật do thửa đất số 34 theo ông biết đã được bà Đặng Thị X chuyển nhượng cho ông Trần Quang H. Ông cho rằng thửa đất số 34 phải được trả về đúng người, đúng chủ. Trong toàn bộ quá trình giải quyết, xác minh tại UBND huyện P, ông cũng đã trình bày nhất quán quan điểm của mình là thửa đất số 34 không thuộc quyền sở hữu của ông và ông không chuyển nhượng thửa đất này cho ông N4. Giao dịch trên thửa đất số 34 giữa ông N4 và ông Trần Xuân H2 là không có cơ sở. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ông Vày Chóc N4 là không có cơ sở và ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Vày Chóc N4 vì những lý do trên.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Quang H vì những trình bày như trên ông đã trình bày cho nên ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của ông H. Bên cạnh đó, vì lý do công việc và sức khỏe, ông kính mong Quý Toà xem xét cho tôi vắng mặt tại toàn bộ các buổi làm việc, xét xử vụ an tại Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Về kết quả đo đạc và Thẩm định giá ông đồng ý không có ý kiến gì thêm.
Tại Văn bản ý kiến số 48/UBND-TT ngày 08/01/2018 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Đ trình bày:
Ngày 24/01/1997, ông Vày Chóc N4 có đơn xin cấp giấy CNQSDĐ đối với 06 thửa đất, cụ thể: thửa 606, tờ bản đồ số 16 (cũ); thửa số 6, 25, 34, 39, 66, tờ bản đồ số 20 (cũ). Trong đơn ông N4 khai nguồn gốc các thửa đất nêu trên ông N4 mua của ông T3 năm 1996. Trên cơ sở xét duyệt của UBND xã P và tờ trình số 68/TT.ĐC của phòng Địa chính huyện, căn cứ vào kết quả xét duyệt nêu trên; UBND huyện Đ đã cấp giấy CNQSDĐ số K 348874 ngày 15/7/1997 cho ông V1 Chóc Nàm đối với thửa số 34, tờ bản đồ số 20 (cũ) xã P (diện tích 3.006m²) nay thuộc thửa số 205, tờ bản đồ số 30.
Đến năm 2009, ông Trần Xuân H2 có đơn kiến nghị với nội dung ông H2 tranh chấp đất với ông Trần Quang H ngụ tại ấp D, xã P. Ông H2 cho rằng ông H lấn chiếm 3.006m² tại thửa số 34, tờ bản đồ số 20 (cũ) xã P nay thuộc thửa số 205, tờ bản đồ số 30. Sau khi nhận đơn UBND huyện giao cho Phòng TNMT huyện thụ lý giải quyết. Đến ngày 08/5/2009, Phòng T có Báo cáo số 37/BC-TNMT, UBND huyện đã ban hành Văn bản số 1096/UBND-NC về việc trả lời đơn của ông H2. Tiếp đó UBND huyện ban hành Văn bản số 706/UBND-NC ngày 18/5/2009 về việc thẩm tra đề xuất xử lý đối với giấy CNQSDĐ do UBND huyện cấp cho ông V1 Chóc Nàm. Thực hiện Văn bản nêu trên Thanh tra huyện đã tiến hành thẩm tra và có Báo cáo số 33/BC-TTr ngày 06/7/2009 về kết quả phúc tra quy trình xét cấp giấy CNQSDĐ của ông Vày Chóc N4.
Xét Báo cáo số 37/BC-TNMT ngày 08/5/2009 của Phòng T và Báo cáo số 33/BC-TTr ngày 06/7/2009 của Thanh tra huyện, ngày 13/11/2009, UBND huyện Đ ban hành Quyết định 1852/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy CNQSDĐ cho ông V1 Chóc Nàm; nội dung Điều 1, quyết định nêu rõ:
“Điều 1: Nay thu hồi giấy CNQSDĐ số K 348874 đã cấp cho ông V1 Chóc Nàm tại thửa số 34, tờ bản đồ số 20 xã P với diện tích 3.006m² (Thửa số 34, tờ bản đồ số 20 thuộc bản đồ do Sở địa chính thiết lập năm 1996).
Lý do thu hồi: Cấp giấy CNQSDĐ đất sai đối tượng”.
Tuy nhiên, sau khi U Quyết định thu hồi giấy CNQSDĐ của ông N4 nhưng ông N4 không giao giấy CNQSDĐ để UBND huyện thu hồi theo quy định. Do đó, ngày 01/6/2015, UBND huyện ban hành Quyết định số 762/QĐ-UBND về việc hủy giá trị pháp lý một phần diện tích tại giấy CNQSDĐ số K 348874 cấp ngày 15/7/1997, nội dung Quyết định thể hiện:
“Điều 1: Hủy bỏ giao quyền sử dụng 3.006m² tại thửa số 34, tờ bản đồ số 20 xã P (thửa 34, tờ bản đồ số 20 thuộc bản đồ do Sở địa chính thiết lập năm 1996, nay nằm trong thửa 221 và một phần diện tích của thửa 205, tờ bản đồ số 30) trong tổng diện tích 23.299m² (gồm thửa 606 tờ bản đồ số 16 diện tích 1.524m²; tờ bản đồ 20 gồm các thửa: thửa số 06 diện tích 6.012m², thửa số 35 diện tích 2.599m², thửa số 34 diện tích 3.006m², thửa số 39 diện tích 5.767m² và thửa số 66 diện tích 4.391m²) đã được UBND huyện Đ cấp giấy CNQSDĐ số K 348874 ngày 15/7/1997 cho ông Vày Chóc N4. Diện tích còn lại trên giấy chứng nhận là 20.293m².
Lý do hủy: Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 20 cấp sai đối tượng sử dụng đất...”.
Tuy nhiên, sau khi ban hành Quyết định số 762/QĐ-UBND ngày 01/6/2015; UBND huyện xét thấy nội dung Quyết định nêu trên có sai sót về chủ thể và nội dung ban hành chưa đúng theo quy định. Do đó, ngày 24/8/2016 UBND huyện Đ đã ban hành Quyết định số 1761/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 762/QĐ-UBND ngày 01/6/2015, nội dung Quyết định thể hiện:
“Điều 1: Thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 762/QĐ-UBND ngày 01/6/2015 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc hủy giá trị pháp lý một phần diện tích tại giấy CNQSDĐ số K 348874 cấp ngày 15/7/1997;
Lý do hủy: Quyết định số 762/QĐ-UBND ngày 01/6/2015 của Chủ tịch UBND huyện Đ có sai sót về chủ thể và nội dung ban hành Quyết định theo quy định...”.
Vụ việc dừng lại từ đó đến nay. Do đó, UBND huyện Đ đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật. UBND huyện chỉ đồng ý hủy giấy CNQSDĐ số K 348874 ngày 15/7/1997 đã cấp cho ông V1 Chóc Nàm đối với thửa số 34, tờ bản đồ số 20 xã P với diện tích 3.006m² khi có Quyết định hoặc bản án giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai yêu cầu.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã căn cứ: Khoản Điều 26; Điều 34; khoản 1 Điều 37; Điều 227; Điều 288; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 129, Điều 357, Điều 468 Bộ Luật dân sự; Điều 166, 203 và 204 Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông V1 Chóc Nàm đối với bị đơn bà Đặng Thị X và ông Trần Quang H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân H2 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Quang H đối với nguyên đơn ông Vày Chóc N4 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân H2 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Hủy hợp đồng CNQSD đất giữa ông N4 với ông H2 đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ địa chính số 20 (cũ) xã P; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K348874 ngày 15/7/1997 được UBND huyện Đ cấp cho ông V1 Chóc Nàm đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ 20, diện tích 3.006m²; ông H được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 2.469,9m² theo bản đồ mới là một phần của thửa đất số 221, tờ bản đồ số 30 xã P được giới hạn bởi các mốc (21, 22, 1, 2, 3, 4, 5, b, 12', 13, d, e, 17', f, g, h, 21) theo trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1703/2023 ngày 28/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật ông H có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký lại quyền sử dụng đất và xin cấp giấy CNQSD đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí và dành quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 29/8/2023, nguyên đơn ông Vày Chóc N4 có đơn kháng cáo không đồng ý quyết định bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Trần Hoàng M người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vày Chóc N4 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý quyết định án sơ thẩm như trong đơn trình bày, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, xử chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Phía bị đơn có ông Trần Quang H, bà Nguyễn Ái N1 cho rằng nhưng lời trình bày của nguyên đơn cũng giống như ở cấp sơ thẩm, nên đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định án sơ thẩm.
Các đương sự cũng không có cung cấp hay bổ sung thêm chứng cứ gì mới, và cũng không có thỏa thuận gì với nhau, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát cũng phân tích các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Vày Chóc N4 cho rằng, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự xử bác yêu cầu kháng cáo nguyên đơn ông Vày Chóc N4, giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông V1 Chóc Nàm trong hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Vày Chóc N4, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Xét nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất số 34, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.006m² (Theo bản đồ mới là một phần của thửa đất số 221, tờ bản đồ số 30 xã P được giới hạn bởi các mốc (21, 22, 1, 2, 3, 4, 5, b, 12', 13, d, e, 17', f, g, h, 21) theo trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1703/2023 ngày 28/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ) đang tranh chấp, nguyên đơn cho rằng nhận sang nhượng từ ông Trần Thanh V; bị đơn bà Đặng Thị X cho rằng bà khai phá sử dụng trước năm 1980 đến năm 2007 sang nhượng lại cho ông Trần Quang H, ông H tiếp tục sử dụng từ đó cho đến nay.
- Tại biên bản làm việc ngày 26/02/2008 ông Vày Chóc N4 trình bày năm 1995 ông có nhận chuyển nhượng đất của ông Trần Thanh V nhưng không có thửa 34, còn khi bán cho ông Trần Xuân H2 thì căn cứ theo diện tích đất trên GCNQSD đất (bút lục số 265).
- Tại Công văn số 33/BC.TTr ngày 06/7/2009 của Thanh tra Huyện Đ, kết luận: Giấy CNQSD đất số K348874 do UBND huyện cấp cho ông V1 Chóc Nàm ngày 15/71997 có một phần diện tích chưa đúng đối tượng sử dụng đất, cụ thể là tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 20 lập năm 1996, diện tích 3.006m² (nay nằm trong thửa đo bao số 205, tờ bản đồ số 30 lập năm 2000 DT 14.832m²) vì ông V1 Chóc Nàm thừa nhận do đăng ký nhầm thửa đất, bản thân ông N4 và gia đình ông không có canh tác, sử dụng trên thửa đất số 34, tờ bản đồ số 20, khi sang nhượng (chỉ ranh đất) cho ông H2 cũng không có thửa đất này; Quá trình hội đồng xét duyệt cấp GCNQSD đất xã P đã không kiểm tra kỹ thực địa nên đề nghị huyện cấp cho ông N4 là chưa chính xác; trên thực tế diện tích đất ông H2 đang khiếu nại do bà Đặng Thị X khai phá và sử dụng trước năm 1993 không có ai tranh chấp, đến năm 2007 thì bà X bán cho ông Trần Quang H (bút lục 235).
- Tại bản báo cáo số 37/BC-TNMT ngày 08/5/2009 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ, kết luận: Thửa đất số 34 nêu trên do bà Đặng Thị X khai phá, sử dụng từ trước năm 1980 đến năm 2007 sang nhượng lại cho ông Trần Quang H và hiện nay ông H đang sử dụng. Ông Vày Chóc N4 là người được quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất 34, tờ bản đồ 20 nêu trên nhưng ông N4 xác định là thửa đất này thực tế không thuộc sở hữu của ông N4, ông N4 thừa nhận trong quá trình đăng ký ông đã đăng ký nhầm nhưng do không chú ý nên không phát hiện xin điều chỉnh (bút lục 260, 261).
- Xét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V1 Chóc Nàm đối với thửa đất đang tranh chấp:
- Ngày 20/4/2002, ông N4 lập giấy chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K348874 ngày 15/7/1997 cho ông Trần Xuân H2 trong đó thửa đất số 34 đang tranh chấp. Như nhận định ở mục [2.1], [2.2] thì thửa đất số 34, tờ bản đồ 20 cấp sai đối tượng sử dụng đất nên cần Hủy hợp đồng CNQSD đất giữa ông N4 với ông H2 đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ địa chính số 20 (cũ) xã P.
- Từ những phân tích trên, việc ông Vày C1 Nàm khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng thửa đất số 34, bản đồ địa chính số 20 (cũ) diện tích 3.006m², nay theo bản đồ mới là một phần của thửa đất số 221, tờ bản đồ số 30 xã P, huyện Đ với ông H, bà X là không có căn cứ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Hoàng M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vày Chóc N4 kháng cáo nhưng cũng không có cung cấp tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở chấp nhận. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Các phần khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn ông Vày Chóc N4 phải chịu án phí phúc thẩm.
Tại biên bản làm việc ngày 05/3/2009 ông N4 khai “Thực tế tôi chỉ sử dụng trên phần đất mà tôi mua lại của ông V, còn thửa 34 tôi không canh tác cũng không biết là đất của ai”, còn ông Vày C1 Khìn người hùm tiền với ông N4 mua đất của ông V khai “Thực tế thửa 34 không nằm trong khu đất mua lại của ông V và cũng không canh tác trên thửa đất đó, thửa đất đó không phải của tôi và ông N4" (bút lục 264).
Ngoài ra, tại Bản ý kiến ngày 22/4/2022 của ông Trần Thành V2 (người bán đất cho ông N4) trình bày “Thửa đất số 34 bản đồ địa chính số 20 (cũ) diện tích 3.006m², nay thuộc thửa số 205, tờ bản đồ số 30, tại xã P không thuộc quyền sở hữu của tôi, vì khu đất tôi bán cho ông V1 Chóc Nàm là giáp ranh với thửa đất 34 của bà Đặng Thị X và thửa đất 34 thuộc quyền sở hữu, quản lý và sử dụng của bà X, do bà khai hoang canh tác” (bút lục 431).
Từ những căn cứ trên, có thể khẳng định thửa đất số 34 nêu trên không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông N4, mà do bà Đặng Thị X khai phá, sử dụng từ trước năm 1980 đến năm 2007 sang nhượng lại cho ông Trần Quang H, ông H tiếp tục sử dụng từ đó cho đến nay. Tòa án cấp sơ thẩm công nhận cho ông H được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 2.469,9m² theo bản đồ mới là một phần của thửa đất số 221, tờ bản đồ số 30 xã P được giới hạn bởi các mốc (21, 22, 1, 2, 3, 4, 5, b, 12', 13, d, e, 17', f, g, h, 21) theo trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1703/2023 ngày 28/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ là có căn cứ.
Căn cứ phân tích ở mục [2.1] và trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa ông N4 với ông H đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ số 20 lập năm 1996, diện tích 3.006m² thì ngày 13/11/2009, UBND huyện Đ ban hành Quyết định 1852/QĐ-UBND về việc thu hồi giấy CNQSDĐ cấp cho ông V1 Chóc Nàm do chưa đúng đối tượng sử dụng đất sử dụng đất. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K348874 ngày 15/7/1997 được UBND huyện Đ cấp cho ông V1 Chóc Nàm đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ 20, diện tích 3.006m² là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Vày C1 Nàm
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ khoản Điều 26; Điều 34; khoản 1 Điều 37; Điều 227; Điều 288; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 129, Điều 357, Điều 468 Bộ Luật dân sự; Điều 166, 203 và 204 Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông V1 Chóc Nàm đối với bị đơn bà Đặng Thị X và ông Trần Quang H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân H2 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Quang H đối với nguyên đơn ông Vày Chóc N4 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân H2 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Vày Chóc N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 002059 ngày 19/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Như vậy, ông N đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
- Các phần khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Hủy hợp đồng CNQSD đất giữa ông N4 với ông H2 đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ địa chính số 20 (cũ) xã P; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K348874 ngày 15/7/1997 được UBND huyện Đ cấp cho ông V1 Chóc Nàm đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ 20, diện tích 3.006m²; ông H được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 2.469,9m² theo bản đồ mới là một phần của thửa đất số 221, tờ bản đồ số 30 xã P được giới hạn bởi các mốc (21, 22, 1, 2, 3, 4, 5, b, 12', 13, d, e, 17', f, g, h, 21) theo trích lục và đo vẽ hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 1703/2023 ngày 28/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật ông H có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký lại quyền sử dụng đất và xin cấp giấy CNQSD đất theo quy định của pháp luật
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Mười |
Bản án số 519/2024/DS-PT ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 519/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
