Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 518/2023/DS-PT

Ngày: 27/12/2023

V/v “Tranh chấp chia tài sản chung

của hộ và tranh chấp thừa kế về tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Thư

Nguyễn Thị Tuyết Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần thơ

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 và 27 tháng 12 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 473/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp chia tài sản chung của hộ và tranh chấp thừa kế về tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 138/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Cái Răng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 522A/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Văn H, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Số A khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ: Số D đường T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Phan Phát T, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Số A khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phan Văn Ử, sinh năm 1955.
  2. Địa chỉ: Số B khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

  3. Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1964.
  4. Địa chỉ: Số A đường H, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  5. Ông Phan Văn T1, sinh năm 1970.
  6. Địa chỉ: Ấp N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

  7. Ông Phan Văn H1, sinh năm 1974.
  8. Địa chỉ: Số B khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

  9. Phan Thị L, sinh năm 1967.
  10. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.

  11. Phan Thị S, sinh năm 1956.
  12. Địa chỉ: Số D khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

  13. Ông Phan Văn K, sinh năm 1949 (đã chết năm 2021), kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông K gồm có:
    • + Bà Đỗ Ngọc C, sinh năm 1958.
    • + Anh Phan Hồng P, sinh năm 1977.
    • + Anh Phan Hồng A, sinh năm 1979.
    • + Chị Phan Thị Kim N, sinh năm 1981.
    • + Chị Phan Thị Diễm T2, sinh năm 1987.
    • Cùng địa chỉ: Số A khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

    • + Anh Phan Hồng T3, sinh năm 1983.
    • Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

    • + Chị Phan Thị Mộng V, sinh năm 1985.
    • Địa chỉ: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

  14. Ông Phan Văn D, sinh năm 1984.
  15. Địa chỉ: Số B khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

  16. Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1976.
  17. Anh Phan Hồng P1, sinh năm 2000.
  18. Chị Phan Thị Huyền T4, sinh năm 2004.
  19. Cùng địa chỉ: Số A khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

  20. Võ Thị P2, sinh năm 1981.
  21. Địa chỉ: Số A khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

  22. Ban Quản lý Dự án và Phát triển quỹ đất quận C.
  23. Địa chỉ: Số A đường M, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

  24. Ủy ban nhân dân quận C.
  25. Địa chỉ: Khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Sinh thời cha mẹ ruột của ông là cụ Phan Văn H2 (mất năm 1985) và cụ Tạ Thị B (mất năm 2005). Cụ H2, cụ B có 09 (chín) người con là: Phan Văn Đ, Phan Thị L, Phan Văn T1, Phan Văn H, Phan Văn H1, Phan Phát T, Phan Văn Ử, Phan Thị S, Phan Văn K (chết năm 2021). Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000021, cấp ngày 14/4/1997, của các thửa đất số 450, 466, 467, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc tại khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ, hộ bà Tạ Thị B gồm 07 (bảy) thành viên gồm: Tạ Thị B, Phan Văn Đ, Phan Thị L, Phan Văn T1, Phan Văn H, Phan Văn H1, Phan Văn D. Cụ H2 và cụ B chết không có để lại di chúc, nên sau khi cha mẹ mất thì các thành viên trong hộ đồng ý để cho ông T đứng tên đại diện hộ để tiện giao dịch. Nay, ông khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của hộ bà B thành 07 (bảy) phần bằng nhau, đối với phần tài sản chung mà bà B được hưởng, do bà B chết không để lại di chúc giao cho ai được hưởng nên ông yêu cầu chia phần di sản của bà B thành 09 (chín) phần cho mỗi người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà B, ông yêu cầu được hưởng một phần theo quy định của pháp luật.

Ông yêu cầu Toà án công nhận chia cho ông phần diện tích đất cụ thể như sau: Yêu cầu được hưởng phần đất có diện tích 250m² thuộc một phần của thửa đất số 450, tờ bản đồ số 01; Yêu cầu được hưởng phần đất có diện tích 154,8m² (ký hiệu là A trong Bản trích đo địa chính số: 330 ngày 18/4/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C) và phần đất có diện tích 347,8m² (ký hiệu là B trong Bản trích đo địa chính số: 330 ngày 18/4/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C), thuộc một phần của thửa đất số 466 và 467, tờ bản đồ số 01. Tổng diện tích đất ông yêu cầu được hưởng 752,6m². Ngoài ra, ông yêu cầu bị đơn ông Phan Phát T chia số tiền của phần đất bị thu hồi, số tiền yêu cầu là 346.824.857₫ (Ba trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm năm mươi bảy đồng) (trong đó gồm số tiền chia tài sản chung của hộ là 1/7, tương đương số tiền 312.142.857₫ (Ba trăm mười hai triệu một trăm bốn mươi hai nghìn tám trăm năm mươi bảy đồng) và số tiền yêu cầu chia thừa kế đối với kỷ phần của bà B thành 09 (chín) phần bằng nhau, ông yêu cầu được nhận số tiền là 34.682.000₫ (Ba mươi bốn triệu sáu trăm tám mươi hai nghìn đồng).

- Bị đơn ông Phan Phát T trình bày: Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông không đồng ý. Do nguồn gốc ba thửa đất này là cha của cụ Phan Văn H2 (chết năm 1985) và cụ Tạ Thị B (chết năm 2005) để lại, sau khi cha mẹ mất thì các anh em của ông trong đó có ông Phan Văn H ký văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế, theo đó thống nhất giao toàn bộ ba thửa đất trên lại cho ông được thừa hưởng, sau đó ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Hiện nay, cả ba thửa đất này ông đang quản lý, sử dụng, riêng phần đất ông H đang ở khoảng 100m² là do thấy hoàn cảnh gia đình ông H khó khăn nên anh em thống nhất cho H ở trên phần đất này, không có việc ông H quản lý 1.000m² đất vườn như phần trình bày của nguyên đơn.

Về nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc các thửa số 450, 466 và 467 là của ông bà nội để lại cho cha mẹ canh tác từ những năm 1960, sau đó cha mẹ ông tiếp tục sử dụng đến năm 1997 mới được cấp quyền sử dụng đất, không phải các thửa đất này là tài sản được các thành viên trong hộ tạo lập, nên việc nguyên đơn ông H cho rằng đây là tài sản chung của hộ và yêu cầu chia tài sản chung của hộ là không đúng nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trong quá trình thực hiện Dự án khu tái định cư quận C, Nhà nước có thu hồi phần đất 2.706,2m², thuộc một phần của thửa đất số 450, số tiền ông nhận bồi thường là 2.185.000.000đ (Hai tỷ một trăm tám mươi lăm triệu đồng).

- Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Phan Văn Ử, ông Phan Văn T1, ông Phan Văn H1, ông Phan Văn Đ, bà Đỗ Ngọc C, bà Phan Thị L và ông Phan Hồng P thống nhất trình bày: Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Văn H thì các anh em còn lại cùng ý kiến không đồng ý.

Do, nguồn gốc ba thửa đất này là của ông bà nội để lại cho cha mẹ canh tác, sử dụng, không có việc tạo lập chung của hộ nên đề nghị Toà án bác đơn khởi kiện của nguyên đơn ông H. Sau khi cha mẹ chết thì các anh em, trong đó có ông H thoả thuận thống nhất giao cho ông T được thừa hưởng theo quy định, nay ông H tranh chấp chia tài sản chung của hộ và chia di sản thừa kế đối với ba thửa đất này là không đúng.

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Tòa án nhân dân quận Cái Răng đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 138/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên như sau:

  1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Phan Văn H về việc chia tài sản chung của hộ đối với quyền sử dụng đất thuộc các thửa số 450, 466 và 467, tờ bản đồ số 01, của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000021 do Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) cấp ngày 14/4/1997, đất toạ lạc tại ấp P, xã Đ, huyện C (nay là khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ).
  2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Phan Văn H về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế của cụ Tạ Thị B, đối với quyền sử dụng đất thuộc các thửa số 450, 466 và 467, tờ bản đồ số 01, của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000021 do Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) cấp ngày 14/4/1997, đất toạ lạc tại ấp P, xã Đ, huyện C (nay là khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo

Bị đơn không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn tự nguyện cho cho gia đình của nguyên đơn và con cháu của nguyên đơn được tiếp tục sử dụng phần đất ở lâu dài tại vị trí A của Bảng trích đo địa chính số 330/TTKTTNMT ngày 18/4/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên Môi trường thành phố C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Văn Đ, Phan Văn T1, Phan Văn Ử, Phan Thị L, bà Đỗ Ngọc C, anh Phan Hồng P yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:

Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn và thời hạn nộp tạm ứng kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung vụ án: qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa cho thấy cấp sơ thẩm đã nhận định các thửa đất số 450, tờ bản đồ số 01 có diện tích 4.168m², loại đất Q; thửa đất số 466, tờ bản đồ số 01 có diện tích 300m², loại đất Q và thửa đất số 467, tờ bản đồ số 01 có diện tích 2.323m², loại đất Q, đất toạ lạc tại ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Cần Thơ (cũ) (nay là khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ không thuộc tài sản chung của hộ gia đình mà là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là đúng quy định của pháo luật và việc yêu cầu chia di sản thừa kế của nguyên đơn là không có cơ sở bởi lẽ vào ngày 17/3/2008 nguyên đơn làm Văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế của cụ B, theo đó có nội dung giao lại cho ông Phan Phát T thừa hưởng đối với các thửa đất số 450, 466 và 467 theo quy định, đến ngày 19/4/2008 ông T làm thủ tục khai nhận thừa kế và đăng ký cập nhật được cơ quan có thẩm quyền xác nhận biến động vào ngày 06/5/2008. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn tự nguyện cho gia đình của nguyên đơn và con cháu của nguyên đơn được tiếp tục sử dụng phần đất ở lâu dài tại vị trí A của Bảng trích đo địa chính số 330/TTKTTNMT ngày 18/4/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên Môi trường thành phố C nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa Bản án sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên; của luật sư và những người tham gia tố tụng khác.

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xác định quyền sử dụng đất của các thửa số 450, 466 và 467, tờ bản đồ số 01 đất toạ lạc tại ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Cần Thơ (cũ) (nay là khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ là tài sản chung của hộ. Đối với phần của bà B được hưởng trong khối tài sản chung của hộ, do bà B chết không để lại di chúc nên ông khởi kiện yêu cầu chia phần di sản này cho hàng thừa kế thứ nhất của bà B. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp chia tài sản chung của hộ và chia di sản thừa kế theo pháp luật” là phù hợp.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu chia tài sản chung của hộ, hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn và các người anh em còn đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 450, tờ bản đồ số 01 có diện tích 4.168m², loại đất Q; thửa đất số 466, tờ bản đồ số 01 có diện tích 300m², loại đất Q và thửa đất số 467, tờ bản đồ số 01 có diện tích 2.323m², loại đất Q, đất toạ lạc tại ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Cần Thơ (cũ) (nay là khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ là của cha mẹ cụ H2 và cụ B. Đến koảng năm 1960, cụ H2 và cụ B là người được thừa hưởng, sử dụng. Năm 1985 cụ H2 chết thì bà B và các thành viên còn lại tiếp tục canh tác, sử dụng. Sau đó, bà B đứng ra kê khai theo quy định và được Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000021 ngày 14/4/1997 cho hộ bà Tạ Thị B. Đối chiếu Điều 118 của Bộ luật Dân sự năm 1995 “Tài sản chung của hộ gia đình do các thành viên cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ. Quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ gia đình cũng là tài sản chung của hộ” và theo quy định tại khoản 1 Điều 212 của Bộ luật Dân sự năm 2015 “Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan” đã đủ cơ sở xác định các thửa đất trên là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của cụ Phan Văn H2 và cụ Tạ Thị B nên nguyên đơn kháng cáo yêu cầu chia tài sản chung của hộ là không có cơ sở chấp nhận.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu chia thừa kế đối với tài sản của bà B, hội đồng xét xử thấy rằng: cụ Phan Văn H2, sinh năm 1924 (chết ngày 23/02/1985) và cụ Tạ Thị B, sinh năm 1928 (chết ngày 05/9/2005), cha mẹ của cụ H2 và cụ B đã chết trước khi cụ H2 và cụ B chết, lúc sinh thời cụ H2 và cụ B có với nhau 09 (chín) người con chung gồm: ông Phan Văn K, ông Phan Văn Ử, bà Phan Thị S, ông Phan Văn Đ, ông Phan Văn T1, bà Phan Thị L, ông Phan Văn H, ông Phan Văn H1 và ông Phan Phát T, ngoài ra không có con riêng, con nuôi nào. Như vậy, có cơ sở khẳng định hàng thừa kế thứ nhất của cụ H2 và cụ B gồm 09 (chín) người là ông Phan Văn K, ông Phan Văn Ử, bà Phan Thị S, ông Phan Văn Đ, ông Phan Văn T1, bà Phan Thị L, ông Phan Văn H, ông Phan Văn H1 và ông Phan Phát T. Các đương sự khai thống nhất lúc sinh thời cụ B không có lập di chúc giao phần di sản của mình cho người được hưởng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện sau khi cụ B chết năm 2005; ngày 17/3/2008, tám người anh em gồm ông Phan Văn Ử, ông Phan Văn K, bà Phan Thị S, ông Phan Văn Đ, bà Phan Thị L, ông Phan Văn T1, ông Phan Văn H1 và ông Phan Văn H làm Văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế của cụ B, theo đó có nội dung giao lại cho ông Phan Phát T thừa hưởng đối với các thửa đất số 450, 466 và 467 theo quy định, các văn bản này được chứng thực của Ủy ban nhân dân phường T, quận C (BL 138 đến 157). Đến ngày 19/4/2008 ông T làm thủ tục khai nhận thừa kế và đăng ký cập nhật được cơ quan có thẩm quyền xác nhận biến động vào ngày 06/5/2008 là đúng quy định. Xét thấy, nguyên đơn đã từ chối nhận di sản giao cho ông T thừa hưởng đối với các thửa đất số 450, 466 và 467 nên yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế của bà B là không có cơ sở chấp nhận.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn tự nguyện cho gia đình của nguyên đơn và con cháu của nguyên đơn được tiếp tục sử dụng phần đất ở lâu dài tại vị trí A của Bảng trích đo địa chính số 330/TTKTTNMT ngày 18/4/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên Môi trường thành phố C nên Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, ghi nhận sự tự nguyện này của phía bị đơn.

[5] Như đã phân tích trên, phía nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở xem xét.

[6] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Văn H.

Sửa bản án sơ thẩm.

  1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Phan Văn H về việc chia tài sản chung của hộ đối với quyền sử dụng đất thuộc các thửa số 450, 466 và 467, tờ bản đồ số 01, của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000021 do Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) cấp ngày 14/4/1997, đất toạ lạc tại ấp P, xã Đ, huyện C (nay là khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ).
  2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Phan Văn H về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế của cụ Tạ Thị B, đối với quyền sử dụng đất thuộc các thửa số 450, 466 và 467, tờ bản đồ số 01, của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000021 do Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) cấp ngày 14/4/1997, đất toạ lạc tại ấp P, xã Đ, huyện C (nay là khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ).
  3. Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn về việc cho gia đình của nguyên đơn được tiếp tục sử dụng phần đất ở tại vị trí A của Bảng trích đo địa chính số 330/TTKTTNMT ngày 18/4/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên Môi trường thành phố C.
  4. Thời gian lưu cư phần đất ở của phía gia đình nguyên đơn là lâu dài theo thời hạn sử dụng đất đã được ghi nhận trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bị đơn.

  5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Số tiền là 10.437.000đ (Mười triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng), nguyên đơn ông H phải chịu 10.437.000đ (Mười triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng). Nguyên đơn đã nộp xong.
  6. Về án phí:
    • -Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Phan Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch số tiền là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008806 ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, ông H được nhận lại số tiền 2.200.000₫ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) và nhận lại số tiền 8.671.000₫ (Tám triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003028 ngày 03/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng án phí, chuyển tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp 300.000 đông theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003422 ngày 13/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thành án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND quận Cái Răng;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Chi cục THADS Q. Cái Răng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 518/2023/DS-PT ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp chia tài sản chung của hộ và tranh chấp thừa kế về tài sản

  • Số bản án: 518/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung của hộ và tranh chấp thừa kế về tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông H cho rằng đất cấp cho hộ thời điểm cấp giấy cho hộ do cha ông đứng tên nay ông T được cấp giấy là không đúng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger