Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 518/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 9 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
  2. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Bà Đinh Thị Thu Mùi – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 470/2024/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 570/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm: 1985, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A B, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Nhà T, Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Có chồng là Huỳnh Cao L, sinh năm 1980.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

  • Bản án số 182/2016/HSST ngày 15/6/2026 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù và án phí;
  • Bản án số 47/2017/HSST ngày 03/3/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/4/2018. Chấp hành xong hình phạt và án phí;
  • Bản án số 154/2018/HSST ngày 06/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/9/2020. Chấp hành xong hình phạt và án phí;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/3/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Đoàn Thị Kiều L1, sinh năm 2003;

Địa chỉ: Số B, đường D, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 20/02/2024, Nguyễn Thị Thùy T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ đen, BS: 59C1-517.74 đến Trung tâm thương mại V, số A, V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi ngang qua cửa hàng G, tại Lô B, tầng B1 của trung tâm thương mại, T phát hiện không có nhân viên trông coi cửa hàng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đi vào bên trong cửa hàng, lén lút kéo mở ngăn tủ quầy tính tiền lấy trộm được 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12 Promax, T bỏ điện thoại vào túi áo khoác bên phải rồi xuống lấy xe. Trên đường đi, thấy điện thoại đổ chuông có cuộc gọi đến, sợ bị phát hiện nên T tắt nguồn điện thoại rồi tháo vứt bỏ sim. Sau đó, T điều khiển xe đến cửa hàng điện thoại di động Apple Gold tại địa chỉ C đường Đ, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh gặp chị Phạm Ngọc C là chủ tiệm, T nói với chị C mình nhặt được điện thoại này không biết của ai, điện thoại bị dính mật khẩu nên T muốn bán. Chị C kiểm tra điện thoại và đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T điều khiển xe rời đi, số tiền bán điện thoại trên T đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, nhân viên cửa hàng G là chị Đoàn Thị Kiều L2 đã kiểm tra lại Camera và phát hiện sự việc như trên nên đến Công an phường T trình báo sự việc.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Thị Thùy T thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 25-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12 Promax, màu vàng dung lượng 128GB, hàng LL/A đã qua sử dụng trị giá 11.333.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 xác điện thoại Iphone 12 Promax đã qua sử dụng đã bị tháo màn hình, bộ camera sau và khay đựng sim.
  • 01 xe Honda hiệu Wave RSX BS 59C1- 517.74, số khung: RLHJA3123EY017564, số máy: JA31E0102753. Kết quả xác minh xe trên của bà Nguyễn Thị H (mẹ ruột của T) đứng tên, bà H cho T mượn xe sử dụng làm phương tiện đi lại, việc T sử dụng xe trên đi thực hiện hành vi phạm tội bà H không biết. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe trên cho bà H (BL113).

Trách nhiệm dân sự: chị Đoàn Thị Kiều L1 yêu cầu bồi thường số tiền 11.333.000 đồng, chị Phạm Ngọc C không có yêu cầu gì.

Tại Cáo trạng số: 456/CT-VKSTPTĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Thị Thùy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tới 02 (hai) năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2024.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có cơ hội tái hòa nhập, trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, bản ảnh, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 20/02/2024, tại cửa hàng G, tại Lô B- K7B, tầng B1 trung tâm thương mại V, số A, V, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Thùy T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12 Promax, màu vàng dung lượng 128GB, trị giá 11.333.000 đồng của chị Đoàn Thị Kiều L2.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 11.333.000 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 11.333.000 đồng nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản, không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 xác điện thoại Iphone 12 Promax đã qua sử dụng đã bị tháo màn hình, bộ camera sau và khay đựng sim, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
  • Đối với 01 xe Honda hiệu Wave RSX BS 59C1- 517.74, số khung: RLHJA3123EY017564, số máy: JA31E0102753. Kết quả xác minh xe trên của bà Nguyễn Thị H (mẹ ruột của T) đứng tên, bà H cho T mượn xe sử dụng làm phương tiện đi lại, việc T sử dụng xe trên đi thực hiện hành vi phạm tội bà H không biết. Ngày 11/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe trên cho bà H là có căn cứ.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Đoàn Thị Kiều L2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Thùy T bồi thường số tiền 11.333.000đồng. Xét, tài sản bị lấy trộm là điện thoại Iphone 12 Promax, màu vàng, dung lượng 128GB, số IMEI 353167667736599 là tài sản hợp pháp do chị L2 quản lý đã bị tháo bán màn hình, linh kiện, chỉ có vỏ xác điện thoại không thể sử dụng được. Tại bản kết luận định giá tài sản số 25-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thành phố T đã xác định giá trị của điện thoại nêu trên là 11.333.000đồng, do đó có căn cứ buộc Nguyễn Thị Thùy T phải trả cho chị L2 giá trị của chiếc điện thoại Iphone 12 Promax nêu trên là 11.333.000đồng.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2024.

  3. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 587 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

    Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy T bồi thường cho cho chị Đoàn Thị Kiều L2 số tiền 11.333.000đồng, bồi thường một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 xác điện thoại Iphone 12 Promax đã qua sử dụng đã bị tháo màn hình, bộ camera sau và khay đựng sim;
    • (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 254/QĐ-VKS ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK24/333C ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 566.650 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • - Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 518/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 518/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 20/02/2024, tại cửa hàng G, tại Lô B1- K7B, tầng B1 trung tâm thương mại Vincom Mega Mall, số 161, đường V, khu phố 1, phường T, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Thùy T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 12 Promax, màu vàng dung lượng 128GB, trị giá 11.333.000 đồng của chị Đoàn Thị Kiều L.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger