|
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 517/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/6/2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Hoàng Nam
- Bà Phan Thị Dòn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái– Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 129/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 227/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Yến N, sinh năm 1984; địa chỉ: Nhà không số, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Hồ Minh P, sinh năm 1979; địa chỉ: Nhà không số, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
1. Theo đơn khởi kiện ngày 09/01/2024, các bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Lê Thị Yến N trình bày như sau:
Bà Lê Thị Yến N và ông Hồ Minh P chung sống với nhau vào năm 2007 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60, quyển số 01 ngày 11/5/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thường hay cãi vã, nguyên nhân do ông P có người phụ nữ khác bên ngoài, thường chửi mắng, đánh đập, xúc phạm danh dự bà Nhi, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Mọi chi phí cho gia đình và học hành của con đều do bà N lo lắng, ông P không có trách nhiệm với gia đình vợ con. Nay bà N nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Hồ Minh P để ổn định cuộc sống và rõ ràng về mặt pháp lý.
Về con chung: Có 02 con chung tên Hồ Võ C, sinh ngày 17/4/2008 và Hồ Ngọc Mai H, sinh ngày 11/12/2011. Bà Lê Thị Yến N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hồ Minh P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án và cũng không có ý kiến phản hồi.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, quyền và lợi ích hợp pháp được đảm bảo. Tuy nhiên, Toà án đưa vụ án ra xét xử đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định khoản 1 Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Lê Thị Yến N được ly hôn với ông Hồ Minh P. Giao con chung là Hồ Võ C, sinh ngày 17/4/2008 và Hồ Ngọc Mai H, sinh ngày 11/12/2011 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Bà Lê Thị Yến N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Lê Thị Yến N và ông Hồ Minh P chung sống trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Nay bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông P, bị đơn cư trú tại huyện Bình Chánh nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- 2 -
2. Về việc xét xử vắng mặt đương sự:
Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn: Ngày 17/4/2024, nguyên đơn bà Lê Thị Yến N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu vắng mặt của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định, nhưng ông Hồ Minh P không đến Tòa án trong cả hai lần được Tòa án triệu tập mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần Tòa án mở phiên tòa xét xử. Do vậy việc xét xử vắng mặt ông Hồ Minh P là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
3. Về yêu cầu của đương sự:
a) Về quan hệ hôn nhân:
Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về tình cảm và kinh tế. Vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thường hay cãi vã, nguyên nhân do ông P có người phụ nữ khác bên ngoài, thường chửi mắng, đánh đập, xúc phạm danh dự bà Nhi, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Mọi chi phí cho gia đình và học hành của con đều do bà N lo lắng, ông P không có trách nhiệm với gia đình vợ con.
Theo kết quả xác minh của Công an xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: “Ông Hồ Minh P, sinh năm 1979 có khai báo nơi ở hiện tại tại địa chỉ nhà không số, tổ 7, ấp 6B xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, thực tế có cư trú tại địa chỉ trên từ tháng 6/2022 đến nay”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành mời các bên đến để hòa giải hàn gắn gia đình theo quy định; tuy nhiên, ông P không đến Tòa án là không có thiện chí đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình, cũng như không có ý kiến phản hồi phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”.
Đối chiếu nội dung sự việc với các quy định của pháp luật thì việc bà N yêu cầu ly hôn với ông P là có đủ cơ sở. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nhi.
b) Về con chung: Có 02 con chung tên Hồ Võ C, sinh ngày 17/4/2008 và Hồ Ngọc Mai H, sinh ngày 11/12/2011. Bà Lê Thị Yến N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- 3 -
Căn cứ vào kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A: “Qua rà soát, tổ hòa giải chưa có tiếp nhận hồ sơ yêu cầu hòa giải tranh chấp hay mâu thuẫn hôn nhân và gia đình nào của bà Lê Thị Yến Nhi, sinh năm 1984 hay ông Hồ Minh P, sinh năm 1979 đề nghị giải quyết. Do đó tổ hòa giải chưa có thực hiện hòa giải mâu thuẫn hôn nhân và gia đình giữa bà Lê Thị Yến N, sinh năm 1984 và ông Hồ Minh P, sinh năm 1979”.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Toà án đã tiến hành lập biên bản ghi nhận nguyện vọng của các con chung, cả 02 trẻ đều có nguyện vọng được sống chung với bà N, đồng thời các trẻ đều cho rằng Mẹ là người chăm sóc quan tâm đến các con từ nhỏ đến nay. Đồng thời tại bản tường trình ngày 25/4/2024, bà N trình bày bà hiện nay đang sống chung với cha mẹ ruột ở Bình Dương, công việc hàng ngày bán tạp hóa thu nhập ổn định mỗi tháng từ 15.000.000 đồng. Bà cho biết từ trước đến nay chuyện kinh tế gia đình do một mình bà lo lắng, do đó bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng vì bà có đủ khả năng tài chính để lo cho các con chung ăn học. Toà án đã tống đạt hợp lệ cho ông P Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trong đó nêu rõ nội dung N yêu cầu nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên ông P không đến Toà án để làm việc và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu trên.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N về việc yêu cầu nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
c) Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Lê Thị Yến N được ly hôn với ông Hồ Minh P. Giao con chung là Hồ Võ C, sinh ngày 17/4/2008 và Hồ Ngọc Mai H, sinh ngày 11/12/2011cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Bà Lê Thị Yến N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
5. Về án phí: Bà Lê Thị Yến N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
- 4 -
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Yến N.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Yến N được ly hôn với ông Hồ Minh P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 60, quyển số 01 ngày 11/5/2007 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An cấp không còn giá trị pháp lý.
1.2 Về con chung:
Giao các con chung là trẻ Hồ Võ C, sinh ngày 17/4/2008 và Hồ Ngọc Mai H, sinh ngày 11/12/2011 cho bà Lê Thị Yến N trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông Hồ Minh P không trực tiếp nuôi con, được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được cản trở ông P thực hiện quyền này.
Vì quyền lợi của trẻ chưa thành niên, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể xem xét quyết định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung.
2. Về án phí: Bà Lê Thị Yến N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23P số 0033146 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí.
- 5 -
3. Bà Lê Thị Yến N và ông Hồ Minh P vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Tuyết
|
Bản án số 517/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 517/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
