Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 517/2024/DS-PT
Ngày: 23/9/2024
V/v. tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Điều Văn Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển;
Ông Phùng Hải Hiệp.
Thư ký Toà án: Ông Ngô Cảnh Duy - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Đoàn Thị Bình, Kiểm sát viên cao cấp tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 348/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10112/2024/QĐPT-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X, địa chỉ: thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị X: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1979; địa chỉ: P T, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị X: Luật sư Nguyễn Duy N, thuộc Văn phòng L1, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M, cùng địa chỉ: thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Chị M có mặt, anh H1 vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Quang H1:

  • + Công ty L2. Người đại diện của Công ty L2 tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1992 và ông Trần Đình K, sinh năm 1999; cùng địa chỉ: số A, ngõ G, phố D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Đều có mặt.
  • + Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn T, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1944; địa chỉ: D, xã D, huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị S:

  • + Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1979; địa chỉ: P T, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ B, cụm D, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị S: Luật sư Nguyễn Duy N, thuộc Văn phòng L1, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Văn phòng Công chứng Minh Phương, địa chỉ: B +3VR đường C, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  • - Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện G: Ông Đặng Đình M1 - Chủ tịch. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện G: Ông Nguyễn Xuân T1 - Phó Trưởng phòng TNMT. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị X do chị Nguyễn Thị Bích H đại diện theo ủy quyền trình bày: Bố mẹ bà X và bà S là cụ Nguyễn Quang T2 (mất năm 1950) và cụ Trần Thị H3 (mất năm 1995), các cụ được bố mẹ để lại cho một mảnh đất có diện tích 292m² thuộc thửa số 243 tờ bản đồ số 25 tại thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng năm 1980, cụ H3 đã xây dựng một nhà cấp 4 (khoảng 35m²); nhà bếp (khoảng 10m²); nhà vệ sinh (khoảng 2m²), chuồng nuôi lợn (khoảng 8m²), 2 đến 3 năm sau đó cụ xây tường bao xung quanh đất như hiện nay. Ngoài ra, cụ còn trồng một cây nhãn từ khoảng cuối những năm 1980 (đến nay vẫn còn).

Trong thời gian chung sống các cụ sinh được hai người con đẻ là Nguyễn Thị S và Nguyễn Thị X, ngoài ra các cụ không có con riêng, con nuôi nào khác.

Khoảng năm 1964 bà S lấy chồng cùng làng và sinh sống tại nhà chồng, đến năm 1997 bà S đi “kinh tế mới” và định cư tại Đ đến nay. Sau khi bà S đi lấy chồng toàn bộ nhà và đất là di sản của bố mẹ do bà Nguyễn Thị X trực tiếp quản lý, sử dụng, đến cuối năm 2020 thì bà S1 về đón bà X vào Đăk lăk sinh sống nên toàn bộ nhà đất bỏ không.

Bản thân bà X từ nhỏ bị bệnh bại liệt, teo chi dưới, đang hưởng chế độ chính sách dành cho người khuyết tật nên không xây dựng gia đình mà sống một mình trên phần đất do bố mẹ để lại. Bà S sinh sống tại Đ nên ít có dịp về quê và cũng không để ý đến việc giấy tờ đất cát của bố mẹ để lại như thế nào. Từ cuối năm 2020 do tình hình dịch bệnh C diễn biến phức tạp cộng với việc sức khỏe của bà X giảm sút nhiều nên bà S đã về quê đón bà X vào Đăk Lăk cho con cháu tiện chăm sóc. Sau khi bà X vào Đ thì bà S mới được biết toàn bộ giấy tờ nhà đất liên quan đến di sản của bố mẹ để lại đã mang tên vợ chồng người cháu họ là anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M (được UBND huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo số sổ BU 881380 - cấp ngày 01/10/2014). Cũng thời điểm này thì bà X mới biết sự việc này.

Sau khi bà S hỏi bà X thì được biết: Vào khoảng năm 2000 - 2001, UBND xã thông báo kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, bà X do thiếu hiểu biết nên chỉ kê khai tên người sử dụng đất là Nguyễn Thị X và ngày 18/12/2001 bà X được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất trên với tên người sử dụng đất là: “Hộ bà Nguyễn Thị X”, số P124419 do UBND huyện G cấp, số vào sổ: QSDĐ/456 QĐ-H.

Do bà X sống một mình và là người khuyết tật nên đã tin tưởng giao toàn bộ giấy tờ liên quan đến nhà đất cho người cháu họ là Nguyễn Quang H1 (sinh năm 1976, trú tại C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh) cất giữ giùm. Lợi dụng sự tin tưởng và thiếu hiểu biết pháp luật của bà X nên ngày 02/10/2014 anh H1 đã làm “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” từ bà X sang cho vợ chồng anh H1 (là Nguyễn Quang H1 và Nguyễn Thị M) tại Văn phòng Công chứng Minh Phương tỉnh B, số công chứng 2260/2014/HĐCN – Quyển số: 04/TP/CC-SCC/HĐGD. Công chứng viên: Nguyễn Xuân Đ thực hiện việc công chứng. Ngày 02/10/2014 UBND huyện G đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M (số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BU 881380).

Bà X khẳng định là không hề biết việc này. Bà X cho rằng vợ chồng anh H1, chị M đã có hành vi lừa dối, lợi dụng bà X vì bà trình độ văn hóa thấp, không có khả năng đọc thông viết thạo nên đã chiếm đoạt nhà và đất của bà.

Do là con cháu trong họ nên khi phát hiện ra sự việc trên, gia đình đã chủ động hòa giải, yêu cầu vợ chồng anh H1 chuyển trả lại tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hai bà X, bà S nhưng vợ chồng anh H1 không hợp tác.

Vì vậy, bà X đã có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh giải quyết: Tuyên “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 2260/2014/HĐCN - Quyển số: 04/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 02/10/2014 tại Văn phòng Công chứng Minh Phương tỉnh B vô hiệu; Tuyên hủy “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 881380 mang tên ông Nguyễn Quang H1 và bà Nguyễn Thị M do UBND huyện G cấp ngày 03/11/2014; Buộc vợ chồng anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M trả lại toàn bộ diện tích 292m² đất thuộc thửa đất số 243 tờ bản đồ số 25 tại thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và tài sản trên đất cho bà X, bà S; đề nghị Toà án xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu nếu có theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị S do chị Nguyễn Thị K1 đại diện theo ủy quyền trình bày: Về nội dung vụ án tôi xác định việc bà X trình bày là đúng, đối với yêu cầu khởi kiện của bà X tôi hoàn toàn nhât trí.

Đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu độc lập của bà S cụ thể: tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P124419 mang tên “Hộ bà Nguyễn Thị X” do UBND huyện G cấp ngày 18/12/2001, số vào sổ: QSDĐ/456 QĐ-H; Tuyên hủy “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 2260/2014/HĐCN - Quyển số: 04/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 02/10/2014 tại Văn phòng Công chứng Minh Phương tỉnh B; Buộc vợ chồng anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M trả lại toàn bộ diện tích 292m² đất thuộc thửa đất số 243 tờ bản đồ số 25 tại thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và tài sản trên đất cho bà X, bà S; đề nghị Toà án xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu nếu có theo quy định của pháp luật.

Bị đơn anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M do ông Nguyễn Đức T đại diện theo uỷ quyền trình bày: Tôi là đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là anh Nguyễn Quang H1, chị Nguyễn Thị M. Do anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M biết bà Nguyễn Thị X có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 243, tờ bản đồ số 25, diện tích 288m² tại C, V, G, Bắc Ninh nên anh H1, chị M đã nhất trí nhận chuyển nhượng thửa đất đó với giá trị thoả thuận theo hợp đồng là 125.000.000 đồng (trên thực tế thì số tiền lớn hơn và bị đơn cũng không nhớ được là bao nhiêu). Sau khi tìm hiểu thông tin thửa đất hai bên đã ra phòng Công chứng Minh Phương để hỏi và nhờ làm thủ tục hợp đồng chuyển nhượng. Văn phòng C1 đã hướng dẫn hai bên cung cấp các giấy tờ tuỳ thân, giấy chứng minh thư, sổ hộ khẩu giấy tờ đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Văn P đã giải thích quyền lợi nghĩa vụ cho các bên và hai bên đều đồng ý, nhất trí ký hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi soạn xong hợp đồng thì Văn phòng cho các bên kiểm tra lại và cùng thống nhất nội dung, khi hai bên không có ý kiến sửa đổi gì thêm thì Văn phòng đưa cho các bên ký kết hợp đồng trước sự chứng kiến của Công chứng viên. Việc ký kết được lập thành 04 bản, bên chuyển nhượng giữ một bản, bên nhận chuyển nhượng giữ hai bản, bên Văn phòng C1 giữ một bản. Theo tài liệu mà Văn phòng C1 cung cấp thì hợp đồng các bên ký kết có số hiệu là 2260/2014/HĐCN sổ quyển 04/TCTP/CC/SCC/HĐDĐ ngày 02/10/2014.

Sau đó các bên nhận chuyển nhượng đã đến cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục sang tên GCN QSDĐ mang tên anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M. Số giấy chứng nhận quyến sử dụng đất là BU 881380 vào sổ cấp số CH 02924/1452/QĐ-UBND ngày 03/11/2014 do UBND huyện G cấp.

Đến nay bà Nguyễn Thị X có đơn khởi kiện và bà Nguyễn Thị S có yêu cầu độc lập thì phía bị đơn có ý kiến như sau: Tôi không có ý kiến gì đối với yêu cầu tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P124419 mang tên “Hộ bà Nguyễn Thị X” do UBND huyện G cấp ngày 18/12/2001, số vào sổ: QSDĐ/456 QĐ-H của bà S vì nó không liên quan gì đến quyền lợi của anh H1, chị M; còn lại các yêu cầu khác của bà X, bà S1 là tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 2260/2014/HĐCN - Quyển số: 04/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 02/10/2014 tại Văn phòng Công chứng Minh Phương tỉnh B là vô hiệu; Tuyên hủy “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 881380 mang tên ông Nguyễn Quang H1 và bà Nguyễn Thị M do UBND huyện G cấp ngày 03/11/2014; Buộc vợ chồng anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M trả lại toàn bộ diện tích 292m² đất thuộc thửa đất số 243 tờ bản đồ số 25 tại thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và tài sản trên đất cho bà X, bà S thì phía bị đơn không đồng ý.

Trong trường hợp Toà án xem xét giải quyết và tuyên vô hiệu đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà X và vợ chồng anh H1, chị M thì chúng tôi đề nghị Toà án giải quyết hậu của của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Về tố tụng việc Toà án đưa bà Nguyễn Thị S vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng vì đây là tranh chấp hợp động chuyển nhượng quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa bà X và vợ chồng anh H1, chị M.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C1 do ông Nguyễn Đức T đại diện theo uỷ quyền trình bày: Tôi xác định việc làm thủ tục hướng dẫn các bên giao kết hợp đồng, giải thích thích quyền nghĩa vụ đối với việc chuyển nhượng của Văn phòng C1 là đầy đủ, tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật dân sự và luật công chứng, chứng thực. Các bên tự nguyện tham gia ký kết hợp đồng, chữ ký trong hợp đồng là của các bên ký trực tiếp trước mặt công chứng viên, khi ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên đối với yêu cầu khởi kiện của bà X và yêu cầu độc lập của bà S thì Văn phòng C1 không đồng ý; khi thực hiện hợp đồng các bên tự thực hiện việc giao nhận tiền Văn phòng công chứng không chứng kiến việc giao nhận tiền giữa các bên. Đề nghị Toà án bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND huyện G do ông Nguyễn Xuân Trung đại D theo uỷ quyền trình bày: Về việc cấp giấy chứng nhận lần đầu: Việc thực hiện kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị X tại thôn C, xã V năm 2001 theo tinh thần Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục địa chính. Về trinh tự, thủ tục xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo Thông tư số 346/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục địa chính; Thông tư tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của T3. Như vậy, về trình tự, thủ tục xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên đảm bảo theo quy định pháp luật.

Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Theo hợp đồng chuyển nhượng số 2260/2014/HĐCN, quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/10/2014. Theo trình tự thủ tục tiếp nhận kiểm tra thẩm định hồ sơ, ngày 29/10/2014 Phòng T4 trình UBND huyện thu hồi, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

Ngày 03/11/2014, UBND huyện ban hành Quyết định số 1452/QĐ-UBND về việc thu hồi, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất, trong đó thể hiện đã thu hồi giấy chứng nhận đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị X do chuyển nhượng toàn bộ diện tích cho ông Nguyễn Quang H1 và bà Nguyễn Thị M.

Còn trong quá trình giải quyết vụ án nếu Tòa án qua xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ mà phát hiện có những tình tiết, sự kiện mới, đề ngị Tòa án căn cứ vào các qy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

Do bận công việc, đại diện UBND huyện G đề nghị được vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đại diện UBND huyện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Bình tiến hành tố tụng tại phiên tòa; đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Tuyên “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 2260/2014/HĐCN- Quyển số: 04/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 02/10/2014 tại Văn phòng Công chứng Minh Phương tỉnh B vô hiệu; Tuyên hủy “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 881380 mang tên ông Nguyễn Quang H1 và bà Nguyễn Thị M do UBND huyện G cấp ngày 03/11/2014; Buộc vợ chồng anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M trả lại toàn bộ diện tích 292m² đất thuộc thửa đất số 243 tờ bản đồ số 25 tại thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và tài sản trên đất cho bà X, bà S. Đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P124419 mang tên “Hộ bà Nguyễn Thị X” do UBND huyện G cấp ngày 18/12/2001, số vào số: QSDĐ/456 QĐ-H và yêu cầu chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành Nguyễn Thị X và Nguyễn Thị S.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:

Căn cứ Điều 26; 37, 39, 48, 144, 147, 158, 166, 201, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Điều 121, 122, 124, 127, 128, 129, 136, 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 116, 117, 119, 122, 123, 124, 131, 132 Bộ luật dân sự năm 2015); Điều 99, 202, 203 Luật Đất đai; Khoản 4 Điều 21- Nghị định số 43/NĐ-CP Ngày 15/5/2014 “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013”; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  • + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị X và chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S.
  • + Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/10/2014 tại Văn phòng C1 giữa bà Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Quang H1, chị Nguyễn Thị M vô hiệu.
  • + Buộc anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M phải trả lại thửa đất số 243, tờ bản đồ số 25 diện tích 292m² tại thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và toàn bộ tài sản trên đất cho bà Nguyễn Thị X và bà Nguyễn Thị S.
  • + Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 881380 do UBND huyện G cấp ngày 03/11/2014 đối với thửa đất số 243, tờ bản đồ số 25, diện tích 292m² tại thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh mang tên ông Nguyễn Quang H1 và bà Nguyễn Thị M.
  • + Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị S về việc tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P124419 mang tên “Hộ bà Nguyễn Thị X” do UBND huyện G cấp ngày 18/12/2001.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/5/2024, bị đơn là anh Nguyễn Quang H1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Đại diện nguyên đơn và luật sư bảo vệ quyền lợi trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn.
  • - Bị đơn trình bày: Hợp đồng công chứng là đúng quy định của pháp luật. Việc mua bán là có thật không giả tạo, bị đơn đã trả đủ tiền cho nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng như sau: Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, đơn kháng cáo; qua nghe các đương sự trình bày, luật sư bảo vệ quyền lợi của các bên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm và căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kết quả tranh tụng tại phiên toà. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao thấy rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị X đề nghị Toà án tuyên “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 2260/2014/HĐCN - Quyển số: 04/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 02/10/2014 tại Văn phòng Công chứng Minh Phương tỉnh B vô hiệu; Tuyên hủy “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 881380 mang tên anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M do UBND huyện G cấp ngày 03/11/2014; Buộc vợ chồng anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M trả lại toàn bộ diện tích 292m² đất thuộc thửa đất số 243 tờ bản đồ số 25 tại thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và tài sản trên đất cho bà X là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cũng không có thêm tài liệu chứng cứ mới chứng minh việc mua bán với bà X là ngay tình. Mặt khác, tài sản và quyền sử dụng đất đối tượng chuyển nhượng của hợp đồng là tài sản chung chưa chia của bà S và bà X. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

1. Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị X khởi kiện đề nghị Toà án tuyên “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 2260/2014/HĐCN - Quyển số: 04/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 02/10/2014 tại Văn phòng Công chứng Minh Phương tỉnh B vô hiệu; Tuyên hủy “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 881380 mang tên anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M do UBND huyện G cấp ngày 03/11/2014; Buộc vợ chồng anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M trả lại toàn bộ diện tích 292m² đất thuộc thửa đất số 243 tờ bản đồ số 25 tại thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và tài sản trên đất cho bà X, bà S; đề nghị Toà án xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu nếu có theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị S có yêu cầu độc lập: Tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P124419 mang tên “Hộ bà Nguyễn Thị X” do UBND huyện G cấp ngày 18/12/2001, số vào sổ: QSDĐ/456 QĐ-H; Tuyên hủy “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 2260/2014/HĐCN - Quyển số: 04/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 02/10/2014 tại Văn phòng Công chứng Minh Phương tỉnh B; Buộc vợ chồng anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M trả lại toàn bộ diện tích 292m² đất thuộc thửa đất số 243 tờ bản đồ số 25 tại thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh và tài sản trên đất cho bà X, bà S; đề nghị Toà án xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu nếu có theo quy định của pháp luật. Vì vậy, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thẩm quyền giải quyết cấp sơ thẩm vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

2. Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn thấy rằng:

[1] Theo tài liệu của hồ sơ vụ án, nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp của hộ bà X chuyển nhượng cho anh H1, chị M thì các đương sự đều thừa nhận thửa đất này là do bố mẹ bà X, bà S là cụ Nguyễn Quang T2, mất năm 1950 và cụ Trần Thị H3, mất năm 1995 để lại. Việc trình bày của bà X, bà S là phù hợp với xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm tại UBND xã về nguồn gốc đất là do bố mẹ bà X để lại, Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 của bà X cũng ghi nguồn gốc “ông cha”.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn khai cho rằng không chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng bà xác nhận có ký, viết tên vào một số giấy tờ nhưng không biết nội dung các văn bản ký như thế nào. Tuy nhiên, bà X chỉ có lời trình bày mà không cung cấp được tài liệu, chứng cứ về việc khi bà ký vào hợp đồng chuyển nhượng bà không biết nội dung của văn bản mà bà ký kết là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do đó, bà X phải chịu trách nhiệm về chữ ký của mình trong hợp đồng chuyển nhượng đất đó. Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định thửa đất có diện tích ban đầu là 288m² (sau này chuyển nhượng cho anh H1, chị M là 292m²) là của cụ T2, cụ H3 để lại. Cụ T2 và cụ H3 có 02 con là bà Nguyễn Thị S và Nguyễn Thị X, hai cụ mất đều không để lại di chúc hay văn bản tặng cho ai thửa đất nên thửa đất được xác định là di sản thừa kế để lại cho bà S và bà X. Năm 2001 bà X làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thời hiệu yêu cầu chia thừa kế của cụ T2 là vẫn còn (cụ tý chết năm 1995); quyền sử dụng thửa đất số 243, tờ bản đồ số 25 là di sản chưa chia nên được xác định là tài sản chung của bà X và bà H1. Bà X không có giấy tờ, tài liệu thể hiện đã phân chia di sản thừa kế hay được bà S tặng cho toàn bộ thửa đất nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà X năm 2001 là không đúng quy định pháp luật, xâm phạm đến quyền lợi của đồng hàng thừa kế thứ nhất bà Nguyễn Thị S. Việc bà X tự mình định đoạt đối với cả thửa đất số 243, tờ bản đồ số 25 bằng hình thức chuyển nhượng cho anh H1, chị M là trái với quy định của pháp luật. Nội dung thỏa thuận ghi trong hợp đồng và theo anh H1 có trình bày giá chuyển nhượng các bên thỏa thuận là 125.000.000 đồng, trước khi ra phòng công chứng vợ chồng anh H1 đã trả trước cho bà X 100.000.000 đồng, làm xong thủ tục chuyển tên sổ đỏ từ bà X sang vợ chồng anh thì trả nốt bà X 25.000.000 đồng. Tất cả đều trả bằng tiền mặt, đưa trực tiếp cho bà X. Do vậy, không có chứng từ chuyển tiền tại ngân hàng. Việc giao nhận tiền giữa vợ chồng anh và bà X cũng không có ai chứng kiến và không giao tiền trước mặt công chứng viên, không lập biên bản giao nhận.

[3] Tại giai đoạn sơ thẩm đại diện ủy quyền của bị đơn xác định giá thỏa thuận theo hợp đồng là 125.000.000 đồng, trên thực tế số tiền lớn hơn và bị đơn cũng không nhớ được là bao nhiêu. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của bị đơn xác định giá thỏa thuận chuyển nhượng chỉ là 125.000.000 đồng. Do đó, có sự không thống nhất về giá chuyển nhượng thửa đất giữa bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ về việc đã giao số tiền chuyển nhượng là 125.000.000 đồng hay số tiền là bao nhiêu cho bà X. Tuy nhiên, bà X từ trước đến năm 2020 vẫn sống một mình tại ngôi nhà 3 gian được mẹ bà xây từ năm 1984, là người khuyết tật do bị bệnh bại liệt từ nhỏ, tay chân run rẩy, không có khả năng lao động nên nếu có nhận số tiền 125.000.000 đồng chuyển nhượng của anh H1, chị M hay số tiền chuyển nhượng lớn hơn theo như đại diện ủy quyền của bị đơn trình bày thì bà X cũng không thể nhận, kiểm đếm, cầm, giữ tiền một mình.

[4] Ngày 06/6/2020 tại gia đình bà Nguyễn Thị X có tổ chức một cuộc họp gia đình. Thành phần tham gia gồm có bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị S, chị Nguyễn Thị K1, anh Nguyễn Quang H1, ông Nguyễn Quang P1, ông Nguyễn Quang M2, ông Nguyễn Quang P2 và ông Nguyễn Quang L. Toàn bộ nội dung cuộc họp đã được chị K1 ghi âm lại, nội dung ghi âm được đánh thành văn bản và được gửi đến toà án, tại các buổi làm việc và phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải các bên đều được tiếp cận và không có ý kiến gì. Theo nội dung cuộc họp thể hiện có nhiều nội dung, đoạn hội thoại nói về việc bà X gửi anh H1 tài sản và đã được anh H1 xác nhận trong cuộc họp. Do đó, thấy việc bà X trình bày như nội dung phân tích ở trên là có ký vào hợp đồng chuyển nhượng nhưng không có mục đích chuyển nhượng đất cho anh H1, chị M là có căn cứ, mà việc bà X ký hợp đồng với mục đích gửi anh H1, chi M trông giữ tài sản đến khi bà X chết thì sau đó mới cho anh H1 để làm nơi thờ cúng. Trong thời gian bà X gửi anh H1 tài sản thì anh H1 có nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc cho bà X. Thực tế, từ khi ký kết hợp đồng năm 2014 đến năm 2020 bà X vẫn ở trên nhà đất. Do vậy, không có việc bàn giao nhà đất cho vợ chồng anh H1, chị M vào thời điểm ký kết hợp đồng như thỏa thuận ghi tại Điều 2 của Hợp đồng. Như vậy, giữa bà X và vợ chồng anh H1, chị M không có việc giao nhận tiền, không có việc bàn giao nhà đất kết hợp với những chứng cứ khách quan khác; Hội đồng xét xử thấy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không có thật mà chỉ là hình thức gửi tài sản giữa bà X và anh H1, chị M nên việc ký kết hợp đồng giữa bà X với anh H1, chị M vô hiệu do có dấu hiệu là hợp đồng giả tạo. Vì vậy, tòa án cấp sơ thẩm không xác định bà X đã nhận số tiền chuyển nhượng đất của vợ chồng anh H1, chị M và đồng ý chuyển nhượng thửa đất cho anh H1, chị M là phù hợp, có căn cứ. Do đó, tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà X và vợ chồng anh H1, chị M ký ngày 01/10/2014 tại Văn phòng C1 vô hiệu do vi phạm điều cấm (bà X không được quyền chuyển nhượng thửa đất) và vi phạm do giả tạo về mục đích chuyển nhượng, giá chuyển nhượng. Nên yêu cầu của nguyên đơn bà X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà S về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/10/2014 giữa bà X và anh H1, chị M vô hiệu là có căn cứ chấp nhận.

[5] Theo quy định tại Điều 137 BLDS 2005 (Điều 131 BLDS 2015) thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Thấy rằng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà X và vợ chồng anh H1, chị M ký ngày 01/10/2014 không có căn cứ xác định bà X đã nhận tiền chuyển nhượng của anh H1, chị M và cũng không có việc bàn giao nhà đất giữa bà X cho anh H1, chị M và hợp đồng này đã được xác định là giả tạo (trong trường hợp anh H1, chị M chứng minh được hợp đồng đang che dấu thì có quyền yêu cầu khởi kiện bằng vụ án độc lập để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình). Nên không có cơ sở để buộc bà X phải hoàn trả anh H1, chị M số tiền được ghi trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cũng không xác định được thiệt hại để các bên phải bồi thường cho nhau. Hiện nay, thửa đất số 243, tờ bản đồ số 25 anh H1, chị M đã mua khóa về khóa cửa lại tức là tài sản đang do anh H1, chị M chiếm hữu nên cần buộc anh H1, chị M phải trả lại thửa đất số 243, tờ bản đồ số 25 diện tích 292m² tại thôn C, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh cho bà X và bà S. Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ thì thửa đất đang có tranh chấp còn sử dụng ngoài giấy chứng nhận là 16,9m² (theo giấy chứng nhận là 292m² còn thực tế đo được là 308,9m²) nhưng từ khi chuyển nhượng anh H1, chị M không sinh sống trên thửa đất đó, tường bao cả phần đất 16,9m² được xây dựng trước khi các bên thực hiện việc chuyển nhượng. Nên không xem xét đối với công sức quản lý, tân tạo tài sản cho anh H1, chị M. Mặt khác, trong giai đoạn phúc thẩm bị đơn không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh việc nguyên đơn ký kết hợp đồng chuyển nhượng và đã nhận đủ tiền thanh toán ngoài lời trình bày của mình. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/10/2014 giữa bà Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Quang H1, chị Nguyễn Thị M vô hiệu. Nhưng do anh H1, chị M đã được UBND huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nên yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 881380 mang tên anh Nguyễn Quang H1 và chị Nguyễn Thị M do UBND huyện G cấp ngày 03/11/2014 là có căn cứ.

[6] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

Từ những nhận định trên thấy rằng, kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[7] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Quang H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Quang H1; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  2. Về án phí: anh Nguyễn Quang H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Đối trừ số tiền 300.000 đồng anh Nguyễn Quang H1 đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000163 ngày 20/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HS, P.HCTP-TANDCCHN.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Điều Văn Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 517/2024/DS-PT ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • Số bản án: 517/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger