Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 5153/2024/DS – ST

Ngày: 08 – 11 – 2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn
  2. Ông Phạm Văn Khuyến

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đạo – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 596/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8547/2024/QĐXXST - DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

    Địa chỉ: Số B - B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1973

    Địa chỉ: Lầu E, B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt)

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1978

    Địa chỉ: D N, khu phố E, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là ông Nguyễn Minh T trình bày:

Ngày 10/6/2022, ông Nguyễn Xuân H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, cụ thể: Loại thẻ JCB JSpeendy Cre Classic, Số thẻ: 356480-5823, Ngày cấp thẻ: 22/06/2022, Lãi suất áp dụng: 2.766%/tháng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 62.717.431 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 35.362.000 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

  • Các khoản phí và / hoặc lãi của kỳ trước.
  • Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước.
  • Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước.
  • Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ.
  • Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ.
  • Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 16/05/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 32.819.232 đồng với lãi suất quá hạn là 4.149%/ tháng (lãi trong hạn 2.766%*150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông H có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Xuân H phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 08/11/2024 là 57.465.459 đồng (Năm mươi bảy triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn, bốn trăm năm mươi chín đồng), trong đó:

  • Dư nợ gốc: 32.819.232 đồng
  • Lãi quá hạn: 24.646.227 đồng

Ngoài ra, ông Nguyễn Xuân H còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 09/11/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu cá nhân ông Phạm Xuân H1 trả nợ, không yêu cầu vợ của ông H1 phải liên đới trả nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Xuân H đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đến làm việc, Thông báo tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia các phiên toà xét xử nhưng ông H vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và vắng mặt tại các phiên toà xét xử không có lý do.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là ông Nguyễn Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Nguyễn Xuân H vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện việc cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và tiến hành giải quyết vụ án đúng nhiệm vụ, quyền hạn, đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Đại diện Viện kiểm sát nhận định yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu ông Nguyễn Xuân H phải trả cho Ngân hàng số tiền đã vay (gồm tiền gốc và tiền lãi quá hạn) mà ông H đã vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 10/6/2022 nên đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng năm 2015.

Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Nguyễn Xuân H không thực tế cư trú tại số D Đường F, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã H, huyện M, thành phố Hà Nội thì ông Nguyễn Xuân H có hộ khẩu thường trú tại Xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội, ngày 13/10/2022 ông H có đăng ký tạm trú tại số D Đường F, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20/02/2023 ông H có khai báo nơi ở hiện tại tại địa chỉ số D N, khu phố B, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường C, thành phồ T, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông H trước đây có đăng ký tạm trú tại số D N, khu phố B, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, đến tháng 6/2023 ông H trả phòng, không còn ở địa chỉ trên, hiện không rõ đi đâu. Ông Nguyễn Xuân H không thông báo cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụn tụng dân sự 2015; Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn kiện lại vụ án thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.-

[2]. Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Xuân H đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định pháp luật.

[3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với hợp đồng vay tài sản và nghĩa vụ trả nợ:

Theo nội dung Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 10/6/2022, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng JCB JSpeendy Cre Classic, số thẻ 356480-5823, hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, lãi suất trong hạn là 2.766%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn cho ông H với mục đích tiêu dùng cá nhân. Việc hai bên thỏa thuận mức lãi suất nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).

Trong quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt đến nay, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 35.362.000 đồng.

Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 16/05/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Kể từ đó đến nay, ông H không thanh toán số tiền nợ nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho ông H nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến tranh chấp nêu trên cho Tòa án.

Do đó, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Xuân H2 phải trả toàn bộ số tiền nợ đối với thẻ JCB JSpeendy Cre Classic, số thẻ 356480-5823 tính đến ngày 08/11/2024 là 57.465.459 đồng, trong đó: Nợ gốc: 32.819.232 đồng; Lãi quá hạn: 24.646.227 đồng và ông H2 còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 09/11/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 10/6/2022, trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong vụ án này, Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu cá nhân ông H2 có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu vợ của ông H2 liên đới chịu trách nhiệm trả nợ, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải đưa vợ của ông H2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[4]. Xét, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phù hợp với các nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch trên số tiền phải trả là (57.465.459 đồng x 5%) = 2.873.273 đồng (Hai triệu, tám trăm bảy mươi ba nghìn, hai trăm bảy mươi ba đồng), nguyên đơn không phải chịu án phí do đó trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 463, Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 4, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).

Căn cứ kho ản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

    Buộc ông Nguyễn Xuân H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 08/11/2024 là 57.465.459 đồng (Năm mươi bảy triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn, bốn trăm năm mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 32.819.232 đồng; Lãi quá hạn: 24.646.227 đồng. Trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 09/11/2024, ông Nguyễn Xuân H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì lãi suất mà ông H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Nguyễn Xuân H phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 2.873.273 đồng (Hai triệu, tám trăm bảy mươi ba nghìn, hai trăm bảy mươi ba đồng).

    Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 987.300 đồng (Chín trăm tám mươi bảy nghìn, ba trăm đồng) tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án, phí lệ phí Tòa án số 0025651 ngày 15/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 5153/2024/DS – ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 5153/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger