|
TÒA PHÚC THẨM TAND TỐI CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 516/2025/HS-PT Ngày: 26/11/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Thanh;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Đình Khánh; Ông Trần Xuân Thảo.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm - Thư ký viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng P, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 359/2025/TLPT-HS ngày 25 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo Thái Thị Thùy L cùng các bị cáo khác. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 111/2025/HS- ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
* Các bị cáo có kháng cáo:
- Thái Thị Thùy L, sinh năm 1996 tại tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là xã N, tỉnh Hưng Yên); nơi ở hiện tại: Số A, tổ D, xã N, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Nhân viên kiểm hàng Công ty cổ phần T5; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn D (đã chết) và bà Phùng Thị L1; có chồng là An Tuấn A (đã ly hôn) và 02 con (sinh năm 2019 và 2021); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2024, đến ngày 20/11/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Bảo lĩnh, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Trần Văn M, sinh năm 1996 tại tỉnh Nghệ An. HKTT: Xóm A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là: xã Đ, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện tại: Thôn P, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội (nay là xã P, thành phố Hà Nội); nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Đinh Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh H. Có mặt.
- Tô Thị H, sinh năm 1995 tại tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là xã N, tỉnh Hưng Yên); nghề nghiệp: Nhân viên kiểm hàng Công ty cổ phần T5; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn H1 và bà Nguyễn Thị S; có chồng là Võ Văn Q và 02 con (sinh năm 2016 và 2020); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/12/2024, đến ngày 21/02/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Bảo lĩnh, hiện đang đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Đặng Thị C, sinh năm 1990 tại tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình). Nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là: Xã L, tỉnh Hưng Yên); nghề nghiệp: Nhân viên kiểm hàng Công ty cổ phần T5; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Thành T2 và bà Nguyễn Thị K; có chồng là Trần Vĩnh P1 và 01 con (sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/12/2024, đến ngày 22/01/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Bảo lĩnh, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Trần Quang H2, sinh năm 1976 tại tỉnh Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình). Nơi cư trú: Tổ C, phường M (phường C), thành phố P, tỉnh Hà Nam (nay là phường P, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: Nguyên Trưởng phòng kho Công ty cổ phần T5; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H3 và bà Đào Thị L2; có vợ là Nguyễn Thị D1 và 02 con (sinh năm 2010 và 2013); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/10/2024, đến ngày 20/11/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện đang C1 đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Thái Thị Thùy L: Luật sư Nguyễn Văn P2, Công ty L5 - Đoàn luật sư tỉnh H. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn M: Luật sư Nguyễn Thị Vân A1, Công ty L6 - Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Thị C: Luật sư Vũ Văn L3 (vắng mặt) và Luật sư Vũ Quang B, Công ty L7 - Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Lê Đức R, Nguyễn Văn H4 không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với động cơ, mục đích vụ lợi, Lê Đức R, Thái Thị Thùy L, Trần Văn M, Nguyễn Văn H4, Đặng Thị C và Tô Thị H đã bàn bạc, thống nhất thực hiện hành vi tham ô tài sản tại kho của Công ty cổ phần T5 (Viết tắt: Công ty T5) có trụ sở tại Khu công nghiệp P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là xã N, tỉnh Hưng Yên). Các bị cáo lợi dụng nhiệm vụ được giao trong công tác quản lý, kiểm đếm và vận chuyển hàng hóa để chiếm đoạt số lượng lớn sữa từ kho của công ty T5, sau đó bán lại cho người khác hoặc sử dụng cá nhân.
Lê Đức R ngoài hành vi tham ô, với vai trò quản lý kho cùng với Trần Quang H2, cả hai bị cáo đã thiếu trách nhiệm trong việc giám sát, quản lý và kiểm kê hàng hóa, dẫn đến thất thoát lớn tài sản của công ty T5.
Hành vi phạm tội cụ thể của các bị cáo như sau:
- Hành vi tham ô tài sản của Thái Thị Thùy L và Trần Văn M: Từ tháng 7/2023 đến tháng 4/2024, Thái Thị Thùy L (nhân viên kiểm hàng) và Trần Văn M (lái xe Công ty V1) bàn bạc chiếm đoạt sữa từ kho của công ty T5. L lợi dụng việc kiểm soát phiếu soạn hàng, ghi tăng số lượng thùng sữa trên phiếu trắng, bỏ qua kiểm tra hàng trên xe nâng và hủy phiếu giả để thay bằng phiếu đúng. M nhận hàng từ L, bán cho anh Hạ Văn X (thủ kho Công ty B1) với giá rẻ hơn 50.000 – 60.000 đồng/thùng. Tổng cộng, L và M chiếm đoạt 1.600 thùng sữa GrowPlus đỏ suy dinh dưỡng (48 hộp/thùng) và một số sản phẩm sữa thạch Cacao, trị giá 675.840.000 đồng theo Kết luận định giá số 88/KL-HĐĐG. Mạnh giữ 83.500.000 đồng, L nhận 592.340.000 đồng để chi tiêu chung (do cả hai chung sống như vợ chồng). L đã tự nguyện nộp 20.000.000 đồng, M đã nộp 100.000.000 đồng để khắc phục thiệt hại.
- Hành vi tham ô tài sản của Lê Đức R và Đặng Thị C: Từ tháng 7/2023 đến tháng 4/2024, Lê Đức R (Giám sát kho kiêm Thủ kho sữa nước công ty T5) và Đặng Thị C (nhân viên kiểm hàng) thỏa thuận chiếm đoạt sữa từ kho của công ty T5. Khi muốn lấy sữa, C liên hệ để Ruân sửa phiếu soạn hàng tăng số lượng, trực tiếp lái xe nâng đưa hàng qua cửa kiểm soát do C phụ trách, sau đó hủy phiếu giả. Sữa được vận chuyển ra ngoài qua các lái xe (M, Bùi Văn T3, Đinh Thế C2). Tổng cộng, các bị cáo chiếm đoạt 400 thùng sữa các loại (200 thùng GrowPlus đỏ 110ml, 100 thùng sữa lúa mạch ca cao Nuvi 170ml, 50 thùng sữa tươi Nuvi Cacao 180ml, 50 thùng sữa đậu nành Nuti 200ml), trị giá 138.180.000 đồng theo Kết luận định giá số 88/KL-HĐĐG. Châm bán một phần cho chị Trần Thị V (5.000.000 đồng) và anh Trần Văn N (8.300.000 đồng), chuyển trả Ruân 100.000.000 đồng. Châm đã tự nguyện nộp 66.801.000 đồng để khắc phục thiệt hại.
- Hành vi tham ô tài sản của Lê Đức R và Nguyễn Văn H4: Từ tháng 10/2023 đến tháng 3/2024, Nguyễn Văn H4 (nhân viên lái xe nâng) biết Ruân có thể lấy sữa trái phép, nên đề nghị Ruân chiếm đoạt sữa để bán cho H4. Ruân sửa phiếu soạn hàng tăng số lượng, vận chuyển hàng qua các lái xe (Bùi Văn T3, Đinh Thế C2). Tổng cộng, các bị cáo chiếm đoạt 1.790 thùng sữa (594 thùng GrowPlus đỏ 110ml, 576 thùng sữa lúa mạch ca cao Nuvi 170ml, 540 thùng sữa lúa mạch ca cao Nuvi 100ml, 50 thùng sữa đậu nành Nuti 200ml, 30 thùng sữa tươi Nutimilk 110ml), trị giá 555.530.400 đồng theo Kết luận định giá số 88/KL-HĐĐG. H4 trả Ruân 280.000.000 đồng (gồm chuyển khoản và tiền mặt). H4 tự nguyện nộp 102.000.000 đồng để khắc phục thiệt hại.
- Hành vi tham ô tài sản của Lê Đức R và Tô Thị H: Từ tháng 8/2023 đến tháng 3/2024, Tô Thị H (nhân viên kiểm hàng) đề nghị Ruân giúp lấy sữa đậu nành Nuti 200ml ra khỏi kho để sử dụng hoặc cho người thân. H tự sửa phiếu soạn hàng tăng số lượng, thông báo cho R. Tổng cộng, các bị cáo chiếm đoạt 400 thùng sữa đậu nành Nuti 200ml, trị giá 53.280.000 đồng theo Kết luận định giá số 88/KL-HĐĐG. H trả cho R 31.000.000 đồng. H đã tự nguyện nộp lại số tiền 53.280.000 đồng để khắc phục toàn bộ thiệt hại.
Tổng giá trị tài sản các bị cáo tham ô là: 1.422.830.400 đồng (L và M: 675.840.000 đồng; R và C: 138.180.000 đồng; R và H4: 555.530.400 đồng; R và H: 53.280.000 đồng)
- Hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản của Trần Quang H2 và Lê Đức R: Trần Quang H2 (Trưởng phòng kho) và Lê Đức R (Giám sát kho kiêm Thủ kho sữa nước) không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ kiểm kê, giám sát hàng hóa theo quy định của Công ty T5 (Bản mô tả công việc năm 2022; Quy trình kiểm kê hàng tồn kho năm 2022; Quy trình Cycle Count năm 2023). Các bị cáo không kiểm tra thường xuyên, không yêu cầu nhân viên kiểm đếm hàng hóa định kỳ dẫn đến thất thoát 439.138 hộp sữa các loại qua ba đợt kiểm kê (20/01/2024, 19/05/2024, 08/06/2024). Theo Kết luận định giá số 88/KL-HĐĐG của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hưng Yên, tổng giá trị tài sản bị thất thoát là 3.430.327.801 đồng, trong đó giá trị tài sản bị tham ô là 1.422.830.400 đồng. H2 phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ thiệt hại (3.430.327.801 đồng), R phải chịu trách nhiệm thiệt hại tại kho sữa nước (2.233.942.441 đồng sau khi trừ giá trị tài sản chiếm đoạt). Tại giai đoạn sơ thẩm, Trần Quang H2 đã tự nguyện nộp 400.000.000 đồng để khắc phục thiệt hại.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm: Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; bị cáo L và M đầu thú; các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền khắc phục thiệt hại: L (20.000.000 đồng), M (100.000.000 đồng), C (66.801.000 đồng), H4 (102.000.000 đồng), H (53.280.000 đồng), H2 (400.000.000 đồng).
Bị hại - Công ty T5: Yêu cầu các bị cáo phạm tội tham ô phải bồi thường toàn bộ giá trị tài sản đã chiếm đoạt, các bị cáo phạm tội Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại cho doanh nghiệp phải bồi thường 60% tổng giá trị tài sản thất thoát, và đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Những người có liên quan:
- Anh Phạm Đức L4: Giám sát kho, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do không xác định được thời điểm thất thoát hàng hóa trong thời gian anh quản lý.
- Anh Nguyễn Phương H5: Thủ kho sữa bột, bị xử phạt hành chính do giá trị tài sản thất thoát (trong thời gian anh làm quản lý) dưới 100.000.000 đồng, không đủ điều kiện để xử lý hình sự. Anh H5 có nghĩa vụ cùng các bị cáo có cùng hành vi bồi thường một phần giá trị thiệt hại tương ứng là 94.868.995 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2025/HS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đức R, Thái Thị Thùy L, Trần Văn M, Nguyễn Văn H4, Đặng Thị C, Tô Thị H phạm tội “Tham ô tài sản”; bị cáo Lê Đức R, Trần Quang H2 phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp” và quyết định xử phạt với các bị cáo có kháng cáo như sau:
- Về trách nhiệm hình sự:
- - Đối với bị cáo Thái Thị Thùy L: Áp dụng điểm a khoản 3, khoản 6 Điều 353; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2024 đến 20/11/2024.
- - Đối với bị cáo Trần Văn M: Áp dụng điểm a khoản 3, khoản 6 Điều 353; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024.
- - Đối với bị cáo Đặng Thị C: Áp dụng điểm c, d khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến 22/01/2025.
- - Đối với bị cáo Tô Thị H: Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến 21/02/2025.
- - Đối với bị cáo Trần Quang H2: Áp dụng khoản 3 Điều 179; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt, được trừ thời gian giam từ ngày 15/10/2024 đến 20/11/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 468, 584, 585, 586, 587 Bộ luật Dân sự.
- 2.1. Ghi nhận số tiền các bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả cho bị hại:
- Thái Thị Thùy L đã nộp 20.000.000 đồng.
- Trần Văn M đã nộp 100.000.000 đồng.
- Đặng Thị C đã nộp 66.801.000 đồng.
- Tô Thị H đã nộp 53.280.000 đồng.
- Nguyễn Văn H4 đã nộp 102.000.000 đồng.
- Trần Quang H2 đã nộp 400.000.000 đồng.
- 2.2. Buộc các bị cáo tiếp tục bồi thường cho Công ty cổ phần T5 số tiền thiệt hại sau khi trừ số tiền đã khắc phục, cụ thể:
- Bị cáo Lê Đức R: Bồi thường do tham ô: 351.379.000; Bồi thường do thiếu trách nhiệm: 67.430.732. Tổng số tiền phải bồi thường: 818.809.732 đồng;
- Bị cáo Thái Thị Thùy L: Bồi thường do tham ô: 555.840.000 đồng;
- Bị cáo Nguyễn Văn H4: Bồi thường do tham ô: 173.530.400 đồng;
- Bị cáo Trần Quang H2: Bồi thường do thiếu trách nhiệm: 287.067.708 đồng.
- 2.1. Ghi nhận số tiền các bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả cho bị hại:
- Về án phí:
- 3.1. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Thái Thị Thùy L, Trần Văn M, Đặng Thị C, Tô Thị H, Trần Quang H2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- 3.2. Án phí dân sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền bồi thường còn lại, cụ thể: Thái Thị Thùy L: 26.233.600 đồng; Nguyễn Văn H4: 8.676.520 đồng; Trần Quang H2: 14.353.385 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt, trách nhiệm dân sự, án phí đối với các bị cáo khác và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- - Ngày 26/8/2025, bị cáo Trần Quang H2 có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
- - Ngày 27/8/2025, các bị cáo Tô Thị H, Đặng Thị C có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
- - Ngày 29/8/2025, bị cáo Thái Thị Thùy L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
- - Ngày 02/9/2025, bị cáo Trần Văn M có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Các bị cáo có mặt tại phiên tòa giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; một số bị cáo xuất trình các tài liệu, cụ thể:
- + Bị cáo Trần Quang H2: Nộp thêm tài liệu là Biên lai thu tiền số 0001103 ngày 06/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, thể hiện bị cáo đã nộp tổng số tiền 301.621.093 đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm gồm: Tiền bồi thường 287.067.708 đồng; tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; tiền án phí dân sự sơ thẩm 14.353.385 đồng. Ngoài ra còn xuất trình thêm Hợp đồng lao động với Công ty TNHH X1 ở Hà Nam.
- + Bị cáo Tô Thị H: Nhặt được ví tiền, giao nộp cho công an xã T; ủng hộ 3.000.000 đồng cho đồng bào khó khăn tỉnh Sơn La; Gia đình có công với cách mạng;
- + Bị cáo Đặng Thị C: Chồng bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn; giấy chứng nhận của UBMTTQ xã Lạc Đạo về ủng hộ đồng bào bị lũ lụt 1.500.000 đồng; có bố là Đặng Đình T4 là bệnh binh; bản thân nhiều lần hiến máu nhân đạo.
- - Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, các yếu tố về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo có quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Trần Văn M mức án 15 năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt, xử phạt Thái Thị Thùy L mức án 15 năm 3 tháng tù - mức thấp của khung hình phạt là không nặng. Bị cáo Đặng Thị C, Tô Thị H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Bộ luật Hình sự) nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng quy định tại điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt Đặng Thị C 04 năm tù, Tô Thị H 02 năm 06 tháng tù, đều dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, cả 04 bị cáo nêu trên không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của các bị cáo. Đối với bị cáo Trần Quang H2 đã nộp thêm tài liệu là Biên lai thu tiền số 0001103 ngày 06/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, thể hiện bị cáo đã nộp tổng số tiền 301.621.093 đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm gồm: Tiền bồi thường 287.067.708 đồng; tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; tiền án phí dân sự sơ thẩm 14.353.385 đồng. Bị cáo phạm tội không có yếu tố trục lợi, có nhân thân tốt, có nơi làm việc rõ ràng, do đó đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định một thời gian thử thách phù hợp và giao bị cáo cho Công ty TNHH X1 ở Hà Nam nơi bị cáo làm việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Người bào chữa cho cho bị cáo Thái Thị Thùy L có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo, bị cáo là mẹ đơn thân, hiện nay đang nuôi con nhỏ để chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo.
- - Người bào chữa cho cho bị cáo Trần Văn M có quan điểm: Bị cáo M không phải là lao động của công ty T5, tham gia vụ án với vai trò đồng phạm thứ yếu, bị cáo đầu thú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, mong Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo.
- - Người bào chữa cho cho bị cáo Đặng Thị C có quan điểm: Bị cáo C đã khắc phục toàn bộ thiệt hại, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, mong Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của tỉnh Hưng Yên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai ban đầu của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, của các bị cáo khác và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Từ tháng 7/2023 đến tháng 4/2024, tại kho của Công ty T5 (Khu công nghiệp P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên), các bị cáo đã lợi dụng chức vụ, nhiệm vụ được giao để thực hiện hành vi tham ô tài sản và thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp. Cụ thể:
- [3.1] Thái Thị Thùy L và Trần Văn M: Thái Thị Thùy L là nhân viên kiểm hàng) bàn bạc với Trần Văn M là lái xe Công ty V1, cả hai sống với nhau như vợ chồng, bàn bạc và cùng chiếm đoạt 1.600 thùng sữa GrowPlus đỏ và sữa thạch Cacao bằng cách sửa phiếu soạn hàng, bỏ qua kiểm tra và bán cho anh Hạ Văn X với giá rẻ, chiếm đoạt 675.840.000 đồng (L hưởng 592.340.000 đồng, M hưởng 83.500.000 đồng).
- [3.2] Đặng Thị C là nhân viên kiểm hàng cùng với Lê Đức R là giám sát kho kiêm thủ kho sữa nước bàn bạc và cùng chiếm đoạt 400 thùng sữa các loại bằng cách sửa phiếu soạn hàng, vận chuyển qua các lái xe, trị giá 138.180.000 đồng. Châm bán một phần cho chị Trần Thị V và anh Trần Văn N, chuyển cho R 100.000.000 đồng.
- [3.3] Tô Thị H là nhân viên kiểm hàng cùng với Lê Đức R là giám sát kho kiêm thủ kho sữa nước chiếm đoạt 400 thùng sữa đậu nành Nuti, trị giá 53.280.000 đồng, bằng cách H tự sửa phiếu soạn hàng. H đã chuyển cho R 31.000.000 đồng.
- [3.4] Trần Quang H2 là trưởng phòng kho đã không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ kiểm kê, giám sát hàng hóa theo quy định, dẫn đến thất thoát 439.138 hộp sữa, tổng trị giá 3.430.327.801 đồng.
[4] Các bị cáo Thái Thị Thùy L, Trần Văn M, Đặng Thị C, Tô Thị H đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tham ô tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích vụ lợi. Bị cáo Trần Quang H2 là người có trách nhiệm quản lý tài sản nhưng trong công tác đã thiếu trách nhiệm, gây thiệt hại lớn đến tài sản của Công ty T5.
[5] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án các bị cáo: Thái Thị Thùy L, Trần Văn M về tội Tham ô tài sản quy định tại điểm a khoản 3, khoản 6 Điều 353 Bộ luật hình sự; Đặng Thị C về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2, khoản 6 Điều 353 Bộ luật hình sự; Tô Thị H về tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm c khoản 2, khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự; Trần Quang H2 về tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp” theo quy định tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[6] Xét kháng cáo của các bị cáo về việc đề nghị giảm nhẹ hình phạt:
- [6.1] Bị cáo Thái Thị Thùy L và Trần Văn M phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 353 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm. Hai bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án, sau khi phạm tội, bị cáo Trần Văn M đã sử dụng số tiền 83.500.000 đồng/675.840.000 đồng chi tiêu riêng (đã nộp lại 100.000.000 đồng để bồi thường); Thái Thị Thùy L sử dụng 592.340.000 đồng/675.840.000 đồng để chi tiêu chung cho cả Trần Văn M do hai bị cáo sống chung với nhau như vợ chồng (đã nộp lại 20.000.000 đồng để bồi thường). Số tiền 02 bị cáo đã nộp lại không đáng kể so với số tiền 02 bị cáo đã chiếm đoạt: 120.000.000 đồng/675.840.000 đồng, phạm tội nhiều lần. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Trần Văn M mức án 15 năm tù - mức khởi điểm của khung hình phạt, xử phạt Thái Thị Thùy L mức án 15 năm 3 tháng tù - mức thấp của khung hình phạt là không nặng.
- [6.2] Bị cáo Đặng Thị C và Tô Thị H phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm tù. Sau khi phạm tội, Đặng Thị C đã nộp 66.801.000 đồng, Tô Thị H đã nộp 53.280.000 đồng để bồi thường cho Công ty T5. Do hai bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Bộ luật Hình sự) nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng quy định tại điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt Đặng Thị C 04 năm tù, Tô Thị H 02 năm 06 tháng tù, đều dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không nặng.
- [6.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, cả 04 bị cáo nêu trên không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.
[7] Xét kháng cáo của các bị cáo về việc được hưởng án treo.
- [7.1] Bị cáo Đặng Thị C và Tô Thị H lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, thuộc trường hợp không được hưởng án treo theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối (Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao). Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của 02 bị cáo.
- [7.2] Bị cáo Trần Quang H2: Nộp thêm tài liệu là Biên lai thu tiền số 0001103 ngày 06/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, thể hiện bị cáo đã nộp tổng số tiền 301.621.093 đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm gồm: Tiền bồi thường 287.067.708 đồng; tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; tiền án phí dân sự sơ thẩm 14.353.385 đồng. Như vậy, bị cáo đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ về tiền theo quyết định của bản án sơ thẩm. Xét thấy, bị cáo phạm tội không có yếu tố trục lợi, có nhân thân tốt, có nơi làm việc rõ ràng, không thuộc trường hợp không được áp dụng án treo theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối (Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao). Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định một thời gian thử thách phù hợp và giao bị cáo cho Công ty TNHH X1 ở Hà Nam nơi bị cáo làm việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ quy định tại điểm b, điểm h khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo: Các bị cáo không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án phí; bị cáo Trần Quang H2 được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: Thái Thị Thùy L, Trần Văn M, Đặng Thị C và Tô Thị H về việc giảm nhẹ hình phạt; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Thị C và Tô Thị H về việc được hưởng án treo. Giữ nguyên quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2025/HS-ST, ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đối với các bị cáo nêu trên như sau:
- - Đối với bị cáo Thái Thị Thùy L: Áp dụng điểm a khoản 3, khoản 6 Điều 353; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) năm 03 (ba) tháng tù về tội: “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt đầu chấp hành hình phạt tù, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2024 đến 20/11/2024.
- - Đối với bị cáo Trần Văn M: Áp dụng điểm a khoản 3, khoản 6 Điều 353; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) năm tù về tội: “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024.
- - Đối với bị cáo Đặng Thị C: Áp dụng điểm c, d khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm tù về tội: “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt đầu chấp hành chấp hành hình phạt tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến 22/01/2025.
- - Đối với bị cáo Tô Thị H: Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 6 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt đầu chấp hành chấp hành hình phạt tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến 21/02/2025.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang H2, sửa quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2025/HS-ST, ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đối với bị cáo như sau:
Áp dụng khoản 3 Điều 179; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp”. Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 26 tháng 11 năm 2025. Giao bị cáo cho Công ty TNHH X1 ở Hà Nam, địa chỉ: Thôn M, xã T, tỉnh Ninh Bình nơi bị cáo làm việc theo Hợp đồng lao động số 35/HĐLĐ/NOHN ký ngày 01/8/2025 giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 02 năm 09 tháng tù của bản án này.
- Về án phí hình sự phúc thẩm:
- - Bị cáo Trần Quang H2 không phải chịu;
- - Các bị cáo: Thái Thị Thùy L, Trần Văn M, Đặng Thị C và Tô Thị H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Trần Xuân Thảo | Phạm Đình Khánh | Nguyễn Hải Thanh |
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hải Thanh |
11
Bản án số 516/2025/HS-PT ngày 26/11/2025 của TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về tham ô tài sản và thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp
- Số bản án: 516/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản và Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: "Tham ô tài sản"
