|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 517/2024/HSST
Ngày: 23/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
- 2. Ông Trần Văn Chánh
- - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Cảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 520/2024/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 524/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Ngọc S. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1985, tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: 1/14/11, tổ E, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông Trịnh Ngọc S1, sinh năm 1956 và bà Lê Thị H, sinh năm 1959 (đã chết); Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai, có vợ là Lê Thị V, sinh năm 1988, có 01 con sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/6/2024. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Ngọc S là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (ma túy tổng hợp). Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/6/2024, S đi xe mô tô chở khách (xe ôm) đến khu vực ngã tư T, thuộc phường T, thành phố Hồ Chí Minh mua của người tên S2 (Không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma tuý Heroin và 01 gói ma tuý tổng hợp (hàng đá) với giá 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý, S mang về nhà của S tại địa chỉ 1/14/11, tổ E, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại đây S lấy một phần ma tuý ra sử dụng, phần còn lại cất giấu vào trong dây cột rèm cửa trong phòng ngủ của S.
Khoảng 11 giờ 30 ngày 12/6/2024, tại phòng ngủ của S ở địa chỉ nêu trên khi S đang cất giấu gói ma tuý tại vị trí trên thì bị Công an phường L phát hiện bắt quả tang chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Quá trình điều tra Trịnh Ngọc S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
* Vật chứng thu giữ: 02 (hai) gói nilon bên trong chứa chất màu trắng thu giữ trong dây vải cột rèm cửa trong phòng ngủ của S (S khai là ma tuý tổng hợp hàng đá và H của S).
* Tại bản Kết luận giám định số 1246/KL ngày 18/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- “- Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,507gam (không phẩy năm không bảy gam) loại Methamphetamine.
- - Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 1,083 gam (một phẩy không tám ba gam) loại Heroin."
Tại cáo trạng số 511/CT-VKSBH-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Trịnh Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh như đã nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như sau:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
- Về án phí: Bị cáo Trịnh Ngọc S, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời khai thừa nhận của của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 11 giờ 30 ngày 12/6/2024, tại nhà số: 1/14/11, tổ E, khu phố A, Phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo Trịnh Ngọc S có hành vi cất giữ trái phép 0,507 gam ma túy loại Methamphetamine và 1,083 gam ma túy loại Heroin thì bị Công an phường L, thành phố B phát hiện bắt qua tang.
Như vậy, có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Trịnh Ngọc S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố B đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi:
Hành vi của bị cáo là đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Nên cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu và tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 gói niêm phong số 1246/KLGĐ-PC09 ngày 18/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
[7] Đối với đối tượng tên S2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) có hành vi bán ma túy cho Trịnh Ngọc S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Trịnh Ngọc S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, quyết định giải quyết vụ án theo pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt: Trịnh Ngọc S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 gói niêm phong số 1246/KLGĐ-PC09 ngày 18/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- + Buộc bị cáo Trịnh Ngọc S phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Hùng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Văn Chánh |
Huỳnh Thị Kim Kiên |
Trần Văn Hùng |
Bản án số 517/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 517/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc Sơn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. - Xử phạt: Trịnh Ngọc Sơn 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024.
