|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 516/2024/HS-ST
Ngày: 25/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Vinh;
- Bà Nguyễn Thị Hương;
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc N- Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 451/2024/TLST- HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 558/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Thị Bích Q, sinh năm: 2002 tại Thành phố Cần Thơ; thường trú: 415 tổ A, khu V, phường H, quận C, Thành phố Cần Thơ;nơi cư trú: Nhà không số, hẻm C, đường L, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Phước H và bà: Lê Thị Ngọc B; hoàn cảnh gia đình: chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 11/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Ngày 26/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng ban hành Quyết định miễn chấp hành phân thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 đến nay; (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm: 1989;
- Ông Châu Minh P1, sinh năm: 1989;
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1997;
Địa chỉ thường trú: 3 L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở hiện nay: 2H Lò Lu, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;
Chỗ ở hiện nay: Nhà không số, đường A, tổ B, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: 7/41/6 T, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Chỗ ở hiện nay: Nhà không số, hẻm C, Lã Xuân O, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 22 giờ 25 phút, ngày 15/01/2024, Tổ tuần tra thuộc Công an phường T, thành phố T phát hiện Lê Thị Bích Q đang ngồi một mình tại trước khu đất trống đối diện nhà số D đường A, tổ B, khu phố P, phường T, thành phố T có biểu hiện nghi vấn nên yêu câu kiểm tra, do Q không xuất trình được giấy tờ tuỳ thân nên Tổ công tác yêu câu Q về trụ sở Công an phường để làm rõ.
Tại Công an phường T, thành phố T, Q tự lấy từ trong túi quân bên phải, phía trước đang mặc trên người ra 01 gói nylon có chữ “Oishi” (vỏ gói kẹo) được hàn kín và tự xé ra, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu được cuộn trong mảnh khăn giấy màu trắng giao nộp cho Công an phường và khai nhận đó là ma tuý đá của Phạm Văn C (sinh năm 1983; cư trú tại: Nhà không số đường T (nhỏ), khu phố T, phường T, thành phố T) giao cho Q đi bán nên Công an phường T, thành phố T thu giữ vật chứng, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Thị Bích Q.
Tại Cơ quan Công an, Lê Thị Bích Q khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, C giao cho Q 02 gói ma tuý được nguy trang bằng cách quấn gói ma tuý đá trong mảnh khăn giấy và cho vào gói nylon có chữ “Oishi” (loại vỏ gói kẹo) và hàn kín lại để đem bán cho khách. Khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, Q đã bán 01 gói ma tuý cho đối tượng có tên zalo là “Thai Thanh L” tại khu vực bãi rác thuộc phường L, thành phố T với giá 300.000 đồng lấy tiên mặt đem về nhà cho C, còn 01 gói ma tuý Q cất giữ trong người và đem đến trước khu đất trống đối diện nhà số D Đường A, khu phố P, phường T, thành phố T để chờ bán cho một người có tên zalo là “Không cảm xúc” với giá
200.000 đồng nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phường T, thành phố T phát hiện và bắt giữ.
Quá trình điều tra, xác định: Từ ngày 23/12/2023 đến ngày 15/01/2024, Q đã bán trái phép chất ma tuý giúp cho C tổng cộng 08 lần: Trong đó, bán cho đối tượng có tên zalo là “Luân Nhõ” 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng; bán cho Nguyễn Ngọc P (sinh năm: 1989), sử dụng zalo tên “Minhcuong” 04 lân (03 lân 200.000 đồng, 01 lân 300.000 đồng); bán cho đối tượng có tên zalo là “Thai Thanh L" 02 lân (01 lân 200.000 đồng, 01 lân 300.000 đồng). Ngày 15/01/2024, hẹn Châu Minh P1 (sinh năm: 1989), sử dụng zalo tên “Không cảm xúc” để bán 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Tất cả những lần bán ma tuý đều nhận tiên mặt, riêng ngày 12/01/2024 bán cho Nguyễn Ngọc P 01 gói ma tuý giá 300.000 đông và trả tiền bằng hình thức chuyển khoản qua ứng dụng MoMo nhưng tài khoản của Q không sử dụng được nên Q nói “Minhcuong” chuyển tiên vào tài khoản MoMo của Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1997) ở cùng phòng trọ. Sau đó, Q gặp H1 lấy số tiên 300.000 đồng đưa cho C. Cân đã trả tiên công cho Q 05 lân, tổng cộng 500.000 đồng và 03 lân nhận công bằng ma tuý để sử dụng.
Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Lê Thị Bích Q dương tính.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị Bích Q tại Nhà không số, Hẻm C đường L, khu phố P, phường T, thành phố T không thu giữ gì.
Tại Kết luận giám định số:1461/KL-KTHS ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Thị Bích Q và hình dấu Công an phường T, thành phố T, bên trong có 01 gói nylon có chữ “Oishi” chứa 01 mảnh giấy màu trắng được cuộn tròn chứa 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,2728 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ:
- 01 gói nylon có chữ “Oishi” chứa 01 mảnh giấy màu trắng được cuộn tròn chứa 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,2728 gam, loại Methamphetamine;
- 01 điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, số điện thoại 0396.400.xxx (điện thoại bị vỡ màn hình và mặt lưng) là điện thoại của bị can Q dùng để liên lạc bán ma túy cho con nghiện.
Tại bản Cáo trạng số 445/CT- VKSTPTĐ ngày 28/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Thị Bích Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điêu 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lê Thị Bích Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Thị Bích Q. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điêu 251; điểm s khoản 1 Điêu 51; Điêu 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; xử phạt bị cáo Lê Thị Bích Q từ 08 năm đến 09 năm tù giam;
- Bị cáo không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đây đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vê tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điêu tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyên, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điêu tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đêu hợp pháp.
[2] Vê nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:
Bị cáo Lê Thị Bích Q khai nhận được đối tượng tên Phạm Văn C (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê bị cáo bán ma túy cho C, cách thức như sau: Khi có đối tượng mua ma túy của Cần, C cung cấp thông tin, địa điểm và giao ma túy cho bị cáo đến địa điểm giao ma túy và lấy tiên đem về cho C. Vào hồi 23 giờ 00 phút ngày 15/01/2024, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,2728 gam bán cho đối tượng có nick zalo là “Không Cảm Xúc” tại khu đất trống đối diện nhà D đường A, khu phố P, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang,
Căn cứ vào Kết luận giám định số 1461/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K- Công an Thành phố H kết luận: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Thị Bích Q và hình dấu Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; bên trong có 01 gói nylon có chữ “Oishi” chứa 01 mảnh
giấy màu trắng được cuộn tròn chứa 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2728gam, loại Methamphetamine;
Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, được xác định phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; cùng các tài liệu, tang vật chứng thu giữ được trong quá trình điều tra. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thị Bích Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, không những gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, tình hình an ninh- kinh tế- chính trị mà còn làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác gây khó khăn trong công tác phòng chống tội phạm của Nhà nước. Vì vậy, đối với tội phạm ma túy cân phải có mức án nghiêm khắc trước pháp luật.
Bị cáo khai nhận bị cáo không nhớ thời gian cụ thể và số lần ma túy trong ngày bán cho con nghiện là bao nhiêu lần, bị cáo khai nhận đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng cụ thể như sau:
- bán cho Nguyễn Ngọc P có nick zalo là “Minhcuong” 04 lân (mỗi lân 01 gói ma túy), 03 lân giá 200.000đồng/gói và 01 lân giá 300.000 đồng/gói;
- bán cho đối tượng có nick zalo “Thai Thanh L” 02 lân (mỗi lân 01 gói ma túy), 01 lân giá 200.000đồng/gói và 01 lân giá 300.000 đồng/gói-15h40 phút, ngày 15/01/2024 ;
- bán cho đối tượng có nick zalo “Luan nhõ” 02 lân (mỗi lân 01 gói ma túy), giá 200.000đồng/gói;
- bán cho Châu Minh P1 có nick zalo là “Không Cảm Xúc” bán cho 01 lân 01 gói giá 300.000 đồng;
- bán cho đối tượng có nick zalo “Tuấn Võ” 01 gói ma túy giá 200.000đồng;
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội 02 lân trở lên. Đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại các điểm b khoản 2 của điêu luật đã viện dẫn.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lân đâu; chưa có tiên án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; giảm cho bị cáo một phân hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[4] Về thu lợi bất chính: Bị cáo khai nhận mỗi lân bán ma túy cho C, bị cáo được C trả công là ma túy để sử dụng hoặc tiền, số tiền mà C trả công cho bị cáo là 500.000 đồng, số tiên này là tiên thu lợi bất chính về việc mua bán trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo nộp lại số tiên thu lợi bất chính nêu trên để sung vào ngân sách Nhà nước;
[5] Xử lý vật chứng:
Thu giữ của bị cáo các vật chứng sau:
- 01 (một) gói niêm phong ghi vụ: 482/24, các chữ ký ghi tên Trung tá Nguyễn Xuân S, Đại úy Nguyễn Thị Phương M. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,1439 gam- vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên HĐXX quyết định tịch thu, tiêu hủy;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO màu xanh, số điện thoại 0396.400.xxx (điện thoại vỡ màn hình và mặt lưng)- vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội nên HĐXX quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ngoài ra, căn cứ vào mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra, cân vận dụng khoản 5 Điêu 251 Bộ luật hình sự năm năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 phạt bị cáo nộp số tiên tương ứng với hành vi phạm tội để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[7] Đối với đối tượng tên Phạm Văn C (chưa xác định rõ lai lịch)- là người thuê bị cáo bán ma túy cho C, các đối tượng có nick zalo “Thai Thanh Lên” và có nick zalo “Luan nhõ”; Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T tiếp tục xác minh, điều tra có căn cứ thì xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với các đối tượng Nguyễn Ngọc P và Châu Minh P1 là người mua ma túy của bị cáo đã bị Cơ quan có thẩm quyền ban hành Quyết định xử lý vi phạm hành chính;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Bích Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điêu 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điêu 51; Điêu 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Bích Q 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/01/2024
Áp dụng khoản 5 Điêu 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt tiền bổ sung bị cáo Lê Thị Bích Q số tiên 5.000.000 (Năm triệu) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.
- Căn cứ vào khoản 1 Điêu 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ: 482/24, các chữ ký ghi tên Trung tá Nguyễn Xuân S, Đại úy Nguyễn Thị Phương M. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,1439 gam;
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu VIVO màu xanh, số điện thoại 0396.400.xxx (điện thoại vỡ màn hình và mặt lưng);
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số NK24/434C ngày 23/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh);
- Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính số tiền 500.000 (Năm trăm) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước;
- Căn cứ vào khoản 2 Điêu 135 và khoản 2 Điêu 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án xin xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyên yêu câu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điêu 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điêu 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN Vũ Thị Thúy Nga |
Bản án số 516/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 516/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
