Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 518/2024/DS-PT

Ngày 11-7-2024

V/v Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và

huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thanh Duyên
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Văn Tửu
bà Lê Thị Tuyết Trinh

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 166/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 03 năm 2024.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2023/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1915/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1980; (vắng mặt);

Địa chỉ: Số H, đường P, Phường B, Quận A, Tp ..

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Việt Q, sinh năm 1985

Địa chỉ: Khóm B, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (có mặt);

- Bị đơn: Ông Quách Tùng C, sinh năm 1965; (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu

Người đại diện theo uỷ quyền cho bị đơn: Bà Lê Ngọc N, sinh năm 1981. (có mặt);

Địa chỉ: Số A đường H, Phường C, thành phố B, Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Ngô Xuân Đ, sinh năm 1958; (vắng mặt);
  2. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1955; (vắng mặt);
  3. Chị Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1978; (vắng mặt);
  4. Chị Nguyễn Xuân L, sinh năm 1981; (vắng mặt);
  5. Anh Nguyễn Tấn M, sinh năm 1983. (vắng mặt);
    Cùng địa chỉ: Số D G, M, Ontario L, Canada.
  6. Người đại diện theo uỷ quyền của bà Đ, ông T1, chị T2, chị L, anh M: Ông Nguyễn Anh T3, sinh năm 1976 (có mặt);

    Địa chỉ: Số nhà H đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản công chứng số 186, 187, 188, 189, 190 quyển sổ 01/HĐUQ ngày 17/4/2023 được Đ1 tại Canada chứng nhận)

  7. Ông Nguyễn Anh T3, sinh năm 1976; (có mặt);
  8. Bà Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1977; (có mặt);
    Cùng địa chỉ: Số nhà H đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  9. Bà Trương Thị Ngọc D, sinh năm 1963; (vắng mặt);
  10. Anh Quách Duy K, sinh năm 1987; (vắng mặt);
  11. Chị Trần Thị Tường V, sinh năm 1990; (vắng mặt);
    Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
  12. Cháu Quách Ngọc Như Q1, sinh năm 2019 (vắng mặt);
  13. Người đại diện hợp pháp của cháu Q1: Anh Quách Duy K, sinh năm 1987 và chị Trần Thị Tường V, sinh năm 1990 (là cha mẹ của cháu Q1). (vắng mặt);

    Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

  14. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1977; (vắng mặt);
  15. Ông Ngô Minh C1, sinh năm 1967; (vắng mặt);
    Cùng địa chỉ: ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
  16. Ông La Văn S; (vắng mặt);
    Địa chỉ: Khóm H, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
  17. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B
    Địa chỉ: Số G, đường L, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
  18. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bình T5, chức vụ: Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B. (vắng mặt);

  19. Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
    Địa chỉ: Số A, đường T, Khóm D, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
  20. Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Kim T6, chức vụ, Chủ tịch UBND thành phố B (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và Huỳnh Thị T là bà Nguyễn Việt Q trình bày:

Vào năm 2021, bà Huỳnh Thị T có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Anh T3 và vợ là bà Huỳnh Ngọc H để nhận chuyển nhượng diện tích đất 17.426,2m² (theo đo đạc thực tế là 17.544,3m²), đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Sau khi thủ tục chuyển nhượng hoàn tất, bà T được Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã chuyển nhượng, cụ thể như sau:

  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 807762, diện tích 2.284,1m², thuộc thửa số 1254, tờ bản đồ số 5, Sở T cấp ngày 26/7/2021;
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 807763, diện tích 14,510,5m², thuộc thửa số 1255, tờ bản đồ số 5; Sở T cấp ngày 26/7/2021;
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 384385, diện tích 183,4 m², thuộc thửa số 1265, tờ bản đồ số 5, Sở T cấp ngày 26/11/2021;
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 384384, diện tích 177,5 m², thuộc thửa số 1264, tờ bản đồ số 5; Sở T cấp ngày 26/11/2021;
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 384383, diện tích 171,8 m², thuộc thửa số 1263, tờ bản đồ số 5; Sở T cấp ngày 26/11/2021;
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 384382, diện tích 138,9 m², thuộc thửa số 1262, tờ bản đồ số 5; Sở T cấp ngày 26/11/2021.

Trong quá trình chuyển nhượng đất, bà T có đi khảo sát đất được ông T3 bà H cho biết nguồn gốc đất chuyển nhượng trước đây là của cha mẹ ông T3 là bà Ngô Xuân Đ và ông Nguyễn Văn T1 trước khi đi Canada định cư đã tặng cho lại ông T3 và bà H, phần đất chuyển nhượng là đất trống; trên đất chỉ có 01 căn nhà do ông Quách Tùng C quản lý. Ông T3, bà H xác định căn nhà trước đây là của bà Đ giao cho ông C mượn ở mục đích để quản lý, đất đồng thời giao cho bà T Tờ cam kết của ông Quách Tùng C viết vào ngày 18/9/1991 nội dung mượn đất của bà Đ. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, phía gia đình bà T đã liên hệ gặp ông C đề nghị giao trả đất trước đây đã mượn thì ông C không đồng ý và cho rằng đất này là của ông đồng thời chiếm giữ toàn bộ phần đất bà T đã nhận chuyển nhượng từ ông T3 bà H. Do vậy, từ khi nhận chuyển nhượng đất đến nay bà T chưa nhận được phần đất đã chuyển nhượng hợp pháp từ ông T3 và bà H gây thiệt thòi quyền và lợi ích hợp pháp của bà T.

Vào ngày 11/8/2022, bà T đã có đơn gửi Ủy ban nhân dân xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để hòa giải cơ sở, yêu cầu ông Quách Tùng C phải tháo dỡ toàn bộ tài sản của ông gắn liền trên diện tích đất 17.544,3m² để trả cho bà T toàn bộ diện tích đất 17.544,3m² thuộc các thửa đất số 1254, 1255, 1262, 1263, 1264, 1265 tờ bản đồ số 5, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Đến ngày 20/10/2022, Ủy ban nhân dân xã V đã tiến hành hòa giải vụ việc nêu trên, phía ông C không đồng ý trả đất cho bà T.

Nay, bà T yêu cầu ông C phải giao trả lại toàn bộ diện tích đất theo đo đạc thực tế là 17.544,3m² thuộc các thửa 1254, 1255, 1262, 1263, 1264, 1265, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu đồng thời di dời các tài sản của ông C trên đất để giao trả lại đất cho bà T theo đúng tinh thần ông đã thỏa thuận tại tờ cam kết của ông Quách Tùng C tự viết vào ngày 18/9/1991. Bà T không đồng ý yêu cầu của ông Quách Tùng C về việc hủy toàn bộ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà T

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Quách Tùng C là bà Nguyễn Ngọc N1 trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là do ông Quách Tùng C khai phá quản lý, sử dụng từ năm 1989 đến nay. Ngoài phần đất tranh chấp ông C không còn quản lý, sử dụng phần đất nào khác. Ông C chưa đăng ký kê khai để cấp quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp nêu trên. Ông C không có tài liệu chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất do ông C khai phá cũng như quá trình sử dụng đất của ông. Ông C không đồng ý yêu cầu đòi đất của bà Huỳnh Thị T. Ông C2 yêu cầu Tòa án xem xét hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở T cấp cho bà Huỳnh Thị T đối với phần đất tranh chấp nêu trên thuộc các thửa 1254, 1255, 1262, 1263, 1264, 1265, tờ bản đồ số 5, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T3 và bà Huỳnh Ngọc H, ông Nguyễn Anh T3 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Xuân Đ, ông Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Xuân T2, chị Nguyễn Xuân L, anh Nguyễn Tấn M thống nhất trình bày:

Toàn bộ phần đất tranh chấp có diện tích theo đo đạc thực tế 17.544,3m² thuộc các thửa đất số 1254, 1255, 1262, 1263, 1264, 1265, tờ bản đồ số 05, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu có nguồn gốc là của ông bà ngoại để lại cho cha mẹ ông là ông Nguyễn Văn T1 và bà Ngô Xuân Đ. Cha mẹ ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 12/02/2004.

Cha mẹ ông có 04 người con gồm: Nguyễn Anh T3, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Xuân L, Nguyễn Tấn M. Trong đó, Nguyễn Xuân T2 đi Canada định cư vào năm 2000, Nguyễn Xuân L đi Canada định cư vào năm 2002. Sau đó, do cha mẹ ông đi nước ngoài định cư nên đã lập Tờ cho đất với nội dung là cha mẹ ông cho Nguyễn Anh T3 và con dâu Huỳnh Ngọc H được toàn quyền quản lý sử dụng, định đoạt toàn bộ diện tích đất trên. Lúc này Nguyễn Tấn M còn ở Việt Nam nên đã ký tên vào Tờ cho đất nêu trên.

Đến ngày 16/8/2006, vợ chồng ông đã được Ủy ban nhân dân thị xã B (nay thành phố B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, vợ chồng ông đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất trên cho bà Huỳnh Thị T với giá hơn 5 tỷ đồng, việc nhận chuyển nhượng của bà T là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật.

Trước đây toàn bộ phần đất này là do ông bà ngoại ông là cụ Ngô Kim C3 và cụ Ong Thị N2 quản lý sử dụng, trên đất có căn nhà tol thiếc (đúng với vị trí đất căn nhà ông C đang ở), sau khi ông bà ngoại ông đi nước ngoài thì cho lại mẹ ông, mẹ ông và hai người em gái trực tiếp quản lý sử dụng phần đất này đến năm 1991 thì về lại Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Thời điểm này do ông Quách Tùng C không chỗ ở, lại là người Hoa giống nhau nên gia đình của ông cho ông C ở trên đất nhà ông. Tuy nhiên, do lo sợ sau này khó khăn trong việc lấy lại tài sản nên cha mẹ ông có yêu cầu ông Quách Tùng C tự viết và ký tên vào Tờ cam kết là ông C được bà Ngô Xuân Đ giao cai quản một căn nhà và một số đất. Khi nào mẹ ông thấy cần thiết muốn sử dụng căn nhà và đất trên thì ông C2 sẽ trả lại lại đầy đủ. Tờ cam kết để ngày 18/9/1991. Hiện nay, ông C chiếm luôn cả phần đất mượn của nhà ông trong khi nguồn gốc đất giấy tờ hợp pháp.

Vợ chồng ông đã chuyển nhượng toàn bộ phần đất cho bà Huỳnh Thị T. Vì vậy, vợ chồng ông yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị T, buộc ông Quách Tùng C tháo dỡ toàn bộ tài sản trả lại toàn bộ diện tích đất trên theo yêu cầu của bà T, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Huỳnh Thị T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Minh C1 trình bày:

Nguồn gốc đất là của cụ Ngô Kim C3 cho ông mượn quản lý sử dụng, cái đìa cụ C3 thuê người đào, nhưng không sử dụng nên cho ông mượn để nuôi cá, khi nào cụ C3 có nhu cầu lấy đất lại thì ông trả. Đối với cái ao ông đang quản lý sử dụng trong trường hợp Tòa án giao trả về cho ai thì ông đồng ý giao trả. Ông không yêu cầu độc lập trong vụ án này, tuy nhiên ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết công sức quản lý đất theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T4 trình bày:

Nguồn gốc đất là của cụ Ngô Kim C3 cho ông mượn quản lý sử dụng, trước đây là đất ruộng; trong quá trình quản lý sử dụng ông có cải tạo đào 01 cái ao, phần đất còn lại lên rẫy trồng hoa màu cho đến hiện nay. Đối với phần đất ông đang quản lý, sử dụng trong trường hợp Tòa án giao trả về cho ai thì ông đồng ý giao trả. Ông không yêu cầu độc lập trong vụ án này, tuy nhiên ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết công sức quản lý, tôn tạo đất cho ông theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Ngọc D (vợ ông C2), anh Quách Duy K (con ông C) và chị Trần Thị Tường V (con dâu ông C); anh Quách Duy K và chị Trần Thị Tường V đồng thời là người đại diện hợp pháp cho cháu Quách Ngọc N3 Q trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của ông Quách Tùng C4, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị T vì toàn bộ diện tích đất 17.544,3m² đang tranh chấp là của gia đình ông C khai phá và đã quản lý, sử dụng ổn định từ trước năm 1989 đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông La Văn S trình bày:

Hiện nay, ông đang thuê một phần phía trước căn nhà của ông Quách Tùng C để bán đá hoa cương. Nay phần đất ông đang thuê ông C xảy ra tranh chấp với bà T, nếu Tòa tuyên phần đất này của ai thì ông sẽ thỏa thuận với người đó về việc tiếp tục thuê hoặc chấm dứt việc thuê này, ông đều đồng ý và không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, người đại diện theo pháp luật bà Lê Kim T7 trình bày ý kiên tại Công văn số 2913/UBND-NC ngày 05/5/2023 (Bút lục số 359) và Công văn số 1243/UBND-NC ngày 19/6/2023 (Bút lục số 439):

Về trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 048596 ngày 12/02/2004 cho hộ bà Ngô Xuân Đ với tổng diện tích 17.306m² thuộc các thửa 458, 460, 462 và 864, tờ bản đồ số 07, địa chỉ đất tại xã V, thị xã B (nay thành phố B), tỉnh Bạc Liêu; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 278308 cho anh Nguyễn Anh T3 và vợ là Huỳnh Ngọc H với tổng diện tích 17.306m² thuộc 864, tờ bản đồ số 07, địa chỉ đất tại xã V, thị xã B (nay thành phố B), tỉnh Bạc Liêu là cấp đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp Luật đất đai năm 1993 và năm 2003 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001 và Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của T8 (nay là Bộ T9) về hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B, người địa diện theo pháp luật ông Nguyễn Bình T5 trình bày ý kiến tại Công văn số 336/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 14/02/2023 (Bút lục 268):

Qua kiểm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất số 1226, tờ bản đồ số 05, diện tích 17.466,2m² thuộc quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị T được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số DA 864928 ngày 18/5/2021. Đến ngày 26/7/2021, bà Huỳnh Thị T lập hồ sơ đề nghị tách thửa đất số 1226 thành các thửa đất số 1253, diện tích 671,6m²; thửa đất số 1254, diện tích 2.284,1m²; thửa đất số 1255, diện tích 14,510,5m² cùng tờ bản đồ số 05. Đối với thửa đất số 1253, diện tích 671,6m² thì ngày 26/11/2021 bà Huỳnh Thị T tiếp tục lập hồ sơ đề nghị tách thửa đất 1253 thành các thửa đất số 1262, diện tích 138,9m²; thửa đất số 1263, diện tích 171,8m²; thửa đất số 1264, diện tích 177,5m²; thửa đất số 1265, diện tích 183,4m².

Trình tự, thủ tục thực hiện đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, căn cứ pháp lý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013; về thành phần hồ sơ thực hiện đúng theo khoản 11 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 và khoản 1 Điều 2 Thông tư số 09/2021/TT-BTNMT ngày 30/6/2021 về sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Việc ông Quách Tùng C yêu cầu khởi kiện hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà T nêu trên, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B không có ý kiến. Đề nghị Tòa án xét xử theo quy định.

Tại Bản án số 31/2023/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, Điều 101, Điều 104, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 259, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 32, khoản 1 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 166 Bộ luật Dân sự, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị T về việc yêu cầu ông Quách Tùng C4 giao trả diện tích đất theo đo đạc thực tế 17.544,3m² thuộc các thửa 1262, 1263, 1264, 1265, 1254 và 1255, cũng tờ bản đồ số 05, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Buộc ông Quách Tùng C, bà Trương Thị Ngọc D, anh Quách Duy K, chị Trần Thị Tường V và cháu Quách Ngọc Như Q1 có nghĩa vụ giao trả cho bà Huỳnh Thị T tổng diện tích đất 13.403,4m² thuộc các thửa đất số đất số 1262, 1263, 1264, 1265, 1254 và 1255 tờ bản đồ số 05, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Cụ thể:
    • Thửa đất số 1262 có diện tích 139,4m² (trong đó 27,5m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường liên Tỉnh lộ 38) có số đo như sau:

      Hướng Đông giáp thửa 1263 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 22,74m;

      Hướng Tây giáp phần đất ông Lê Văn H1 có số đo 5,50m + 21,98m;

      Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh C1 có số đo 5,04m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 5,0m.

    • Thửa đất số 1263 có diện tích 172,2m² (trong đó 33,0m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường liên Tỉnh lộ 38) có số đo như sau:

      Hướng Đông giáp thửa 1264 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 23,66m;

      Hướng Tây giáp thửa 1262 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 22,74m;

      Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh C1 có số đo 6,05m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 6,0m;

    • Thửa đất số 1264 có diện tích 177,8m² (trong đó 33,0m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường liên Tỉnh lộ 38) có số đo như sau:

      Hướng Đông giáp thửa 1265 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 24,57m;

      Hướng Tây giáp thửa 1263 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 23,66m;

      Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh C1 có số đo 6,05m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 6,0m;

    • Thửa đất số 1265 có diện tích 183,6m² (trong đó 34,0m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường liên Tỉnh lộ 38) có số đo như sau:

      Hướng Đông giáp thửa 1254 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 25,48m;

      Hướng Tây giáp thửa 1264 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 24,57m;

      Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh C1 có số đo 5,86m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 6,21m.

    • Thửa đất số 1254 có diện tích 931m² (trong đó 154,0m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường liên Tỉnh lộ 38) có số đo như sau:

      Hướng Đông giáp thừa 1255 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 30,03m;

      Hướng Tây giáp thửa 1265 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 25,48m;

      Hướng Nam giáp phần đất tranh chấp thuộc thửa 1254 còn lại, có số đo 28,25m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 28,0m.

    • Thửa đất số 1255 có diện tích 11.799,4m² (trong đó 411,1m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường liên Tỉnh lộ đo như sau:

      Hướng Đông giáp phần đất bà Đặng Thị H2 có số đo 5,50m + 30,01m + 117,87m;

      Hướng Tây giáp thửa 1254 (thửa đất đang tranh chấp), ông Ngô Minh H3, ông Ngô Minh P, ông Nguyễn Văn B có số đo 5,50m + 30,03m + 46,12m+ 108,97m;

      Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh H3 có số đo 7,45m + 72,0m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 74,69m;

  3. Buộc ông Quách Tùng C, bà Trương Thị Ngọc D, anh Quách Duy K, chị Trần Thị Tường V hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với căn nhà cho bà Huỳnh Thị T diện tích 197,5m² bằng số tiền 49.375.000 đồng (Bốn mươi chín triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)

    Ông C, bà Trương Thị Ngọc D, anh Quách Duy K, chị Trần Thị Tường V và cháu Quách Ngọc Như Q1 được quyền quản lý, sử dụng phần đất gắn liền với căn nhà diện tích 5m² có vị trí và số đo như sau:

    Hướng Đông giáp thửa đất số 1255 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 23,52m;

    Hướng Tây giáp thửa đất 1255 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 23,61m;

    Hướng Nam giáp thửa đất 1255 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 8,38m;

    Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 8,38m.

    Ông Quách Tùng C được quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng diện tích đất nêu trên theo quy định pháp luật.

  4. Buộc ông Ngô Minh C1 giao trả cho bà Huỳnh Thị T diện tích 1.353,2m² thuộc thửa đất số 1254 (là ao hiện trạng), tờ bản đồ số 05, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, có vị trí và số đo như sau:

    Hướng Đông giáp phần đất tranh chấp thuộc thửa 1255 có số đo 46,12m;

    Hướng Tây giáp phần đất ông Ngô Minh C1 sử dụng có số đo 50,43m;

    Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh H3 sử dụng có số đo 28,0m;

    Hướng Bắc giáp phần đất tranh chấp thuộc thửa 1254 còn lại, có số đo 28,25m.

  5. Buộc ông Nguyễn Văn T4 giao trả cho bà Huỳnh Thị T diện tích 2.590,2m² thuộc thửa đất số 1255, tờ bản đồ số 05, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, có vị trí và số đo như sau:

    Hướng Đông giáp thửa số 373, có số đo 36,0m;

    Hướng Tây giáp phần đất tranh chấp thuộc thửa 1255 còn lại, có số đo 36,0m;

    Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh H3 sử dụng, có số đo 72,0m;

    Hướng Bắc giáp phần đất tranh chấp thuộc thửa 1255 còn lại, có số đo 72,0m.

  6. Không chấp nhận yêu cầu của ông Quách Tùng C yêu cầu hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Huỳnh Thị T tổng diện tích theo đo đạc thực tế là 17.544,3m² thuộc các thửa 1262, 1263, 1264, 1265, 1254 và 1255 cùng tờ bản đồ số 05, địa chỉ đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
  7. Bà Huỳnh Thị T có trách nhiệm hoàn trả giá trị các cây trồng gồm: 03 cây dừa, 02 bụi chuối, 03 cây mít, 01 cây xoài, 01 cây cóc cho ông Quách Tùng C, bà Trương Thị Ngọc D, anh Quách Duy K, chị Trần Thị Tường V số tiền 5.040.000 đồng. Bà Huỳnh Thị T được sở hữu các cây trồng trên đất gồm: 03 cây dừa, 02 bụi chuối, 03 cây mít, 01 cây xoài, 01 cây cóc.
  8. Buộc ông Quách Tùng C, bà Trương Thị Ngọc D, anh Quách Duy K, chị Trần Thị Tường V, cháu Quách Ngọc N3 Q1 và ông La Văn S tháo dỡ mái che để trả đất cho bà Huỳnh Thị T. Cụ thể như sau:
    • Mái che thứ nhất có kết cấu khung sườn sắt họp, đòn tay sắt, mái tole lạnh diện tích 5,7m x 3,8m = 21,66m²
    • Mái che thứ ba có kết cấu khung sườn sắt họp, đòn tay sắt, mái tole lạnh diện tích 11m x 5,5m = 60,5m² (trong đó có 01 phòng nhỏ diện tích 2,7m x 3,7m)
    • Mái che thứ tư có kết cấu khung sườn sắt họp, đòn tay sắt, mái tole lạnh diện tích 11,02m x 0,9m = 9,918m²

    Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/8/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T3, bà Huỳnh Ngọc H kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, cụ thể người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc ông C phải giao toàn bộ diện tích đất qua đo đạc thực tế 17.455,3m² đất toạ lạc tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cho bà Huỳnh Thị T. Ông bà đồng ý hoàn giá trị căn nhà và tài sản gắn liền trên đất cho ông C theo quy định pháp luật.

Ngày 28/8/2023 nguyên đơn bà Huỳnh Thị T kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm, cụ thể nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc ông C và gia đình ông C phải giao trả cho bà T toàn bộ phần đất tranh chấp theo tinh thần ông C đã thoả thuận tài tờ cam kết của ông C tự viết vào ngày 18/9/1991.

Ngày 25/9/2023 bị đơn ông Quách Tùng C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, cụ thể ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện đại diện hợp pháp của bà T, đại diện hợp pháp của ông C, bà D, ông Nguyễn Anh T3, bà Huỳnh Ngọc H thống nhất thoả thuận với nhau, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thoả thuận của các bên như sau:

  • Bà Huỳnh Thị T đồng ý chuyển giao quyền sử dụng đất thửa số 1265, tờ bản đồ số 05, diện tích 183,4 m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/11/2021 (do bà T đứng tên QSDĐ) đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cho ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D.
  • Ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D, Quách Duy K, Trần Thị Tường V, Quách Ngọc Như Q1 đồng ý di dời toàn bộ tài sản, căn nhà, vật kiến trúc gắn liền với QSDĐ các thửa đất 1262, 1263, 1264, 1254, 1255, tờ bản đồ số 05, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để giao trả lại các thửa đất trên cho bà T. ( có sơ đồ đo đạc kèm theo)
  • Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, bà Huỳnh Thị T chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục gia hạn quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1265, tờ bản đồ số 05, diện tích 183,4 m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ngày 26/11/2021.
  • Khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho phép gia hạn quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1265, tờ bản đồ số 05, diện tích 183,4 m² bà Huỳnh Thị T thực hiện ngay thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D.
  • Sau khi ông Quách Tùng C, bà Trương Thị Ngọc D được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSDĐ thửa 1265 ông C, bà D chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
  • Ông Nguyễn Anh T3, bà Huỳnh Ngọc H đồng ý hỗ trợ cho ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D, Quách Duy K, Trần Thị Tường V, Quách Ngọc Như Q1 số tiền 1.100.000.000 đồng để gia đình ông C cất lại nhà mới.
  • Ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D, Quách Duy K, Trần Thị Tường V, Quách Ngọc Như Q1 được lưu cư thời hạn 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Tại cấp phúc thẩm, các bên đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội và không ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự khác. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị T, bị đơn ông Quách Tùng C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T3, bà Huỳnh Ngọc H nộp trong thời hạn quy định của pháp luật nên hợp lệ.

[2] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Huỳnh Thị T khởi kiện yêu cầu ông Quách Tùng C giao trả cho bà diện tích 17.544,3m² thuộc các thửa số 1254, 1255, 1262, 1263, 1264 và 1265 tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà T. Do vậy, Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại Điều 26, 34, 37, 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung:

[1] Về nguồn gốc đất tranh chấp:

[1.1] Qua các chứng cứ có trong hồ sơ có cơ sở khẳng định: nguồn gốc đất tranh chấp của cụ C3 và cụ N2 khai phá, sau đó hai cụ cho lại bà Ngô Xuân Đ, bà Đ cho lại con là Nguyễn Anh T3, Huỳnh Ngọc H; ông T3, bà H chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất tranh chấp cho bà T.

[1.2] Ông Quách Tùng C là người quản lý, sử dụng đất trên 30 năm, nhưng trên cơ sở bà Ngô Xuân Đ cho mượn ở, quản lý đất đai dùm bà Đ, khi nào cần thì trả lại. Điều này được thể hiện qua giấy cam kết do ông C viết vào năm 1991. Nên việc ông C khai đất do ông C khai phá là không có căn cứ chấp nhận.

[1.3] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Quách Tùng C, bà Trương Thị Ngọc D và những người đang cư trú cùng ông C là anh Quách Duy K, chị Trần Thị Tường V và cháu Quách Ngọc N3 Q1 có nghĩa vụ giao trả phần đất tranh chấp cho bà Huỳnh Thị T là có căn cứ.

[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, bà T, ông C, ông T3, bà H đều kháng cáo. Riêng hai phần đất Toà án cấp sơ thẩm xử buộc ông Ngô Minh C1, ông Nguyễn Văn T4 có nghĩa vụ giao trả cho bà T thì tất cả các đương sự đều không kháng cáo. Nên Hội đồng xét xử không xem xét đến 2 diện tích đất này.

[3] Tại phiên toà phúc thẩm đại diện hợp pháp của bà T, đại diện hợp pháp của ông C, bà D, ông Nguyễn Anh T3, bà Huỳnh Ngọc H thống nhất thoả thuận như sau:

  • Ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D và những người cùng cư ngụ là anh Quách Duy K, Trần Thị Tường V, Quách Ngọc N3 Q1 đồng ý di dời toàn bộ tài sản, căn nhà, vật kiến trúc gắn liền với QSDĐ các thửa đất 1262, 1263, 1264, 1254, 1255 và giao trả cả phần đất 197,5m² (mà Toà án cấp sơ thẩm giao cho ông C, bà D tiếp tục sử dụng) tại tờ bản đồ số 05, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để giao trả lại các thửa đất trên cho bà Huỳnh Thị T. (có sơ đồ đo đạc kèm theo)
  • Bà Huỳnh Thị T đồng ý chuyển giao quyền sử dụng đất thửa số 1265, tờ bản đồ số 05, diện tích 183,4 m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/11/2021 (do bà T đứng tên QSDĐ) đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cho ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D sử dụng.
  • Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, bà Huỳnh Thị T chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục gia hạn quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1265, tờ bản đồ số 05, diện tích 183,4 m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ngày 26/11/2021.
  • Khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho phép gia hạn quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1265, tờ bản đồ số 05, diện tích 183,4 m² bà Huỳnh Thị T thực hiện ngay thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D.
  • Sau khi ông Quách Tùng C, bà Trương Thị Ngọc D được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSDĐ thửa 1265 ông C, bà D chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
  • Ông Nguyễn Anh T3, bà Huỳnh Ngọc H chịu trách nhiệm hỗ trợ cho ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D, Quách Duy K, Trần Thị Tường V, Quách Ngọc Như Q1 số tiền 1.100.000.000 đồng để gia đình ông C xây lại nhà mới.
  • Ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D, Quách Duy K, Trần Thị Tường V, Quách Ngọc Như Q1 được lưu cư thời hạn 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Quách Tùng C phải chịu 300.000 đồng.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.

Căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự bà Huỳnh Thị T, ông Quách Tùng C, bà Trương Thị Ngọc D, ông Nguyễn Anh T3, bà Huỳnh Ngọc H như sau:
    • Ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D và những người cùng cư ngụ là anh Quách Duy K, Trần Thị Tường V, Quách Ngọc N3 Q1 đồng ý di dời toàn bộ tài sản, căn nhà, vật kiến trúc gắn liền với QSDĐ các thửa đất 1262, 1263, 1264, 1254, 1255 và cả phần đất 197,5 m² (mà Toà án cấp sơ thẩm giao cho ông C, bà D tiếp tục sử dụng) tại tờ bản đồ số 05, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để giao trả lại các thửa đất trên cho bà Huỳnh Thị T. (có sơ đồ đo đạc kèm theo)
    • Bà Huỳnh Thị T đồng ý chuyển giao quyền sử dụng đất thửa số 1265, tờ bản đồ số 05, diện tích 183,4 m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/11/2021 (do bà T đứng tên QSDĐ) đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu cho ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D sử dụng.
    • Sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, bà Huỳnh Thị T chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục gia hạn quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1265, tờ bản đồ số 05, diện tích 183,4 m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ngày 26/11/2021.
    • Khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho phép gia hạn quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1265, tờ bản đồ số 05, diện tích 183,4 m² bà T thực hiện ngay thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D.
    • Sau khi ông Quách Tùng C, bà Trương Thị Ngọc D được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSDĐ thửa 1265 trên ông C, bà D chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
    • Ông Nguyễn Anh T3, bà Huỳnh Ngọc H đồng ý hỗ trợ cho ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D, Quách Duy K, Trần Thị Tường V, Quách Ngọc Như Q1 số tiền 1.100.000.000 đồng để gia đình ông C cất lại nhà mới.
    • Ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D, Quách Duy K, Trần Thị Tường V, Quách Ngọc Như Q1 được lưu cư thời hạn 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    Số đo và tứ cận các thửa đất số đất số 1262, 1263, 1264, 1254 và 1255 tờ bản đồ số 05, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu mà ông/bà Quách Tùng C, Trương Thị Ngọc D và những người đang cư ngụ là Quách Duy K, Trần Thị Tường V, Quách Ngọc N3 Quỳnh đồng có trách nhiệm giao trả cho bà Huỳnh Thị T, cụ thể:

    • Thửa đất số 1262 có diện tích 139,4m² (trong đó 27,5m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường liên Tỉnh lộ 38) có số đo như sau:

      Hướng Đông giáp thửa 1263 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 22,74m;

      Hướng Tây giáp phần đất ông Lê Văn H1 có số đo 5,50m + 21,98m;

      Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh C1 có số đo 5,04m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 5,0m.

    • Thửa đất số 1263 có diện tích 172,2m² (trong đó 33,0m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường liên Tỉnh lộ 38) có số đo như sau:

      Hướng Đông giáp thửa 1264 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 23,66m;

      Hướng Tây giáp thửa 1262 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 22,74m;

      Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh C1 có số đo 6,05m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 6,0m;

    • Thửa đất số 1264 có diện tích 177,8m² (trong đó 33,0m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường liên Tỉnh lộ 38) có số đo như sau:

      Hướng Đông giáp thửa 1265 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 24,57m;

      Hướng Tây giáp thửa 1263 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 23,66m;

      Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh C1 có số đo 6,05m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 6,0m;

    • Thửa đất số 1254 có diện tích 931m² (trong đó 154,0m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường liên Tỉnh lộ 38) có số đo như sau:

      Hướng Đông giáp thừa 1255 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 30,03m;

      Hướng Tây giáp thửa 1265 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 5,50m + 25,48m;

      Hướng Nam giáp phần đất tranh chấp thuộc thửa 1254 còn lại, có số đo 28,25m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 28,0m.

    • Thửa đất số 1255 có diện tích 11.799,4m² (trong đó 411,1m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường liên Tỉnh lộ đo như sau:

      Hướng Đông giáp phần đất bà Đặng Thị H2 có số đo 5,50m + 30,01m + 117,87m;

      Hướng Tây giáp thửa 1254 (thửa đất đang tranh chấp), ông Ngô Minh H3, ông Ngô Minh P, ông Nguyễn Văn B có số đo 5,50m + 30,03m + 46,12m+ 108,97m;

      Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh H3 có số đo 7,45m + 72,0m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 74,69m;

    • Phần căn nhà gắn liền với diện tích 197,5 m² có vị trí và số đo như sau:

      Hướng Đông giáp thửa đất số 1255 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 23,52m;

      Hướng Tây giáp thửa đất 1255 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 23,61m;

      Hướng Nam giáp thửa đất 1255 (thửa đất đang tranh chấp) có số đo 8,38m;

      Hướng Bắc giáp đường liên Tỉnh lộ 38 có số đo 8,38m.

  2. Buộc ông Nguyễn Văn T4 giao trả cho bà Huỳnh Thị T diện tích 2.590,2m² thuộc thửa đất số 1255, tờ bản đồ số 05, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, có vị trí và số đo như sau:

    Hướng Đông giáp thửa số 373, có số đo 36,0m;

    Hướng Tây giáp phần đất tranh chấp thuộc thửa 1255 còn lại, có số đo 36,0m;

    Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh H3 sử dụng, có số đo 72,0m;

    Hướng Bắc giáp phần đất tranh chấp thuộc thửa 1255 còn lại, có số đo 72,0m.

  3. Buộc ông Ngô Minh C1 giao trả cho bà Huỳnh Thị T diện tích 1.353,2 m² thuộc thửa đất số 1254 (là ao hiện trạng), tờ bản đồ số 05, đất tại ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, có vị trí và số đo như sau:

    Hướng Đông giáp phần đất tranh chấp thuộc thửa số 1255, có số đo 46,12m;

    Hướng Tây giáp phần đất ông Ngô Minh C1 sử dụng, có số đo 50,43m;

    Hướng Nam giáp phần đất ông Ngô Minh H3 sử dụng, có số đo 28,0m;

    Hướng Bắc giáp phần đất tranh chấp thuộc thửa 1254 còn lại, có số đo 28,25m;

  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền là 21.637.061 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi mốt đồng). Bà T không phải chịu, bà T đã nộp đủ và đã chi phí hết nên buộc ông Quách Tùng C, bà Trương Thị Ngọc D, anh Quách Duy K, chị Trần Thị Tường V cùng có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà T số tiền 21.637.061 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn không trăm sáu mươi mốt đồng) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch:

    Bà Huỳnh Thị T không phải chịu. Bà T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000298 ngày 01/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.

    Ông Quách Tùng C phải chịu 300.000 đồng án phí. Ông C đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000242 ngày 05/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Huỳnh Thị T, bị đơn ông Quách Tùng C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T3, bà Huỳnh Ngọc H không phải chịu, được nhận lại theo các theo biên lai thu tạm ứng số 0000484, 0000485 ngày 21/8/2023, 0000489 ngày 31/8/2023 và 0000500 ngày 25/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu.
  7. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  8. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Tòa án nhân dân tối cao;
  • VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • Cục THADS tỉnh Bạc Liêu;
  • Đương sự
  • Lưu: VP, hồ sơ vụ án (TMH)

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Huỳnh Thanh Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 518/2024/DS-PT ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 518/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ghi nhận sử thoả thuận của các đương sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger