Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 517/2024/DS-PT

Ngày: 20/8/2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Đỗ Minh Hoàng;
  2. Ông Lê Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ngô Phương Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 333/DSPT ngày 04 tháng 10 năm 2021, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án sơ thẩm số 69/2021/DSST ngày 22/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm 676/2024/QĐ-PT ngày 29/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 85/2024/QĐHPT-PT ngày 26/01/2024; Thông báo về việc mở lại phiên toà số 53/2024/TB-DS ngày 15/02/2024; Thông báo thay đổi lịch xét xử số 90/2024/TB-DS ngày 05/03/2024; Thông báo về việc mở lại phiên toà số 294/2024/TB-DS ngày 10/07/2024; Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 448/2024/QĐHPT-PT ngày 31/07/2024; Thông báo về việc mở lại phiên toà số 343/2024/TB-DS ngày 06/08/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức D, sinh năm 1973; trú tại: Số nhà I, ngõ A, xóm C, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội.
  2. Bị đơn:
    1. Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1953; trú tại: Số I, ngách H, ngõ T, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
    2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1956; trú tại: Số nhà I, ngõ A, xóm C, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo uỷ quyền: Chị Nguyễn Ngọc M; địa chỉ: A - Tập thể Bộ C4, H, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị B: Luật sư Trần Quốc H, luật sư Hoàng Y - Văn phòng Luật sư Trần Quốc H; Đoàn luật sư Thành phố H.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975;
    2. Anh Nguyễn Đức Hoàng H1, sinh năm 1999;
    3. Cùng trú tại: Số nhà I, ngõ A, xóm C, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội.

    4. Ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1938;
    5. Bà Nguyễn Thị B1 (tức N1), sinh năm 1976;
    6. Cùng trú tại: Số nhà I, ngõ A, xóm C, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.

    7. Ông Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1963;
    8. Bà Lưu Thị H2, sinh năm 1967;
    9. Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1988;
    10. Anh Nguyễn Đức T2, sinh năm 1990;
    11. Chị Phan Thị H3, sinh năm 1994;
    12. Chị Đinh Thị Hồng G, sinh năm 1994;
    13. Cùng trú tại: Số nhà I, ngõ A, xóm C, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội.

    14. Anh Hoàng Văn D1, sinh năm 1978;
    15. Anh Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1980;
    16. Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1986;
    17. Chị Lê Thị H5, sinh năm 1984;
    18. Cùng trú tại: Số nhà I, ngõ A, xóm C, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội.

    19. Ủy ban nhân dân huyện T, Thành phố Hà Nội; trụ sở: Thị trấn V, T, Thành phố Hà Nội; đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến C - Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện T, Thành phố Hà Nội.
    20. Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, Hà Nội; đại diện theo pháp luật: Ông Tưởng Văn C1 - Chủ tịch UBND xã H; Đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Giáng H6; Cán bộ địa chính xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền số 10/ UQ-UBND ngày 02/4/2021)
  4. Người kháng cáo:

Ông Hoàng Văn V, bà Nguyễn Thị B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các ý kiến trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, nguyên đơn - ông Nguyễn Đức D trình bày:

Nguồn gốc ngõ đi hiện nay đang tranh chấp ngày xưa thuộc đất của các cụ họ H7, là một khu vực rất rộng. Bà nội của ông D là cụ Hoàng Thị Đ2 (chết năm 1962); cụ Đ2 là cô ruột của cụ Hoàng Văn Q (là ông nội của ông Hoàng Văn V - là bị đơn trong vụ án này). Do cụ Đ2 là gái đã đi lấy chồng nơi khác nên không được chia đất.

Cụ Hoàng Văn Q có 05 anh em trai gồm: Cụ Q, cụ Hai B2, cụ Ba Đ3 (tức cụ Hoàng Văn Đ4), cụ Tư M1 (tức cụ Hoàng Văn Đ5) và cụ Năm H8 (tức Hoàng Văn H9).

Khoảng năm 1937, cụ tổ Hoàng Văn K có đứng ra chia đất cho các cháu trai là 05 anh em gồm cụ Q, cụ B2, cụ Đ4, cụ Đ5, cụ H9; đồng thời các cụ có thống nhất dành 110m² đất để làm ngõ đi chung cho 05 anh em. Ngõ đi này có chiều rộng khoảng 02 mét, chiều dài thì chạy từ đường xóm vào tới đất cụ Q được chia (đất cụ Q hiện do vợ chồng ông V đang quản lý sử dụng).

Năm 1961, vợ chồng ông Nguyễn Đức N, bà Đoàn Thị C2 (là bố mẹ đẻ của ông Nguyễn Đức D) có mua lại thửa đất 293m² của cụ Ba Đ3 và vợ là cụ Hoàng Thị H10 (được cụ tổ K chia như đã trình bày ở trên). Khi mua là đất trống, nhưng do phía giáp đường xóm đã có tường gạch do các cụ xây cao khoảng 05 mét để lại nên ông N không đi thẳng ra đường xóm được mà vẫn phải sử dụng cổng cũ của cụ Ba Đ3 đi ra ngõ chung rồi từ đó đi ra đường xóm (cổng này hiện nay nằm một phần trên đất của ông Đ và một phần trên đất của bà B1). Việc mua bán này có giấy tờ và có chứng thực của chính quyền địa phương lúc bấy giờ. Sau khi mua đất, ông N có làm ngôi nhà lợp rạ phía sát đường xóm để ở. Năm 1976, ông N dỡ nhà rạ và xây lại thành nhà ngói 05 gian tường gạch, phía ngoài vẫn giữ bức tường gạch cao 05 mét cũ để bảo vệ.

Sau khi ông N mua đất của cụ Ba Đ3 thì ông Lưu Viết D2 cũng mua lại phần đất của cụ Hai B2 được chia, đối diện với đất ông N mua của cụ Ba Đ3 và cùng sử dụng ngõ trên. Thời gian đầu ông D2 cũng sử dụng ngõ này đi lại, sau này khi ông D2 chia đất cho các con thì những người con của ông D2 mở cổng đi thẳng ra đường xóm và không sử dụng ngõ này nữa.

Năm 2001, ông N chia tách đất cho các con: 1/ Ông Đ được chia khoảng 120m² phía trong cùng của thửa đất, ông Đ đã bán và sang tên ông D trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) nhưng trên thực tế thì vợ chồng ông Đ vẫn đang ở trên phần đất này; 2/ Bà B1 được chia khoảng 40m² tại phần giữa thửa đất (phần đất này hiện nay bà B1 và ông N đang ở); ông D và ông M2 mỗi người được chia khoảng 60m² tại chính phần đất có ngôi nhà ngói 05 gian ông N xây trước kia, giáp với đường xóm. Sau khi được chia tách, ông D đã dỡ 2,5 gian nhà ngói này để xây nhà tầng; 2,5 gian nhà ngói cũ hiện vẫn còn trên phần đất chia cho ông M2. Các bên đều đã được cấp GCNQSDĐ. Hiện nay thì có đất của ông Đ và đất bà B1 được chia là vẫn sử dụng ngõ đi chung này vì không còn lối đi nào khác. Còn đất của ông D và của ông M2 thì đã mở cổng đi thẳng ra đường xóm, nhưng ông D có mở cổng phụ và sử dụng ngõ trên để đi lại. Trước đây, ngõ đi này rất thấp, sau này trong quá trình sử dụng, các gia đình ông N, ông Đ, ông V, mỗi khẩu đóng 250.000 đồng để tôn cao ngõ lên khoảng hơn 01 mét, lát lại gạch chỉ.

Trên ngõ đi chung hiện nay tồn tại 04 cổng: Cổng ngoài cùng giáp với đường xóm hình thành vào khoảng năm 1939, ngày xưa xây gá và là cổng chung của các hộ gia đình. Cổng thứ hai nằm khoảng đoạn giữa ngõ, giáp phần đất chia cho ông Đ; năm 1961 khi ông N mua đất của cụ Ba Đ3 thì chưa có cổng này; khoảng năm 1971 cụ Q có xây cổng này và bảo ông Nghĩa L làm cổng để bảo vệ cây cối trồng trọt trong vườn nên ông N đồng ý. Cổng thứ ba là hàng rào thép B40 do ông V mới làm khoảng năm 2016. Cổng thứ tư ở trong cùng giáp với đất của ông V, là cổng cổ có từ thời cùng nhà thờ của ông V, nhưng hiện nay ông V đã tự xây dịch lùi cổng lấn ra phía ngõ khoảng 02 mét.

Như vậy đất của 05 anh em nhà cụ Q được chia trước kia thì có ông N mua của cụ Ba Đ3, ông D2 mua của cụ Hai B2, ông V thì sử dụng đất của cụ Q. Trong quá trình sử dụng ngõ chung, gia đình ông V ở trong cùng nên cứ lấn dần ngõ để làm đất riêng, dẫn đến hiện trạng trên cùng một ngõ nhưng có tới 04 cổng đều do gia đình ông V xây sửa. Từ đó ông V đã cản trở phía nguyên đơn trong việc sử dụng ngõ đi chung.

Nay phía nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc gia đình ông V phải tự tháo dỡ các công trình xây dựng trên ngõ, trả lại ngõ đi chung cho các hộ gia đình.

Trong quá trình Toà án giải quyết, bị đơn - ông Hoàng Văn V, bà Nguyễn Thị B và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn D1, anh Hoàng Văn Đ1, chị Nguyễn Thị H4, chị Lê Thị H5 trình bày:

Nguồn gốc ngõ đi đang tranh chấp là đất của các cụ tổ tiên bên nội của ông Hoàng Văn V để lại từ cách đây hơn hai trăm năm. Cụ Hoàng Văn Q là ông nội của ông V, bố đẻ ông V là ông Hoàng Văn Q1, hiện nay đều đã chết. Ông Nguyễn Đức N quan hệ họ hàng thế nào thì phía bị đơn không biết, cũng không biết ông N mua đất của ai. Năm 1976, khi ông V đi bộ đội về thì đã thấy ông N mua đất và ở cạnh thửa đất nhà ông V, cụ Q có cho ông N đi nhờ ngõ. Cụ Q chết năm 1995.

Năm 1993, cụ Q có lập văn bản cho vợ chồng ông V, bà B được toàn quyền quản lý, sử dụng 05 gian nhà thờ, 04 gian nhà ngang trên thửa đất số 630, diện tích 1.269m², trong đó ghi rõ đây là ngõ riêng đi ra đến ngõ đi công cộng. Năm 1993, lúc đó do ông V ở trên phố không có mặt ở địa phương nên cụ Q đã đồng ý cho cháu dâu là bà Nguyễn Thị B (là vợ ông V) được đứng tên trong GCNQSDĐ. Ngày 08/7/1993, bà Nguyễn Thị B đã được UBND huyện T, Thành phố Hà Nội cấp GCNQSDĐ số C 032827 đối với thửa đất số 630, tờ bản đồ 02, diện tích 1.269m² tại xóm C, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội, trong đó có cả ngõ đi trên. Từ khi ông N mua đất thì ông N đi nhờ ngõ của cụ Q cho đến nay. Ông N chia tách đất cho các con thế nào thì phía bị đơn không biết. Khoảng năm 2019, khi các gia đình làm đường nước thì xảy ra tranh chấp, ông V không đồng ý cho bố con ông N làm đồng hồ nước trên ngõ riêng của gia đình ông V vì các gia đình đều phải đặt đồng hồ nước ngoài đường xóm. Hiện nay chỉ có gia đình ông V và bố con ông N sử dụng ngõ đi này, còn ông D2 đã mở cổng đi thẳng ra đường xóm, không sử dụng ngõ đi này nữa. Từ trước đến nay, gia đình ông V không ngăn cản hay rào ngõ đi này mà vẫn để cho bố con ông N đi lại, thậm chí khi anh D làm nhà tầng có xây lấn ra ngõ khoảng 10 phân đất nhưng ông V không nói gì. Trước đây, trên toàn bộ thửa đất nhà ông N mua lại chỉ có một cổng đi ra ngõ nhà ông V; nhưng từ sau khi ông N chia đất cho các con thì bố con ông N đã trổ thêm 02 cổng nữa để đi ra ngõ này, trong đó có 01 cổng phụ nhà anh D mới xây.

Cổng phía bên trong (cổng thứ hai tính từ đường xóm vào, giáp với cổng nhà ông Đ) là do ông V xây từ khoảng năm 1981 để ngăn ngừa trộm cắp, khi xây thì các bên không ai có ý kiến gì. Còn cổng ngoài cùng giáp với đường xóm thì đây là cổng cổ, xây cùng thời với nhà thờ cách đây khoảng hơn hai trăm năm, do lâu ngày đổ nát nên năm 2004 ông V đã sửa lại. Sau này anh D làm nhà đã phá dỡ chỉ còn phần móng cổng nên ông V mới làm lại phần xây dựng nổi trên mặt đất như hiện nay.

Nay phía bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định đây là ngõ đi chung. Phía bị đơn đề nghị Tòa án căn cứ vào hệ bản đồ năm 1986 để giải quyết vì GCNQSDĐ mang tên bà B được cấp theo hệ bản đồ này. Khi cụ Ba Đ3 bán đất cho ông N, các bên thỏa thuận ông N chỉ đi nhờ ngõ của cụ Q, chứ không xác định đó là ngõ đi chung của các nhà. Do vậy phía bị đơn đề nghị giữ nguyên cổng cổ giáp đường xóm và không được phá dỡ các công trình xây dựng trên ngõ. Bị đơn không đồng ý với quan điểm của đại diện UBND xã H đã xác định một phần ngõ đi trên là ngõ công do UBND xã đang quản lý. Ngoài ngõ đi này ra thì gia đình ông V cũng không có ngõ đi nào khác.

Sau khi đo lại toàn bộ diện tích 04 thửa đất 139, 139(1), 139(2), 139(3) tờ bản đồ 02 năm 1994 mang tên ông M2, ông D, bà B1 (được tách ra từ thửa ông N mua của cụ Ba Đ3 trước đây), diện tích 04 thửa này có thừa ra 04m² so với các GCNQSDĐ mà phía nguyên đơn đã được cấp nên phía bị đơn yêu cầu chủ sử dụng 04 thửa này phải trả lại 04m² đất cho ngõ đi, nhưng phía bị đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh ngõ đi bị lấn chiếm ở vị trí nào.

Trong quá trình Tòa án giải quyết người liên quan bà Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Đức Hoàng H1, bà Lưu Thị H2, anh Nguyễn Đức T1, anh Nguyễn Đức T2, chị Phan Thị H3, chị Đinh Thị Hồng G trình bày:

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan này hoàn toàn nhất trí với mọi ý kiến của anh D, ông N, ông Đ; không có ý kiến gì khác và đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt.

Trong quá trình Tòa án giải quyết, người (tổ chức, pháp nhân) liên quan UBND xã H, huyện T, Hà Nội trình bày:

Về việc các bên đang tranh chấp ngõ đi chung nói trên, do hệ thống bản đồ qua các thời kỳ có biến động về diện tích ngõ đi nên nếu căn cứ vào các hệ thống bản đồ để giải quyết tranh chấp là chưa đảm bảo quyền lợi của các bên, vì thửa đất của gia đình ômg Hoàng Văn V, bà Nguyễn Thị B đã được cấp GCNQSDĐ theo bản đồ đo năm 1986, còn thửa đất của gia đình ông Nguyễn Đức D được cấp GCNQSDĐ theo bản đồ đo năm 1994. Phần diện tích ngõ đi so sánh giữa hiện trạng với bản đồ đo năm 1986 và bản đồ đo năm 1994 có sự thay đổi.

Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì căn cứ hiện trạng sử dụng đất và các ý kiến của những người sinh sống lâu đời đã từng cư trú gần khu vực ngõ đi có tranh chấp để xem xét giải quyết.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 69/2021/DSST ngày 22/6/2021 của Tòa án nhân dân, Thành phố Hà Nội đã quyết định như sau:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức D đối với ông Hoàng Văn V và bà Nguyễn Thị B.
  2. Xác định ngõ đi có diện tích đo thực tế là 35,5m² tại tờ bản đồ 02 năm 1994, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội là ngõ đi chung. Ngõ này có các cạnh như sau: Chiều rộng ngõ phía ngoài giáp đường xóm là 1,91m; chiều rộng ngõ phía trong giáp với thửa 138 là 1,62m; chiều dài ngõ phía Bắc giáp với các thửa 139, 139(1), 139(3) có các số đo lần lượt là 0,14m; 4,67m; 1,66m; 0,15m; 0,14m; 2,96m; 4,50m; 0,10m và 5,43m; chiều dài ngõ phía Nam giáp với các thửa 141, 141(1), 141(4) có số đo lần lượt là 7,51m; 7,17m và 6,49m (được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 1 thể hiện trong sơ đồ kèm theo bản án)
  3. Buộc gia đình ông Hoàng Văn V bà Nguyễn Thị B phải tự tháo dỡ các công trình xây dựng trên ngõ, gồm: Cổng ngoài cùng giáp với đường xóm, cổng thứ hai tính từ ngoài đường xóm vào (cổng này sát với cổng đi vào thửa 139), phần mái tôn phía trên cổng thứ hai và các công trình xây dựng khác để trả lại quyền sử dụng chung ngõ đi cho các bên.
  4. Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai chủ động tự điều chỉnh lại GCNQSDĐ đất số C 032827 do UBND huyện T, thành phố Hà Nội cấp ngày 08/7/1993 mang tên bà Nguyễn Thị B đối với thửa số 630, diện tích 1.269m², tờ bản đồ 02 năm 1986 (nay là thửa 138, tờ bản đồ 02 năm 1994) xã H, huyện T, thành phố Hà Nội (vào sổ GCNQSDĐ số 00462 QSDĐ/24/12). Việc điều chỉnh này sẽ căn cứ vào bản án có hiệu lực thi hành. Diện tích đất cần điều chỉnh là 7,9m² tại tờ bản đồ 02 năm 1994 xã H, huyện T, thành phố Hà Nội; có các cạnh như sau: cạnh phía Bắc giáp với thửa 139 có các số đo lần lượt là 0,14m; 4,67m; cạnh phía Nam giáp với thửa 141(4) là 4,69m; cạnh phía Tây là 1,62m và chia thửa 138; phía Đông giáp đoạn ngõ chung là 1,76m (được giới hạn bởi các điểm 14, 15, 16, 17, 18, 26, 14 thể hiện trong sơ đồ kèm theo bản án).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Sau phiên toà, ông Hoàng Văn V, bà Nguyễn Thị B kháng cáo toàn bộ bản án

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Ông Hoàng Văn V, bà Nguyễn Thị B trình bày:

Ông bà vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Ông bà được ông nội ông V giao cho quản lý nhà đất từ khoảng năm 1976. Khi ông bà quản lý nhà đất thì nhà ông N (bố ông D) đã ở phần diện tích nhà đất mua của ông Đ3 nhưng không đi vào diện tích ngõ tranh chấp mà mở cửa đi ra đường làng.

Cổng cổ sát đường làng gia đình ông đã xây từ những năm 30 của thế kỷ trước; cổng này có bậc lên xuống nhưng không có cánh. Cổng thứ hai do cụ Q xây từ năm 1971, trước khi bàn giao nhà đất cho ông; lúc này gia đình ông N vẫn mở cổng ra đường làng nên không hề có ý kiến gì việc cụ Q xây cổng. Năm 1981, gia đình ông xây lại cổng, có cánh cổng, hàng đêm được khoá để bảo vệ an ninh từ năm 1971 cho đến nay. Ngoài gia đình ông V, từ trước đến nay không có gia đình nào đi lại vào cổng thứ hai này.

Khoảng năm 2003-2004 khi ông N chia tách đất cho các con thì phần nhà của bà B1 và của ông Đ mới trổ cổng đi vào ngõ đi tranh chấp nhưng đều nằm ngoài cánh cổng thứ hai. Gia đình ông D và ông M2 mở cửa đi thẳng ra đường làng chứ không đi vào ngõ tranh chấp.

Bản án năm 1996 có hiệu lực pháp luật nhưng do không đưa bà Nguyễn Thị B là người được cấp GCNQSDĐ đối với toàn bộ thửa đất 630 vào là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên không thi hành án được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự để sửa về án phí; giữ nguyên các nội dung khác của bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về kháng cáo: Ông Hoàng Văn V, bà Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định. Do đó, kháng cáo đảm bảo về chủ thể, hình thức, nội dung và trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm: Các đương sự đều đã được tống đạt hợp lệ đến tham gia phiên tòa. Tại phiên toà phúc thẩm, có mặt ông Hoàng Văn V, bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Ngọc M, anh Hoàng Văn D1, anh Hoàng Văn Đ1. Vắng mặt các đương sự khác, các đương sự có mặt không ai có yêu cầu hoãn phiên toà. Hội đồng xét xử thấy cần xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về thủ tục tiền tố tụng: Tại Thông báo số 89/TB-UBND ngày 04/05/2019 của UBND xã H gửi ông Nguyễn Đức D có nội dung: Để giải quyết đơn của ông Nguyễn Đức D về tranh chấp ngõ đi; ngày 24/04/2019, UBND xã H đã mời ông Nguyễn Đức D và ông Hoàng Văn V, bà Nguyễn Thị B đến làm việc nhưng ông D không đến Toà. Tại buổi làm việc ngày 24/04/2019, ông V, bà B có ý kiến thống nhất giữ nguyên hiện trạng ngõ đi. UBND xã H tiếp tục mời ông Nguyễn Đức D đến làm việc vào ngày 04/05/2019, ông D đến nhưng không ký biên bản làm việc. Do vậy, UBND xã H đã tiến hành làm việc nhưng không hoà giải được do người khởi kiện không đến và đến nhưng không ký biên bản; đảm bảo điều kiện tiền tố tụng theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai năm 2013.

[2] Xét kháng cáo của ông Hoàng Văn V, bà Nguyễn Thị B:

Theo các tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp và do Tòa án sơ thẩm thu thập được thì nguồn gốc ngõ hiện nay các bên đang tranh chấp có nguồn gốc thuộc đất của các cụ tổ tiên họ H7, thôn H, xã H để lại.

Các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện. Ngày 28/04/1937, cụ tổ H có văn bản chia đất dung (BL27) cho các 05 người có nội dung: Trích ra 110m² cho cháu trưởng là Hoàng Văn Q trên đất có nhà ngói; trích ra 288m² cho cháu là Hoàng Văn Đ4 trên đất có nhà ngói 05 gian; trích ra 544m² cho cháu là Hoàng Văn B3; trích ra 455m² cho cháu là Hoàng Văn Đ5; trích ra 210m² cho cháu là Hoàng Văn H9.

Sau khi được chia đất; năm 1961, vợ chồng cụ Hoàng Văn Đ4 đã bán phần đất (được cụ tổ Khoát chia năm 1937) cho vợ chồng ông Nguyễn Đức N và Đoàn Thị C2; “Văn tự bán đất” ngày 28/12/1961 (BL28) có nội dung: Tôi có một thửa đất số 798, diện tích 293m² (gồm 02 cái bể, ba dãy tường) Đông giáp đường đi; Tây giáp ao của ông Hoàng Văn G1; Bắc giáp ông Hoàng Văn Q. Ngoài chỗ đất tường, bể kể trên ra, tường hồi và dãy tường phía Bắc và ngõ đi là của ông Hoàng Văn Q. Tôi đem bán đất, bể và ba dãy tường kể trên cho vợ chồng ông Nguyễn Đức N, bà Đoàn Thị C2.

Các bên đương sự đều xác nhận, kể từ ngày 28/12/1961 sau khi ông Nguyễn Đức N mua đất của cụ Hoàng Văn Đ4 năm 1961 cho đến nay; phần ngõ đi tranh chấp này chỉ có 02 gia đình là nhà ông V (sử dụng phần đất của cụ Q được chia năm 1937) và gia đình ông N đi vào ngõ đi này. Các con cháu khác của cố K và người mua sau đi ra đường làng, không đi vào ngõ này.

Tại biên bản xem xét thẩm định và các đương sự đều xác nhận trên cả ngõ đi (từ đường làng vào đến nhà thờ gia đình ông V đang quản lý) hiện nay đang có 04 cổng: Từ đường làng vào thì cổng thứ nhất xây năm 1939; cổng thứ 2 do cụ Q xây năm 1971, gia đình ông V xây lại cổng vào năm 1981, có cánh cổng và có khoá; hai cổng khác đi vào nhà thờ của gia đình ông V.

Theo bản đồ năm 1986, toàn bộ ngõ đi đang tranh chấp nằm trong thửa đất số 630, tờ bản đồ 02, diện tích 1.269m² tại xóm C, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội đã được UBND huyện T, TP Hà Nội cấp GCNQSDĐ số GCN 032827 ngày 08/7/1993 cho bà Nguyễn Thị B.

Bản án dân sự phúc thẩm số 318/DSPT ngày 30/11/1996 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã giải quyết việc đòi đất ở giữa nguyên đơn là bà Lê Thị C3, chị Hoàng Thị T3, chị Hoàng Thị O, chị Hoàng Thị L1, chị Hoàng Thị P, chị Hoàng Thị T4 với bị đơn là anh Hoàng Văn V (liên quan đến phần đất cụ Hoàng Văn Đ5 được chia năm 1937). Phần quyết định của Bản này đã tuyên: Xác định thửa đất thổ cư số 817, tờ bản đồ số 3 (bản đồ lập năm 1962), có diện tích 455m2 ở thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội thuộc quyền quản lý sử dụng của ông Hoàng Văn Đ5, do ông Đ5 đã chết năm 1958 không có di chúc nên vợ con ông Đ5 đồng thời là các đồng thừa kế của ông Đ5, gồm: bà Lê Thị C3, các chị Hoàng Thị T3, Hoàng Thị O, Hoàng Thị L1, Hoàng Thị P, Hoàng Thị T4. Chấp nhận yêu cầu đòi thửa đất nêu trên của gia đình bà Lê Thị C3 đối với anh Hoàng Văn V. Ghi nhận sự tự nguyện của gia đình bà C3 dành diện tích đất là 1,5m x 14m = 21m² giáp phía tường nhà ông Lưu Viết D2 (cách mép tường 1,5m và chạy dài 14m song song với tường) làm lối đi chung cho gia đình anh V vào thửa đất phía trong. Xác nhận lối đi từ trong ra đường làng là lối đi chung của các gia đình. Hiện nay Bản án dân sự phúc thẩm này đã có hiệu lực thi hành. Theo cung cấp của đại diện Cơ quan thi hành án dân sự Thanh Trì cơ quan thi hành án dân sự huyện T đang ra quyết định hoãn thi hành án đối với bản án này.

Hội đồng xét xử nhận thấy,

Tài liệu là “Văn bản chia đất ngày 28/04/1937” là bản phô tô, không phải là bản gốc, bản sao; hơn nữa phần liên quan đến diện tích ngõ đi 110m² bị tẩy xoá không đảm bảo điều kiện là chứng cứ; phần diện tích ngõ đi chung của 05 người cháu được cụ K chia đất không có căn cứ để xác định được.

Tài liệu là “Giấy bán ao” ngày 10/10/1959” (BL26) là bản phô tô (không phải là bản gốc, bản sao) có nội dung: Cụ Hoàng Văn Đ4 cùng vợ là Nguyễn Thị H11 có một cái ao, số cũ 798, số mới 800 diện tích chu vi 390m phía Nam giáp ông Hoàng Văn H9, Bắc giáp Hoàng Văn M3 có một dãy tre và một cầu gách bán cho vợ chồng ông Hoàng Cao G2 sử dụng. Tuy nhiên, phần đề cập đến đường đi có dấu hiệu viết thêm, không cùng nét chữ với phần nội dung của văn bản. Văn bản lập đến nay đã 65 năm, những người tham gia lập văn bản đã chết nên không có căn cứ xác thực về tài liệu này.

Đối với tài liệu là “Văn tự bán đất” ngày 28/12/1961” là bản sao có công chứng; đủ điều kiện là chứng cứ theo quy định tại Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong đó có nội dung “tường hồi và dãy tường phía B4 và ngõ đi là của ông Hoàng Văn Q”. Như vậy, cụ N mua diện tích đất chỉ có lối đi ra đường làng mà không có lối đi vào ngõ tranh chấp.

Các đương sự đều xác nhận từ năm 2003-2004 gia đình cụ N chia đất cho các con; từ 01 thửa đất mua của cụ Đ4 thì cụ N đã chia tách thành 04 thửa trong đó có thửa của ông Đ (đứng tên ông D) và bà B1 chỉ có lối đi duy nhất ra ngõ đi tranh chấp. Thực tế, nhà ông Đ (đứng tên ông D) và nhà bà B1 đã mở hai cổng đi vào từ ngõ đi tranh chấp vào nhà và cả hai ngõ này đều nằm ngoài cổng thứ hai. Sau cánh cổng thứ hai, từ năm 1971 đến nay chỉ có gia đình bị đơn - ông V đi vào. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 318/DSPT ngày 30/11/1996 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội có nội dung: Xác nhận lối đi từ trong ra đường làng là lối đi chung của các gia đình. Tuy nhiên, đây là vụ kiện tranh chấp giữa vợ con cụ Hoàng Văn Đ5 và ông Hoàng Văn V (cháu cụ Hoàng Văn Q) nên phần quyết định như trên không có nghĩa là ngõ đi chung của gia đình ông Nguyễn Đức N hay là ngõ đi công.

Mặc dù, toàn bộ diện tích ngõ đi tranh chấp nằm trong thửa đất 630 tờ bản đồ năm 1986 đã được cấp GCNQSDĐ đứng tên bà Nguyễn Thị B nhưng cần giữ nguyên hiện trạng ngõ đi như hiện nay. Hội đồng xét xử thấy cần tôn trọng tính lịch sử về việc sử dụng ngõ đi của gia đình ông N đối với phần ngõ đi từ cổng thứ nhất đến ngoài cánh cổng thứ hai; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông D xác định diện tích đất từ cổng thứ nhất đến cổng thứ hai là ngõ đi chung; không chấp nhận phần diện tích sau cổng số hai là ngõ đi chung đối với gia đình nguyên đơn là phù hợp với Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 5,7 Điều 166 Luật đất đai năm 2013.

[3] Về án phí:

[3.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông V, bà B phải chịu án phí sơ thẩm. Tuy nhiên, ông V, bà B là người trên 60 tuổi và tại phiên toà phúc thẩm ông V, bà B nộp đơn xin miễn giảm án phí nên được miễn án phí theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009.

[3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên những người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội về sửa án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Khoản 5,7 Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
  • - Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009;
  • - Điều 271, Điều 272, Điều 273; khoản 2 Điều 296; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Hoàng Văn V và bà Nguyễn Thị B; sửa Bản án sơ thẩm số 69/2021/DSST ngày 22/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội cụ thể như sau:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức D đối với ông Hoàng Văn V và bà Nguyễn Thị B.
  2. Xác định ngõ đi từ cổng thứ nhất đến cổng thứ hai có diện tích đo thực tế là 27,6 m² ,tại tờ bản đồ 02 năm 1994, xã H, huyện T, TP Hà Nội là ngõ đi chung. Ngõ này có các cạnh như sau: chiều rộng ngõ phía ngoài giáp đường xóm là 1,91m; chiều rộng là 1,76m; chiều dài ngõ phía Bắc 1,66m; 0,15m; 0,14m; 2,96m; 4,50m; 0,10m và 5,43m; chiều dài ngõ phía Nam giáp với các thửa 141, 141(1), 141(4) có số đo lần lượt là 7,51m; 7,17m (được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 18, 19, 1 thể hiện trong sơ đồ kèm theo bản án).
  3. Buộc gia đình ông Hoàng Văn V bà Nguyễn Thị B phải tự tháo dỡ các công trình xây dựng trên ngõ, gồm: cổng ngoài cùng giáp với đường làng và các công trình xây dựng khác để trả lại quyền sử dụng chung ngõ đi.
  4. Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai chủ động tự điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN 032827 do UBND huyện T, Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/7/1993 cho bà Nguyễn Thị B đối với thửa đất số 630, tờ bản đồ 02, diện tích 1.269m² tại xóm C, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội theo bản án có hiệu lực.

Các đương sự có trách nhiệm chấp hành các quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đất đai.

[5] Về án phí:

Anh Nguyễn Đức D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại BL số AA/2017/0006948 ngày 27/4/2020 tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T.

Ông Hoàng Văn V và bà Nguyễn Thị B phải chịu 330.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và không phải chịu án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày Tòa tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nơi nhận:

  • - VKS NDTP Hà Nội;
  • - TAND huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Trì;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 517/2024/DS-PT ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 517/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger