Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 515/2024/HS-ST

Ngày: 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thành Vinh;
  2. Bà Nguyễn Thị Hương;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Đức- Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 456/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 560/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Quang M

sinh năm: 2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 218/3/7 V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 3/32 D, khu phố E (khu phố C mới), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 11/12); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Như N và bà: Nguyễn Thị L; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024 đến nay; (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Anh Nguyễn Văn K

sinh năm: 1995;

Địa chỉ: A đường L, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Quang M và Đoàn Tuấn D (không rõ lai lịch) là bạn sống chung với nhau tại nhà trọ địa chỉ 3/32 D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình sinh sống, M nợ D số tiền 12.000.000 đồng.

Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 20/4/2024, D yêu cầu M trả tiền nên M cùng D đi bộ từ Quận A về nhà của M tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để M xin gia đình tiền trả D. Khi cả 02 đi đến ngã tư T, phường L, thành phố T; do nghĩ về nhà cũng không xin được tiền nên M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, M và D bàn bạc với nhau về việc trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, D là người cảnh giới còn M sẽ trực tiếp lấy trộm tài sản.

Sau đó, cả 02 tiếp tục đi bộ tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, M và D đi vào quán nước địa chỉ A, đường L, tổ G, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh uống nước. Lúc này, D nhìn thấy 01 xe đạp điện hiệu Zuboo (trên xe đạp điện vẫn còn cắm chìa khóa) dựng trước cửa quán nước của anh Nguyễn Văn K (chủ quán) không có ai trông coi nên D chỉ cho M thấy để trộm cắp.

Sau khi chỉ xong, D đi bộ về hướng cầu L thuộc phường L, thành phố T cách chiếc xe đạp khoảng 10m cảnh giới và đợi M, M lén lút đi lại dắt chiếc xe đạp xuống đường, mở chìa khóa xe chạy về hướng cầu L, chạy được khoảng 35m thì D nhảy lên xe đạp cùng bỏ trốn.

Khi cả 02 đi đến chân cầu L thì xe đạp bị yếu điện nên D nhảy xuống xe đi bộ còn M tiếp tục điều khiển xe đến giữa cầu L thì xe hết điện, lúc này anh Nguyễn Văn K phát hiện bị mất xe nên đã đuổi theo hô hoán và yêu cầu M trả lại xe, M đã bỏ xe đạp lại rồi chạy bộ qua đường (cách vị trí bỏ lại xe khoảng 20m) leo qua lan can cầu L rồi nhảy xuống sông T, D bỏ chạy bộ về hướng phường L tẩu thoát.

Sau đó, M được Công an phường L, thành phố T và người dân đưa lên bờ và mời M về trụ sở Công an phường để làm việc. Xét nghiệm ma túy đối với Lê Quang M, kết quả: âm tính.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T, Lê Quang M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Ngày 21/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Lê Quang M tại địa chỉ: 3 D, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả: không tạm giữ gì.

Ngày 23/4/2024, chị Bùi Thị Duy Y (chủ nhà trọ nơi M ở) khai báo: Tháng 03/2024, M có đến thuê ở và đăng ký tạm trú tại nhà trọ địa chỉ 3/32 D, kphố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình sinh sống, M có dẫn 01 người bạn tên D đến chơi và ở lại, chị Y đã nhiều lần nhắc nhở và không thu giữ giấy tờ gì của D.

Ngày 24/4/2024, Công an phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời xác minh: không có ai tên Đoàn Tuấn D đăng ký tạm trú tại địa phương.

Qua kiểm tra nhà trọ địa chỉ 3/32 D, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh không có camera ghi hình.

Vật chứng vụ án:

  • + 01 xe đạp điện hiệu Zuboo, đã trả chủ sở hữu.
  • + 01 clip ghi nhận hình ảnh M trộm cắp xe đạp điện

Kết luận định giá tài sản số 93-KV2/KLĐG- HĐĐGTS ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố T xác định: 01 xe đạp điện hiệu Zuboo trị giá 6.500.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 441/CT- VKSTPTĐ ngày 27/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Lê Quang M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Lê Quang M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Quang M. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; xử phạt bị cáo Lê Quang M từ 09 tháng đến 01 năm tù giam;
  • - Bị cáo không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 20/4/2024, bị cáo cùng đối tượng Đoàn Tuấn D (không rõ nhân thân, lai lịch) bàn bạc kiếm tài sản để trộm cắp, cả hai đến quán nước địa chỉ số A L, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh uống nước thì D phát hiện trước quán có dựng 01 xe đạp điện hiệu Zuboo có cắm chìa khóa của anh Nguyễn Văn K. D chỉ cho bị cáo lấy chiếc xe đạp và đi bộ ra khỏi quán nước để cảnh giới, bị cáo lén lút chiếm đoạt chiếc xe điều khiển chiếc xe chạy đến cầu L bị chị Đặng Thị C (là người bán quán nước) đuổi theo và truy hô, D bỏ chạy còn bị cáo bị quần chúng bắt giữ;

Căn cứ vào Kết luận định giá tài sản số A- KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận: 01 xe đạp điện hiệu Zuboo, màu xanh đen, số khung: ZB22060309, số máy: ZB48V350W220400071; đơn giá 6.500.000 đồng (thời điểm định giá: ngày 20/4/2024);

Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, được xác định phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tang vật chứng thu giữ được. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Quang M phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thực hiện với quyết tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 6.500.000 đồng. Đây là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại khoản 1 của điều luật đã viện dẫn.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; chưa có tiền án, tiền sự; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại anh Nguyễn Văn K nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Nguyễn Văn K khai nhận đã nhận lại toàn bộ tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự gì khác; Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của anh K;

[5] Về xử lý vật chứng: 01 clip ghi nhận hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi phạm tội- vật chứng này liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án;

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đối với đối tượng Đoàn Tuấn D (không rõ nhân thân, lai lịch) cùng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn; đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố T tiếp tục điều tra, xác minh xử lý theo quy định pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang M phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  3. Xử phạt: Bị cáo Lê Quang M 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam: 27/4/2024;

  4. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
  5. Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án xin xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - VKSND TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan THA.HS TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - NCQL, NVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 515/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 515/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger