Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 516/2025/DS-ST

Ngày 20 tháng 6 năm 2025

Về việc: “Đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Oánh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Thảo
  2. Ông Nguyễn Đình Thức

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương, Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 570/2024/DSST ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 674/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 871/2025/QĐST-HPT ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Đỗ Tiến D, sinh năm 1969; Địa chỉ cư trú: 3.04 lô B3 C/c A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện ủy quyền: Ông Trần Văn S, sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: 7 P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 26/4/2024) (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt)

* Bị đơn: Ông Đỗ Quang S1, sinh năm 1987; Địa chỉ cư trú: 341/19/53 K, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Tại đơn khởi kiện ngày 13/03/2024, sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 09/4/2024, nguyên đơn ông Đỗ Tiến D trình bày:

Căn cứ theo Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty TNHH T1 01/2023/BB ngày 27/02/2023 tại mục 2 phần nghĩa vụ của ông Đỗ Quang S1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Đỗ Tiến D số tiền: 1.983.310.666 (một tỷ, chín trăm tám mươi ba triệu, ba trăm mười nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng và số tiền là: 2.470.000.000 (hai tỷ, bốn trăm bảy mươi triệu) đồng theo Biên bản xác nhận công nợ ngày 27/02/2023. Tổng cộng số tiền ông S1 có nghĩa vụ phải thanh toán cho ông D theo 02 (hai) biên bản trên là: 4.453.310.666 (bốn tỷ, bốn trăm năm mươi ba triệu, ba trăm mười nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.

Thời hạn thanh toán số tiền trên là sau 18 tháng và trong thời gian chưa tất toán được khoản nợ trên thì ông S1 phải đóng tiền lãi suất của số tiền trên theo ngân hàng V – Chi nhánh Q cho đến khi hết công nợ.

Tuy nhiên, kể từ ngày 27/02/2023 đến nay ông S1 không thanh toán cho bên Ngân hàng bất kì khoản tiền lãi nào. Nhận thấy, ông S1 đã vi phạm nghĩa vụ trong Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty TNHH T1 01/2023/BB ngày 27/02/2023 và Biên bản xác nhận công nợ ngày 27/02/2023, không có thiện chí giải quyết công nợ cho ông D. Nên ngày 06/03/2024, ông D đã gửi thông báo đến ông S1 để đề nghị ông S1 thực hiện thanh toán tổng số tiền là: 4.720.509.308 đồng (Bốn tỷ, bảy trăm hai mươi triệu năm trăm lẻ chín ngàn ba trăm lẻ tám đồng). Nhưng đến nay tôi vẫn chưa được phản hồi từ ông S1 cũng như chưa thanh toán cho tôi số tiền trên.

Nay bằng đơn này, tôi yêu cầu Toà án chấp nhận các yêu cầu khởi kiện như sau:

Tuyên buộc ông Đỗ Quang S1 phải thanh toán cho tôi tổng số tiền tạm tính là: 4.720.509.308 đồng (Bốn tỷ, bảy trăm hai mươi triệu năm trăm lẻ chín ngàn ba trăm lẻ tám đồng), trong đó số tiền gốc là: 4.453.310.666 đồng (Bốn tỷ, bốn trăm năm mươi ba triệu, ba trăm mười nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng), số tiền lãi của công nợ trên theo quy định pháp luật kể từ ngày 01/07/2023 đến ngày 06/03/2024 tạm tính số tiền là: 267.198.642 đồng (Hai trăm sáu mươi bảy triệu một trăm chín mươi tám ngàn sáu trăm bốn mươi hai đồng) và số tiền lãi đến khi đưa vụ án ra xét xử. Đề nghị ông S1 thanh toán toàn bộ số tiền trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật

Tại văn bản sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện ngày 09/04/2024 ông Đỗ Tiến D trình bày:

Do quen biết lâu năm nên trước đây tôi và ông Đỗ Quang S1 đã cùng nhau thành lập Công ty TNHH T2 (sau đây gọi tắt là Công ty) vào ngày 18/01/2019, để ông S1 làm đại diện theo pháp luật, tôi và bà Lê Thị Lệ T là thành viên góp vốn.

Do ông S1 kinh doanh và tiền bạc không rõ ràng nên từ ngày 11/3/2022 chúng tôi đã thay đổi tư cách đại diện theo pháp luật, tôi trở thành người đại diện theo pháp luật của công ty.

Đồng thời vào ngày 27/02/2023, chúng tôi đã họp Hội đồng thành viên để tổng kết kinh doanh từ năm 2019 đến 2022, xác định ông Đỗ Quang S1 ngoài khoản nợ với Công ty, thì còn nợ cá nhân đối với tôi – Đỗ Văn D1, số tiền là 1.983.310.666 đồng, thời hạn trả sau 18 tháng, đồng thời ông S1 phải chịu lãi suất theo lãi suất Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ.

Cùng ngày, ông S1 đã ký Biên bản xác nhận công nợ, còn nợ cá nhân tôi số tiền tổng cộng là 2.470.000.000 đồng. Do sai sót đánh máy nên không ghi thời hạn trả nợ.

Cho nên ngày 06/3/2024, tôi đã gửi Thông báo đòi nợ cho ông Đỗ Tiến D, yêu cầu ông D trả cho tôi số nợ tổng cộng là 4.720.509.308 đồng, đã hết thời

hạn 05 ngày làm việc theo thời điểm ông S1 nhận được thông báo, nhưng ông S1 vẫn không trả nợ cho tôi.

Nay bằng văn bản này, tôi xác định rõ: Tôi đứng đơn khởi kiện với tư cách cá nhân, đồng thời yêu cầu cá nhân ông Đỗ Quang S1 phải trả lại số tiền còn nợ tôi là 4.720.509.308 đồng, đồng thời ông S1 phải tiếp tục chịu lãi suất là 10%/năm trên số nợ gốc tính từ ngày 07/03/2024 cho đến khi vụ án được giải quyết xong bằng một Bản án hoặc một Quyết định của Toà án. Tôi xác định yêu cầu kiện đòi tài sản đối với cá nhân ông S1, không yêu cầu ai khác.

Tại văn bản ngày 11/6/2025, nguyên đơn ông Đỗ Quang S1 do ông Trần Văn S đại diện ủy quyền trình bày: Yêu cầu bị đơn ông Đỗ Tiến D trả số tiền nợ gốc 4.453.310.666 đồng và số tiền lãi tính từ ngày 12/3/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (20/6/2025) là 15 tháng 08 ngày, như sau: 4.453.310.666 đồng x (10% : 12 tháng) x 15 tháng 08 ngày = 556.560.078 đồng. Tổng số tiền bị đơn ông Đỗ Tiến D phải trả cho ông Đỗ Quang S1 là 5.019.870.744 (năm tỷ, không trăm mười chín triệu, tám trăm bảy mươi ngàn, bảy trăm bốn mươi bốn) đồng, một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[2] Bị đơn ông Đỗ Quang S1, sinh năm 1987; Địa chỉ cư trú: 341/19/53 K, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 234; Tuy nhiên chưa đúng hạn thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung, căn cứ Biên bản họp Hội đồng thành viên và Biên bản xác nhận công nợ cùng ngày 27/02/2023, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Tiến D; Buộc buộc bị đơn ông Đỗ Quang S1 phải thanh toán số tiền nợ gốc 4.453.310.666 đồng; Ông Đỗ Quang S1 phải chịu tiền lãi chậm thanh toán đối với số tiền 1.983.310.666 đồng tính từ ngày 28/02/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm; Tiền lãi chậm thanh toán đối với số tiền 2.470.000.000 đồng tính từ ngày 07/3/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm; Án phí dân sự buộc bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại đơn khởi kiện ngày 13/03/2024; sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 09/4/2024, nguyên đơn ông Đỗ Tiến D khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Đỗ Quang S1 phải thanh toán số tiền nợ gốc 4.453.310.666 (bốn tỷ, bốn trăm năm mươi ba triệu, ba trăm mươi

ngàn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng và lãi suất 10%/năm do chậm thực hiện nghĩa vụ tính từ ngày 12/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 20/6/2025 theo Biên bản họp Hội đồng thành viên và Biên bản xác nhận công nợ cùng ngày 27/02/2023 là tranh chấp dân sự về thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo Điều 280 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Đỗ Quang S1 có địa chỉ cư trú tại số C Khu Ô, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt:

Tại văn bản ủy quyền số 005445 ngày 26/4/2024 nguyên đơn ông Đỗ Tiến D ủy quyền cho ông Trần Văn S tham gia tố tụng và ông S có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên tòa.

Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập đương sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại Điều 177, Điều 208, khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bị đơn ông Đỗ Quang S1, sinh năm 1987; Địa chỉ cư trú: 341/19/53 K, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác; không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn ông Đỗ Tiến D và bị đơn Đỗ Quang S1 theo quy định tại khoản 2 Điều 199 và khoản 1, 2 Điều 202 Bộ luật tố tụng dân sự Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Nguyên đơn ông Đỗ Tiến D khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Đỗ Quang S1 phải thanh toán tổng số tiền 4.453.310.666 (bốn tỷ, bốn trăm năm mươi ba triệu, ba trăm mươi ngàn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng theo Biên bản họp Hội đồng thành viên và Biên bản xác nhận công nợ cùng ngày 27/02/2023.

Nhận thấy, tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty TNHH hai thành viên trở lên của Công ty TNHH T2, mã số doanh nghiệp 0315487468 đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 29/8/2019 xác định danh sách thành viên góp vốn trong đó có ông Đỗ Quang S1 với tổng vốn góp là 1.500.000.000 đồng chiếm tỉ lệ 25% vốn điều lệ của Công ty TNHH T3 trụ sở tại A đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 27/02/2023, Công ty TNHH T4 họp tổng kết đánh giá tình hình kinh doanh năm 2019-2022 với nội dung “Ông Đỗ Quang S1 có nghĩa vụ: 1. Hoàn trả tổng số vốn còn lại và công nợ của công ty 2.409.835.704 đồng; 2. Hoàn trả cho ông Đỗ Tiến D: 1.983.310.666 đồng...3. Thời hạn thanh toán công nợ sau 18 tháng kể từi ngày kết thúc cuộc họp...”

Cùng ngày 27/02/2023, ông Đỗ Quang S1 và ông Đỗ Tiến D ký biên bản xác nhận nợ với nội dung: “Tính đến ngày 27/02/2022, bên B (ông Đỗ Quang S1) còn nợ bên A (ông Đỗ Tiến D) số tiền là 2.470.000.000 đồng”.

Nhận thấy, mặc dù hình thức văn bản thể hiện diễn biến cuộc họp đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH T5 được ông ông Đỗ Tiến D ký với tư cách chủ tịch hội đồng của công ty, tuy nhiên hai văn bản xác nhận nợ nêu trên thể hiện cá nhân ông Đỗ Quang S1 nợ ông Đỗ Tiến D.

Bị đơn ông Đỗ Quang S1, sinh năm 1987; Địa chỉ cư trú: 341/19/53 K, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác; không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và văn bản trình bày của nguyên đơn ông Đỗ Tiến D xác định bị đơn ông Đỗ Quang S1 còn nợ ông Đỗ Tiến D tổng số tiền 4.453.310.666 (bốn tỷ, bốn trăm năm mươi ba triệu, ba trăm mươi ngàn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng theo Biên bản họp Hội đồng thành viên và Biên bản xác nhận công nợ cùng ngày 27/02/2023 là phù hợp quy định tại Điều 91, 93 và Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Căn cứ phát sinh nghĩa vụ: “Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây: 1. Hợp đồng. 2. Hành vi pháp lý đơn phương. 3. Thực hiện công việc không có ủy quyền. 4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. 5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật. 6. Căn cứ khác do pháp luật quy định”.

Điều 278 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Thời hạn thực hiện nghĩa vụ: “1. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. 2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp bên có nghĩa vụ đã tự ý thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn và bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được coi là đã hoàn thành đúng thời hạn. 3. Trường hợp không xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý”

Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Thực hiện nghĩa vụ trả tiền: “1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận. 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Đối với khoản nợ 1.983.310.666 đồng tại Biên bản họp hội đồng thành viên công ty T6 thể hiện nội dung ông Đỗ Quang S1 thanh toán công nợ sau 18 tháng kể từ ngày kết thúc cuộc họp và ông S1 có nghĩa vụ đóng số tiền lãi suất vay của ngân hàng nhưng không thực hiện là vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận. Do đó, bị đơn ông Đỗ Quang S1 phải chịu khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền kể từ ngày 28/02/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (20/6/2025) như sau: 1.983.310.666 đồng x 0.83%/tháng x 28 tháng = 460.921.384 đồng.

Đối với khoản nợ 2.470.000.000 đồng tại Biên bản xác nhận công nợ cùng ngày 27/02/2023 không thể hiện nội dung về thời hạn ông Đỗ Quang S1 thanh toán công nợ. Tuy nhiên, ngày 06/3/2024 nguyên đơn ông Đỗ Tiến D đã thông báo thời hạn đến bị đơn ông Đỗ Quang D2 về việc thanh toán tổng số tiền 4.453.310.666 (bốn tỷ, bốn trăm năm mươi ba triệu, ba trăm mươi ngàn, sáu trăm sáu mươi sáu) đồng là phù hợp pháp luật nhưng ông S1 không thanh toán là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Đỗ Tiến D.

Hội đồng xét xử nhận thấy đối với khoản nợ 2.470.000.000 đồng thì ông S1 phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền sau năm ngày kể từ ngày nhận được thông báo vào ngày 06/3/2024 nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Do đó, bị đơn ông Đỗ Quang S1 phải chịu khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền kể từ ngày 07/3/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (20/6/2025) như sau: 2.470.000.000 đồng x 0.83%/tháng x 15 tháng = 307.515.000 đồng.

Xét như trên thì tổng số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền ông Đỗ Quang S1 phải chịu là 768.436.384 đồng. Tuy nhiên, tại văn bản trình bày ý kiến ngày 11/6/2025, nguyên đơn ông Đỗ Tiến D yêu cầu tính lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 12/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 20/6/2025 trên tổng số tiền còn nợ lại là 4.453.310.666 đồng với số tiền lãi 566.560.078 đồng là có lợi về tài sản cho bị đơn ông Đỗ Quang S1 và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Nguyên đơn ông Đỗ Tiến D yêu cầu buộc bị đơn ông Đỗ Quang S1 phải thanh toán tổng số tiền 5.019.870.744 (năm tỷ, không trăm mười chín triệu, tám trăm bảy mươi ngàn, bảy trăm bốn mươi bốn) đồng (gồm tổng nợ gốc 4.453.310.666 đồng và tiền lãi chậm thanh toán 566.560.078 đồng) theo Biên bản họp Hội đồng thành viên và Biên bản xác nhận công nợ cùng ngày 27/02/2023 là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Chương III Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu của nguyên ông Đỗ Tiến D được Tòa án chấp nhận là tổng số tiền 5.019.870.744 (năm tỷ, không trăm mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi ngàn, bảy trăm bốn mươi bốn) đồng, do đó án phí dân sự sơ thẩm bị đơn ông Đỗ Quang S1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.019.871 (một trăm mươi ba triệu, không trăm mười chín ngàn, tám trăm bảy mươi một) đồng.

Hoàn trả cho ông Đỗ Tiến D số tiền 56.360.254 (năm mươi sáu triệu, ba trăm sáu mươi ngàn, hai trăm năm mươi bốn) đồng theo Biên lai thu số tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0022869 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiển sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Tiến D; Buộc buộc bị đơn ông Đỗ Quang S1 phải thanh toán số tiền nợ gốc 4.453.310.666 (bốn tỷ, bốn trăm năm mươi ba triệu, ba trăm mươi ngàn, sáu

trăm sáu mươi sáu) đồng; Ông Đỗ Quang S1 phải chịu tiền lãi chậm thanh toán đối với số tiền 1.983.310.666 đồng tính từ ngày 28/02/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm; Tiền lãi chậm thanh toán đối với số tiền 2.470.000.000 đồng đồng tính từ ngày 07/3/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm; Án phí dân sự buộc bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luậcủa pháp luật là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1, 2 Điều 202, khoản 1 Điều 227, Điều 244, Điều 264, 266, 267, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 275, 278, 280 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự;
  • - Khoản 1, 2 Điều 26, 27 Chương III Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Đỗ Tiến D.

1. Trách nhiệm thanh toán.

1.1. Buộc ông Đỗ Quang S1 phải có trách nhiệm trả cho ông Đỗ Tiến D tổng số tiền 5.019.870.744 (năm tỷ, không trăm mười chín triệu, tám trăm bảy mươi ngàn, bảy trăm bốn mươi bốn) đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

1.2. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Buộc ông Đỗ Quang S1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.019.871 (một trăm mươi ba triệu, không trăm mười chín ngàn, tám trăm bảy mươi một) đồng.

2.2. Hoàn trả cho ông Đỗ Tiến D số tiền 56.360.254 (năm mươi sáu triệu, ba trăm sáu mươi ngàn, hai trăm năm mươi bốn) đồng theo Biên lai thu số tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0022869 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Viện

Trưởng viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS Quận 11;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Ngọc Oánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 516/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đòi tài sản

  • Số bản án: 516/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger