Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 517/2025/DS-PT

Ngày: 26 - 12 - 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân

Các Thẩm phán: Ông Trương Thanh Dũng

Bà Tăng Trần Quỳnh Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 472/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 538/2025/QĐXX-PT ngày 01 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Ông Đặng Văn N, sinh năm 1961; CCCD số: [...] và bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1964; CCCD số: 07416400591; cùng địa chỉ cư trú: Số C T, khu phố P, phường P, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Huỳnh Thanh L, sinh năm 1981; CCCD: [...]; địa chỉ cư trú: Số G T, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau; Văn bản ủy quyền ngày 30/11/2024 (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Ông Lâm Văn V, sinh năm 1964; CCCD số: [...]; địa chỉ cư trú: Khóm A, xã S, tỉnh Cà Mau (Ủy quyền cho bà Trần Thị H, văn bản ủy quyền ngày 25/12/2025).
  2. Bà Trần Thị H, sinh năm 1966; CCCD số: [...]; địa chỉ cư trú: Khóm A, xã S, tỉnh Cà Mau.
  3. Ông Lâm Phú T, sinh năm 1993; CCCD số: ...; địa chỉ cư trú: Khóm A, xã S, tỉnh Cà Mau (có đơn xin vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lâm Văn C1, sinh năm 1977; CCCD: ... (vắng mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981; CCCD: ... (vắng mặt);

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Ông Lâm Văn V, bà Trần Thị H, ông Lâm Phú T, cùng là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn trình bày:

Ngày 26 tháng 10 năm 2021, Lâm Phú T vay của ông Đặng Văn N, bà Nguyễn Thị Kim C số tiền 500.000.000 đồng, đã thực hiện nghĩa vụ trả lãi theo thỏa thuận định kỳ hàng quý là 27.500.000 đồng. Ngày trả lãi lần sau cùng là ngày 14/02/2023. Từ đó đến nay, ông T cố tình không thực hiện trả nợ gốc và lãi.

Ngày 25 tháng 5 năm 2022, vợ chồng ông N, bà C cho ông Lâm Văn V, bà Trần Thị H và ông Lâm Phú T cùng vay số tiền 5.000.000.000 đồng. Việc vay tiền có lập Hợp đồng vay, được công chứng hợp pháp. Hợp đồng do ông V và bà H trực tiếp ký kết, ông T là người trực tiếp nhận tiền thông qua chuyển khoản vào ngày 26/5/2022, có thoả thuận lãi. Để đảm bảo khoản vay, các bên thống nhất bị đơn thế chấp bằng 03 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS869992, CS869993, CS869994 được Phòng C2, tỉnh Cà Mau chứng nhận ngày 25/5/2022, số công chứng 02946, quyển số 05/2022 TP/CC/HĐGD. Trong thời gian vay, ông Lâm Phú T có trả lãi một lần vào ngày 29/8/2022, số tiền 222.500.000 đồng. Từ đó đến nay, ông V, bà H và ông T không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi theo thỏa thuận.

Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, ông Huỳnh Thanh L xác định yêu cầu khởi kiện gồm: Buộc ông Lâm Phú T phải trả cho vợ chồng ông Đặng Văn N, bà Nguyễn Thị Kim C số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng; do không chứng minh được về thoả thuận lãi nên không yêu cầu về lãi suất đối với khoản vay này. Buộc ông Lâm Văn V, bà Trần Thị H và ông Lâm Phú T liên đới trả cho nguyên đơn số tiền 5.000.000.000 đồng và lãi phát sinh tính đến thời điểm xét xử với mức lãi suất trong hạn (12 tháng) là 10% và lãi suất quá hạn đối với thời gian còn lại với mức 15% lãi suất trong hạn, tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong khoản vay.

Rút lại yêu cầu về tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất ngày 09/02/2022 giữa ông Lâm Văn V, bà Trần Thị H với ông Lâm Văn C1, bà Nguyễn Thị T1 vô hiệu. Không tiếp tục yêu cầu duy trì tài sản thế chấp đối với các thửa đất 66 tờ bản đồ số 20, thửa số 475 tờ bản đồ số 04 và thửa số 449 tờ bản đồ số 04 cùng toạ lạc ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau do các bên không đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định pháp luật.

Bị đơn bà Trần Thị H trình bày:

Bà H và ông Lâm Văn V không có giao dịch vay tiền từ ông Đặng Văn N, bà Nguyễn Thị Kim C. Do con của bà là Lâm Phú T có giao dịch làm ăn với con của ông Đặng Văn N, bà Nguyễn Thị Kim C nên Lâm Phú T có nhờ vợ chồng ông bà ký vào hợp đồng vay tiền có thế chấp tài sản ngày 25/5/2022. Bà H thừa nhận chữ ký, chữ viết trong Hợp đồng vay tiền có thế chấp tài sản ngày 25/5/2022 được lập tại Phòng Công chứng số A tỉnh Cà Mau là chữ ký, chữ viết của bà, ông Lâm Văn V. Tuy nhiên, khi ký tên bà không có xem lại và thực tế không có nhận tiền từ ông N, bà C, tiền do con là Lâm Phú T nhận. Ba giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất thế chấp trong hợp đồng vay tiền bà H và ông V đã cầm cố trước đó cho vợ chồng ông Lâm Văn C1, bà Nguyễn Thị T1 vào ngày 09/02/2022 âm lịch, thời hạn chuộc lại đất là sau 03 năm, giá trị cầm cố 03 quyền sử dụng đất là 700.000.000 đồng, bà và ông V đã nhận đủ tiền từ ông C1, bà T1. Hợp đồng cầm cố giao kết ngày 09/02/2022 âm lịch, đến ngày 01/5/2022 được Trưởng ấp T xác nhận. Bà H xác định bà chỉ cho anh T mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không trực tiếp nhận tiền từ ông N, bà C. Bà H đồng ý có trách nhiệm liên đới trả số tiền vay 5.000.000.000 đồng và lãi theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, gia đình đang khó khăn nên đồng ý trả dần mỗi năm 200.000.000 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện xử lý tài sản thế chấp là 03 quyền sử dụng đất bà H không đồng ý, yêu cầu được trực tiếp thực hiện việc chuyển nhượng tài sản này để thanh toán tiền cho nguyên đơn và tiền cố đất cho vợ chồng ông C1 bà T1.

Ông Lâm Văn C1 bà Nguyễn Thị T1 thống nhất trình bày:

Ông bà có nhận cầm cố 03 quyền sử dụng đất từ ông V, bà H vào ngày 09/02/2022 âm lịch, thời hạn chuộc lại đất là sau 03 năm, giá trị cầm cố 03 quyền sử dụng đất này là 700.000.000 đồng, ông bà đã giao đủ tiền cho ông V, bà H. Hợp đồng cầm cố được Trưởng ấp T xác nhận ngày 01/5/2022. Hiện tại hợp đồng cầm cố đã đến hạn nhưng ông V, bà H chưa trả lại tiền cầm cố nên vợ chồng ông bà vẫn đang quản lý, sử dụng 03 phần đất trên. Ông bà không yêu cầu độc lập về việc yêu cầu ông V, bà H trả lại số tiền cầm cố số tiền 700.000.000 đồng trong vụ án này, có phát sinh tranh chấp ông bà sẽ khởi kiện trong vụ kiện khác.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau áp dụng Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 5, điểm b, c khoản 3 Điều 6, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, quyết định: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn N, bà Nguyễn Thị Kim C.

Buộc ông Lâm Phú T phải trả cho vợ chồng ông Đặng Văn N, bà Nguyễn Thị Kim C số tiền 500.000.000 đồng nợ gốc.

Buộc ông Lâm Văn V, bà Trần Thị H và ông Lâm Phú T phải liên đới trả cho vợ chồng ông Đặng Văn N, bà Nguyễn Thị Kim C số tiền 6.918.424.000; trong đó: Nợ gốc: 4.907.637.000; tiền lãi 2.010.787.000 đồng.

Hủy phần thế chấp các thửa đất 66 tờ bản đồ số 20, thửa số 475 tờ bản đồ số 04 và thửa số 449 tờ bản đồ số 04 cùng toạ lạc ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau tại Điều 2 trong Hợp đồng vay tiền ngày 25 tháng 5 năm 2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về lãi suất chậm thi hành án, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 05/9/2025, bị đơn ông Lâm Phú T kháng cáo cho rằng khoản 500.000.000 đồng không phải là tiền vay trực tiếp giữa ông và nguyên đơn mà phát sinh trong quá trình hợp tác làm ăn với ông Đặng Duy A. Đối với khoản vay 5.000.000.000 đồng, ông T thừa nhận có nhận và sử dụng nhưng đề nghị được trả dần, giảm lãi và miễn phạt chậm trả. Đồng thời đề nghị không buộc ông Lâm Văn V và bà Trần Thị H liên đới trả nợ vì chỉ cho mượn quyền sử dụng đất để bảo đảm, không hưởng lợi và không thỏa thuận vay.

Ngày 05/9/2025 bị đơn ông Lâm Văn V và bà Trần Thị H kháng cáo cho rằng nghĩa vụ trả nợ thuộc về ông Lâm Phú T, việc thế chấp quyền sử dụng đất chỉ là cho mượn để bảo đảm, không phát sinh nghĩa vụ liên đới; đồng thời đề nghị công nhận giao dịch cố đất với ông C1, bà T1 là hợp pháp, không tuyên vô hiệu.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đồng ý trả lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông V, bà H.

Bi đơn bà Trần Thu H1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xác định có ký hợp đồng vay tiền và thế chấp tài sản 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn nhưng người nhận và sử dụng tiền là Lâm Phú T. Hiện Lâm Phú T là ăn thua lỗ, gia đình thống nhất xin trả dần.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng quy định của pháp luật tố tụng; các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn: Ông Lâm Văn V, Trần Thị H, Lâm Phú T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 135/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Bà Trần Thị H có mặt tại phiên tòa sơ thẩm ngày 20/8/2025, thời hạn kháng cáo của bà H là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà H nộp đơn kháng cáo ngày 05/9/2025 là quá thời hạn kháng cáo (01 ngày) theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của bà H, không làm rõ lý do kháng cáo quá hạn là có thiếu sót. Lẽ ra, kháng cáo của bà H không thuộc phạm vi xem xét của cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, do bà H với ông V là vợ chồng, cùng ký tên trong đơn kháng cáo, nội dung kháng cáo của bà Hà T2 với nội dung kháng cáo hợp lệ của ông Lâm Văn V. Khi xem xét kháng cáo của ông V đồng nghĩa với việc xem xét kháng cáo của bà H, nên Hội đồng xét xử chấp nhận không xem kháng cáo của bà H là quá hạn.

[2] Xét kháng cáo của ông Lâm Phú T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về khoản vay 500.000.000 đồng: Ông Lâm Phú T kháng cáo cho rằng số tiền này ông nhận từ ông Đặng Văn N theo ý định của ông Đặng Duy A (con của nguyên đơn) để thanh toán các khoản nợ của ông Duy A. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ ủy nhiệm chi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á thể hiện việc ông Đặng Văn N chuyển khoản số tiền 500.000.000 đồng cho ông Lâm Phú T vào ngày 26/10/2021 là có căn cứ. Đây là chứng cứ hợp pháp thể hiện việc ông T trực tiếp nhận số tiền nêu trên. Ông T cho rằng khoản tiền này không phải là tiền vay mà là tiền liên quan đến việc hợp tác làm ăn với ông Đặng Duy A (con ông N). Tuy nhiên, ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Lâm Phú T phải trả số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng cho ông N, bà C là có căn cứ.

[2.2] Về khoản vay 5.000.000.000 đồng: Xét thấy, giữa ông N, bà C và ông V, bà H có lập hợp đồng vay tiền, có thế chấp tài sản lập ngày 25/5/2022 được ký kết tại Phòng Công chứng số 01 tỉnh C2 thể hiện bên vay là ông Lâm Văn V và bà Trần Thị H. Quá trình giải quyết vụ án, bà H thừa nhận chữ ký trong hợp đồng vay tiền là của bà và ông V; các bên không có khiếu nại, tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng này. Việc ông V và bà H ký kết hợp đồng vay tiền đã làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn theo quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào việc ai là người trực tiếp nhận và sử dụng số tiền vay. Bà H, ông V cho rằng không trực tiếp nhận và sử dụng tiền vay không làm thay đổi tư cách pháp lý của bên vay đã được xác lập trong hợp đồng nên ông V và bà H có nghĩa vụ thực hiện việc trả nợ theo hợp đồng đã ký kết. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông V, bà H thực hiện nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 288 của Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc ông Lâm Phú T phải liên đới chịu trách nhiệm cùng ông V và bà H là có căn cứ. Bởi lẽ, mặc dù ông T không đứng tên trong hợp đồng vay tiền ngày 25/5/2022 nhưng theo ủy nhiệm chi mà ông N, bà C cung cấp thì khoản vay được chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của ông Lâm Phú T vào ngày 26/5/2022. Ông T thừa nhận là người trực tiếp nhận và sử dụng số tiền vay này; nội dung này phù hợp với lời trình bày của bà H trong quá trình giải quyết vụ án và trong đơn kháng cáo của ông V, bà H. Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Lâm Văn V, bà Trần Thị H và ông Lâm Phú T liên đới thanh toán khoản nợ gốc và lãi cho nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của ông Lâm Văn V, bà Trần Thị H, thấy rằng: Như đã phân tích tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông V, bà H và ông T liên đới thanh toán khoản nợ gốc và lãi cho nguyên đơn là có căn cứ. Vì vậy, kháng cáo của ông V, bà H về việc không đồng ý thanh toán đối với khoản vay 05 tỷ đồng của ông N, bà C là không có cơ sở để chấp nhận.

Đối với giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông V, bà H với ông Lâm Văn C1, bà Nguyễn Thị T1 không phải là đối tượng giải quyết trong vụ án này. Các đương sự không có yêu cầu về việc giải quyết hợp đồng cầm cố này, nên không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm. Trường hợp phát sinh tranh chấp, các bên có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[4] Đối với nội dung liên quan đến giao dịch thế chấp, xét thấy: Giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất là thỏa thuận bảo đảm trong hợp đồng vay tiền ngày 25/5/2022 giữa các đương sự, không được đăng ký giao dịch bảo đảm nên không phát sinh hiệu lực bảo đảm, nguyên đơn cũng không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp và hiện đang giữ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông V, bà H thế chấp. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý trả 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông V, bà H do nguyên đơn đang giữ cho ông V, bà H. Do đó, ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn, tuyên hủy phần thỏa thuận thế chấp các thửa đất, buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bên cho vay trả lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên vay là phù hợp. Cấp phúc thẩm cần sửa nội dung này của án sơ thẩm.

[5] Về lãi suất, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng thời điểm tính lãi, đối trừ khoản tiền đã thanh toán và áp dụng mức lãi suất trong hạn, quá hạn đúng quy định pháp luật. Việc buộc các bị đơn liên đới thanh toán tiền lãi phát sinh như bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T, ông V, bà H. Sửa án sơ thẩm liên quan đến giao dịch thế chấp.

[7] Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông T, bà H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. Ông V được miễn nộp án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lâm Phú T, ông Lâm Văn V, bà Trần Thị H; sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2025/DS-ST ngày 20/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau về giao dịch thế chấp.

  3. Áp dụng Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 5, điểm b, c khoản 3 Điều 6, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  4. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn N, bà Nguyễn Thị Kim C.

    - Buộc ông Lâm Phú T phải trả cho vợ chồng ông Đặng Văn N, bà Nguyễn Thị Kim C số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) nợ gốc.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Lâm Phú T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

    - Buộc ông Lâm Văn V, bà Trần Thị H và ông Lâm Phú T phải liên đới trả cho vợ chồng ông Đặng Văn N, bà Nguyễn Thị Kim C số tiền 6.918.424.000 (sáu tỷ chín trăm mười tám triệu bốn trăm hai mươi bốn nghìn) đồng, trong đó: Nợ gốc: 4.907.637.000 (bốn tỷ chín trăm lẻ bảy triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn) đồng; tiền lãi 2.010.787.000 (hai tỷ không trăm mười triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn) đồng.

    Kể từ ngày 21/8/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc 4.907.637.000 (bốn tỷ chín trăm lẻ bảy triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn) đồng, các bị đơn còn phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi chậm trả phát sinh theo mức lãi suất quá hạn là 15%/năm, tương ứng với khoản nợ gốc còn lại tại từng thời điểm.

    - Hủy phần thế chấp các thửa đất số 66 tờ bản đồ số 20, thửa đất số 475 tờ bản đồ số 04, thửa đất số 449 tờ bản đồ số 04 cùng tọa lạc ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau tại Điều 2 trong Hợp đồng vay tiền ngày 25/5/2022.

    - Buộc ông Đặng Văn N, bà Nguyễn Thị Kim Chi T3 lại cho ông Lâm Văn V, bà Trần Thị H bản chính 03 (ba) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, gồm các Giấy chứng nhận số CS869992, CS869993, CS869994, do Văn phòng đăng ký đất đai (TUQ. Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh C) cấp ngày 30/12/2019.

  5. Căn cứ các Điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
  6. - Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lâm Phú Thịnh T phải chịu 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng. Bà Trần Thị H và ông Lâm Phú T phải liên đới chịu 76.612.000 đồng (bảy mươi sáu triệu sáu trăm mười hai nghìn) đồng.

    - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lâm Phú T, bà Trần Thị H mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Ngày 08/9/2025 ông T, bà H mỗi người có dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại các biên lai thu số 0011720, số 0011721 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí. Ông Lâm Văn V được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 3;
  • - Phòng THADS khu vực 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn;
  • - Lưu VT (TM: TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Trọng Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 517/2025/DS-PT ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 517/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger