Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 515/2024/DS-PT

Ngày: 09.12.2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Trương Hoài Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ- Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 294/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 448/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 356/2024/ QĐ – PT ngày 13 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Tạ Văn Ô, sinh năm 1946.

Đại diện ủy quyền cho nguyên đơn: ông Tạ Văn T, sinh năm 1985.

Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, TP .. (văn bản uỷ quyền ngày 10/12/2020

)

- Bị đơn: Ông Tạ Văn S, sinh năm 1957

Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, TP ..

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Lại Văn G, sinh năm 1968. Công ty L1 – Đoàn Luật sư tỉnh A.

Địa chỉ: số C B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Tạ Văn T1, sinh năm 1984
  2. Ông Tạ Văn Đ, sinh năm 1948
  3. Ông Tạ Văn D, sinh năm 1950
  4. Ông Tạ Văn Ư, sinh năm 1954
  5. Anh Tạ Văn T, sinh năm 1985
  6. Chị Lê Thị Thu N, sinh năm 1985
  7. Cháu Tạ Vỹ K, sinh ngày 01/4/2006. (xin vắng mặt)
  8. Bà Tạ Thị L, sinh năm 1964. ( xin vắng mặt)
  9. Ông Lê Văn M, sinh năm 1971. (xin vắng mặt)
  10. Bà Tạ Thị S1, sinh năm 1971 (chết năm 2021)

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Ông Lê Văn M, sinh năm 1971

Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, TP .. (xin vắng mặt)

  1. Bà Tạ Thị H, sinh năm 1962 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, TP ..

  1. Ủy ban nhân dân huyện V (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp V, thị trấn V, huyện V, TP ..

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Minh K1; chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V (xin vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Ông Trần Văn C, sinh năm 1968 (xin vắng mặt)
  2. Ông Trần Văn G1, sinh năm 1974 (xin vắng mặt)
  3. Ông Trần Văn N1, sinh năm 1979 ( xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, TP ..

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Tạ Văn S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Tạ Văn Ô trình bày: Trước ngày 30/4/1975, cha mẹ ông Tạ Văn Ô là cụ Tạ Văn A (chết ngày 06-3-1985) và cụ Ngô Thị C1 (chết ngày 14-6-2004) cho ông Ô một nền nhà ngay vị trí đất đang tranh chấp. Lúc cho chỉ nói miệng, không làm giấy tờ nhưng các em ông Ô là ông Tạ Văn Đ, ông Tạ Văn Ư, ông Tạ Văn D, bà Tạ Thị H, bà Tạ Thị S1 và bà Tạ Thị L đều biết. Khi cụ A, cụ C1 cho đất là hầm nuôi cá tra. Để có mặt bằng làm nhà ở, ngoài việc gia đình ông Ô trực tiếp san lấp thì còn thuê người nhiều lần san lấp mới có mặt bằng như ngày hôm nay. Ông Ô đã nhiều lần làm nhà tạm (cây tạp, tre, lá dừa) để ở. Đến năm 2012, ông xây nhà tường kiên cố, việc quản lý sử dụng đất đến nay đã được khoảng trên 50 năm thì vợ chồng cụ A và gia đình ông S không ai phản đối, tranh giành, cự cãi hay có ý kiến gì. Đất cho thuộc một phần thửa 742 và 743, tờ bản đồ số 04, ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000425 ngày 02-12-1994 do ông Tạ Văn S đứng tên. Đất đang tranh chấp có diện tích 103,9m², trong đó 57,9m² đất ONT và CLN tại thửa 7421 thuộc thửa 742 và 46,1m² đất CLN tại thửa 7432 thuộc thửa 743. Việc ông S đứng tên giấy chứng nhận thì gia đình ông Ô không ai biết, mà chỉ mới biết khi có quy hoạch xây dựng khu công nghiệp nên gia đình ông Ô không ai khiếu nại.

Nay ông Ô khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng 103,9m² đất (bao gồm 50m² đất ONT và 7,8m² đất CLN tại thửa 742 và 46,1m² CLN tại thửa 743), thuộc một phần thửa đất số 742 và 743 là của ông Ô; đồng thời buộc ông S chịu trách nhiệm trả lại quyền sử dụng 103,9m² đất trên cho ông Ô.

Bị đơn Tạ Văn S trình bày:

Khi cha mẹ ông là cụ A và cụ C1 còn sống đã cho mỗi người con trai một phần đất để ra ở riêng, ổn định cuộc sống. Cụ thể vào năm 1978, cha mẹ đã cho ông Ô, ông Đ, ông Ư và ông D mỗi người 04 công đất ruộng tại thửa đất khác. Còn cá nhân ông S được cha mẹ cho 04 thửa đất 742, 743, 746 và 797 vào năm 1984. Nên các thửa đất trên đã được Nhà nước cấp giấy CNQSDĐ số: 000425 ngày 02-12-1994 cho ông S (ông S đang giữ giấy CNQSDĐ). Do đó, các thửa đất trên là tài sản riêng của ông S, không phải là tài sản chung của ông với vợ và các con. Khi cha mẹ cho đất ông S, thì không làm giấy tờ, còn các anh ông thì không ai biết. Nên cụ A và ông S cùng đến Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) kê khai, đăng ký, xin cấp và đã được đứng giấy CNQSDĐ vào năm 1984. Cụ An sinh năm 1923 đã chết ngày 06-3-1985, cụ C1 sinh năm 1929 đã chết ngày 14-6-2004.

Vào năm 1978, ông S làm nhà riêng và sinh sống tại đây. Đến khoảng năm 2004, ông Ô xin ở nhờ (ở đậu) trên diện tích đất đang tranh chấp 103,9m² cho tới nay, phần đất ông Ô xin ở nhờ là ao nuôi cá nên muốn ở được thì phải san lấp. Ông Ô trình bày được cha mẹ cho diện tích đất đang tranh chấp là không đúng, nếu cho đất thì phải có giấy tờ, tài liệu, chứng cứ không thể nói miệng, ông S không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Ô. Hiện nay, Nhà nước đã thu hồi toàn bộ diện tích 04 thửa đất nói trên (trong đó có 103,9m² đất đang tranh chấp) để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp H, theo Quyết định số: 4739/QĐ-UBND ngày 06-10-2023 của Ủy ban nhân dân huyện V v/v thu hồi quyền sử dụng đất của ông Tạ Văn S bị ảnh hưởng Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp huyện V (giai đoạn 1). Do đó, ông S đề nghị Tòa án xem xét giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật để có kết quả rõ ràng, làm căn cứ cho ông S hoàn tất thủ tục để được lãnh tiền bồi thường phần đất tranh chấp và các quyền lợi khác của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Ông Tạ Văn Đ trình bày: Ông là em ông Ô và là anh ông S. Lúc sinh thời, cụ A và C1 đã cho ông Ô, ông Đ, ông Ư và ông D mỗi người 04 công đất ruộng vào khoảng năm 1977 hoặc 1978. Cụ A và C1 đã chết như ông S đã trình bày ở trên là đúng.

Đối với diện tích đất đang tranh chấp giữa ông Ô với ông S, cha mẹ cho ông Ô trước khi cho anh em ông đất ruộng. Vì ông Ô là anh trưởng nên lập gia đình vẫn sống chung với cha mẹ. Khi ông Đ lập gia đình thì cha mẹ cho ông Ô diện tích đất đang tranh chấp để làm nhà ra ở riêng. Thời điểm cho ông Ô trước ngày 30-4-1975, phần đất là hầm nuôi cá tra nên phải đầu tư nhiều tiền của và công sức san lấp mới làm được nhà ở, có mặt bằng và giá trị như ngày hôm nay, gia đình ông Ô quản lý sử dụng liên tục đã được khoảng 50 đến hơn 50 năm. Khi ông Ô quản lý sử dụng đất, san lấp, nhiều lần làm nhà tạm và xây nhà tường kiên cố thì ông S và cha mẹ không ai có ý kiến gì, mà chỉ đến khi Nhà nước làm Khu công nghiệp H thì mới xảy ra tranh chấp. Do đó, ông Đ khẳng định diện tích đất đang tranh chấp đã được cha mẹ cho ông Ô để làm nhà ra ở riêng, không có việc cho ông Ô ở nhờ như ông S đã trình bày. Việc ông S trình bày đã được cha mẹ cho toàn bộ 04 thửa đất là không có bằng chứng và người làm chứng. Còn việc ông S đứng tên giấy CNQSDĐ và trong đó có diện tích đất đang tranh chấp thì ông Đ và các anh em khác không ai biết, mà chỉ mới biết khi làm Khu công nghiệp H. Nên ông Đ không có yêu cầu gì cho cá nhân.

- Ông Tạ Văn D trình bày: Ông là em ông Ô và là anh ông S. Về tên cha mẹ, cha mẹ đã chết thì ông thống nhất với lời trình bày ở trên của ông Đ.

Theo ông D thì 103,9m² đất có tranh chấp đã được cha mẹ cho ông Ô như ông Ô và ông Đ đã trình bày. Vì khi các anh em khác trong gia đình lớn lên, lập gia đình thì cha mẹ cho ông Ô ra ở riêng trên diện tích đất có tranh chấp. Cho vào năm nào thì ông D không nhớ nhưng cho vào sau ngày ông Ô lập gia đình và trước ngày 30-4-1975. Diện tích đất đang tranh chấp có hiện trạng khi cho là ao nuôi cá tra. Nên ông Ô phải đầu tư rất nhiều công sức và tiền của san lấp mới làm được nhà ở, có mặt bằng và giá trị như ngày hôm nay. Do đó, thời gian mà gia đình ông Ô quản lý sử dụng liên tục đất tranh cũng đã được khoảng trên 50 năm rồi. Khi ông Ô quản lý sử dụng đất, san lấp, làm nhà tạm nhiều lần và xây nhà tường thì cha mẹ và bên ông S không ai có ý kiến gì. Chỉ đến khi Nhà nước làm Khu công nghiệp H thì mới xảy ra tranh chấp. Nên ông D khẳng định gia đình ông Ô quản lý sử dụng đất, làm nhà và ở trên diện tích đất đang tranh chấp là đất của ông Ô đã được cha mẹ cho, chứ không ở nhờ như ông S đã trình bày. Ông D không có yêu cầu gì cho cá nhân.

- Ông Tạ Văn Ư trình bày: Cũng giống ông Đ và ông D, ông Ư là em ông Ô và là anh ông S. Diện tích đất có tranh chấp thì ông Ư khẳng định đã được cha mẹ cho ông Ô khi vợ chồng ông Ô ra ở riêng. Cha mẹ cho đất ông Ô vào năm nào thì không nhớ nhưng vào sau ngày ông Ô lập gia đình khoảng hai đến ba năm. Nhưng ông Ư khẳng định là cho trước thời điểm cha mẹ cho đất ruộng.

Hiện trạng đất đang tranh chấp tại thời cho ông Ô là hầm nuôi cá tra. Nên ông Ô phải đầu tư nhiều tiền bạc và công sức để san lấp mới có mặt bằng để làm nhà ở và giá trị như ngày hôm nay. Chính vì vậy, ông Ư cũng khẳng định gia đình ông Ô làm nhà và ở trên diện tích đất đang tranh chấp là đất của ông Ô đã được cha mẹ cho, chứ không ở nhờ như ông S đã trình bày. Nên bên ông Ô đã quản lý sử dụng liên tục, san lấp, nhiều lần làm nhà tạm, nhà tường và ở trên đã được khoảng 50 đến hơn 50 năm rồi. Do đó, bên ông S và khi cha mẹ còn sống thì không ai có ý kiến gì. Chỉ đến khi Nhà nước quy hoạch làm Khu công nghiệp thì mới phát sinh tranh chấp. Do đó, ông Ư đề nghị ông Sáu suy N2 lại, xác định ông Ô là người quản lý sử dụng hợp pháp phần đất có tranh chấp, được lãnh tiền bồi thường thu hồi đất và các quyền, lợi ích khác về thu hồi đất theo quy định chung. Nên ông Ư không có yêu cầu gì cho cá nhân.

- Bà Tạ Thị H, bà Tạ Thị S1 là em ông Ô. Nhưng bà S1 đã chết năm 2021. Căn cứ vào biên bản lấy lời khai của đương sự thì bà H và bà S1 cùng trình bày: Diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc do cha mẹ các bà để lại. Do đã lập gia đình nên được cha mẹ cho ông Ô phần đất đang tranh chấp vào năm 1968 để làm nhà ra ở riêng. Nhưng ông S đã kê khai bao trùm sang cả phần đất cha mẹ đã cho ông Ô. Hiện trạng diện tích đất đang tranh chấp tại thời cho ông Ô là ao nuôi cá tra. Nên ông Ô và gia đình đã quản lý sử dụng đất liên tục từ năm 1968 đến nay, và còn phải đầu tư nhiều tiền bạc và công sức để san lấp mới có mặt bằng để làm nhà ở và có giá trị như ngày hôm nay. Việc cha mẹ cho đất ông Ô, rồi san lấp, quản lý sử dụng đất liên tục đến nay, làm nhà tạm và xây nhà tường kiên cố thì cha mẹ, bên ông S không ai có ý kiến gì. Do đó, bà H và bà S1 đồng ý với đơn khởi kiện của ông Ô và đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng diện tích đất có tranh chấp cho ông Ô. Bà H và S1 không có yêu cầu gì cho cá nhân.

- Bà Tạ Thị L trình bày: Bà L là em ông Ô và ông S. Diện tích đất đang tranh chấp giữa ông Ô với ông S được cha mẹ cho ông Ô, khi đó anh em trong gia đình đều biết. Khi cha mẹ cho đất, ông Ô san lấp, quản lý sử dụng đất liên tục đến nay, làm nhà tạm và xây nhà tường kiên cố thì ông S và gia đình không ai có ý kiến. Hiện trạng diện tích đất đang tranh chấp tại thời điểm cho ông Ô là ao nuôi cá nên vợ chồng ông Ô phải đầu tư nhiều tiền bạc và công sức để san lấp mới có mặt bằng để làm nhà ở và có giá trị như ngày hôm nay. Do đó, bà L không có yêu cầu gì cho cá nhân đối với đất đang tranh chấp. Bà L và bà Tạ Thị S1 cũng được cha mẹ cho một nền nhà liền kề với đất đang tranh chấp. Nên bà và bà S1 cũng phải san lấp giống như ông Ô mới làm nhà ở được.

- Ông Lê Văn M trình bày: Ông là chồng bà Tạ Thị S1 đã chết năm 2021. Phần đất hiện nay ông Ô đang tranh chấp với ông S, phần đất của bà S1 và bà L đang quản lý sử dụng thì liền kề với nhau, đất trước đây toàn bộ là hầm nuôi cá. Khi cha mẹ vợ ông còn sống thì đã cho ông Ô phần đất đang tranh chấp giữa ông Ô với ông S rồi.

Do là đất ao nên ông Ô đã thuê người san lấp đất và làm nhà ở từ trước năm 1990 đến nay. Vì khi cụ C1 còn sống có nói cho ông M biết phần đất đang tranh chấp giữa ông Ô với ông S đã được vợ chồng cụ A cho ông Ô từ lâu rồi. Nên ông Ô đã thuê người san lấp, do đó khi cụ C1 cho đất vợ chồng ông thì bên ông chỉ đầu tư tiền và công sức ít hơn ông Ô là đã san lấp và làm nhà ở được rồi. Do đó, ông M khẳng định diện tích đất đang tranh chấp giữa ông Ô với ông S tại thửa 742 và 743 đã được vợ chồng cụ A cho ông Ô từ khi ông A còn sống. Nên ông M không có ý kiến và yêu cầu gì cho cá nhân, vì cụ C1 đã cho vợ chồng ông đất nền nhà và ruộng rồi.

- Ông Lê Minh K1 đại diện cho Ủy ban nhân dân huyện V trình bày: Thửa đất 742 diện tích 418m² (300m² ONT + 118m² đất CLN), thửa đất 743 diện tích 1.900m² đất CLN, thửa đất 746 diện tích 5.880m² LUC và thửa đất 797 diện tích 6.750m² đất LUC. Đất thuộc tờ bản đồ số 04, ấp V, xã V, huyện V. Các thửa đất nói trên là đất gốc, do gia đình ông S sử dụng từ trước năm 1990. Đến năm 1990, ông S có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất nhưng đến năm 1991 ông S mới kê khai đứng tên sổ bộ (sổ mục kê ruộng đất và sổ bộ địa chính). Sử dụng đến năm 1994, ông S được Nhà nước cấp giấy CNQSDĐ số: 000425 ngày 02-12-1994 là đúng đối tượng, trình tự thủ tục và theo quy định của pháp luật. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện V đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng:

- Ông Trần Văn C trình bày: Ông là hàng xóm của ông Ô và ông S. Phần đất đang tranh chấp giữa các bên trước ngày 30-4-1975, là của cha mẹ ông Ô và ông S. Vào khoảng năm 1985, ông C có chở đất xuồng san lấp phần đất đang tranh chấp do tại thời điểm đó toàn bộ là ao nuôi cá. Để làm nhà ở được thì phải san lấp nên ông Ô đã thuê người chở đất xuồng để san lấp dần dần trong nhiều năm mới xong. Ngoài ra, ông C còn lấy đất sình dưới rạch Bà B (trước nhà ông Ô) để san lấp. San lấp xong thì khoảng một đến hai năm sau thì ông Ô mới làm nhà. Lúc đầu làm nhà tạm (cột gỗ tạp, vách và mái bằng lá dừa nước). Ông Ô san lấp đất làm nhà và ở trên đất từ trước năm 1990 đến nay, bên ông S không ai có ý kiến gì và cũng không thấy tranh cãi, ngăn cản. Người thuê và trả tiền công san lấp cho ông là ông Ô. Nhưng đất có tranh chấp thì vợ chồng cụ A có cho ông Ô hay không thì ông C không biết. Sau này ông C có nghe mọi người nói là phần đất có tranh chấp vợ chồng cụ A đã cho ông Ô rồi.

- Ông Trần Văn G1 trình bày: Ông là hàng xóm của ông Ô và ông S, là em trai ông Trần Văn C. Khi ông C chở đất xuồng san lấp phần đất có tranh chấp giữa ông Ô với ông S, thì ông không trực tiếp chở đất xuồng. Nhưng ông G1 có tham gia bốc và chuyền đất từ rạch Bà B lên san lấp phần đất có tranh chấp. Vì trước khi san lấp thì phần đất của bà S1 và bà L đang ở là hầm nuôi cá. Để làm nhà ở được thì phải san lấp nên ông Ô đã thuê ông C và một số người khác chở đất xuồng, lấy đất sình ở dưới rạch Bà B lên san lấp. Sau đó gia đình ông Ô làm nhà trên đất và ở từ năm 1988 đến nay. Khi san lấp, làm nhà và ở đến nay thì không thấy xảy ra tranh cãi, ngăn cản mà hai bên đều hòa thuận, vui vẻ. Người trả tiền thuê san lấp là ông Ô. Phần đất đang có tranh chấp giữa ông Ô với ông S, thì ông nghe nói là của cha mẹ ông Ô và S. Các cụ có cho đất ông Ô hay không thì ông G1 không biết.

- Ông Trần Văn N1 trình bày: Ông N1 là hàng xóm của nguyên đơn, bị đơn. Ông N1 có nghe nói phần đất đang tranh chấp giữa các bên là do cha mẹ cho ông Ô. Nhưng ông N1 thấy gia đình ông Ô đã ở trên đất từ lâu rồi. Sau này gia đình ông Ô có điều kiện thì phá bỏ nhà tạm để xây dựng nhà tường kiên cố hiện nay. Nên năm 2012, ông N1 có lãnh nhận xây nhà tường cho ông Ô. Từ khi động thổ cho đến khi xây dựng nhà xong, thì ông S và gia đình không ai có ý kiến gì, cũng không có ai tranh cản, la mắng, mà hai bên đều hài hòa và vui vẻ.

Tại bản án sơ thẩm số 51/2024/TLST-DS, ngày 05 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, quyết định:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tạ Văn Ô.
  • Công nhận quyền sử dụng 103,9m² đất (trong đó đã bao gồm 50m² đất ONT và 7,8m² đất CLN tại thửa đất số 7421 thuộc thửa đất số 742 và 46,1m² đất CLN tại thửa đất số 7432 thuộc thửa đất số 743, theo Bản trích đo địa chính số: 807/TTKTTNMT ngày 07-8-2023 của Trung tâm K2) cho ông Tạ Văn Ô. Buộc ông Tạ Văn S chịu trách nhiệm trả lại quyền sử dụng 103,9m² đất nói trên, tại thửa đất 742 và 743 cho ông Tạ Văn Ô.
  • Ông Tạ Văn Ô được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục để nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng {quyền được tái định cư, quyền và lợi ích hợp pháp khác (nếu có)} đối với 103,9m² đất {trong đó có 50m² đất ONT và 53,9m² đất CLN (7,8m² + 46,1m² thuộc thửa đất số 742 và 743)} của ông Ô bị thu hồi. Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện V, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án và Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Cần Thơ chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng {quyền được tái định cư, quyền và lợi ích hợp pháp khác (nếu có)} đối với diện tích 103,9m² đất {trong đó có 50m² đất ONT và 53,9m² đất CLN (7,8m² + 46,1m² thuộc thửa đất số 742 và 743)} của ông Ô bị thu hồi cho ông Ô theo quy định của pháp luật. Đối với diện tích đất còn lại (không có tranh chấp) thì đề nghị Ủy ban nhân dân huyện V và cơ quan khác có liên quan xem xét chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng {quyền và lợi ích hợp pháp khác (nếu có)} cho ông S theo quy định của pháp luật.

(Căn cứ vào Biên bản định giá và Biên bản xem xét thẩm định tài sản cùng ngày 28-02-2023 của Hội đồng định giá, Bản trích đo địa chính số: 807/TTKT-TNMT ngày 07-8-2023 của Trung tâm K2 để xác định vị trí, kích thước, diện tích phần đất tranh chấp, phải giao trả và bị thu hồi)

Các thửa đất số 742 và 743 nói trên thuộc tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là huyện V, thành phố Cần Thơ. Đất do ông Tạ Văn S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 000425 ngày 02-12-1994.

  • Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện V, thành phố Cần Thơ xem xét thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 000425, cấp ngày 02-12-1994 cho ông Tạ Văn S.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 08/7/2024, bị đơn ông Tạ Văn S kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 51/2024/TLST-DS, ngày 05 tháng 07 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo hường hủy hoặc sửa bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn – ông Tạ Văn T trình bày: Bị đơn ông Tạ Văn S thay đổi một phần yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận quyền sử dụng đất diện tích 103,9m² (trong đó 50m2 đất ONT và 7,8m² đất CLN tại thửa đất số 7421 thuộc thửa đất số 742 và 46,1m² đất CLN tại thửa đất số 7432 thuộc thửa đất số 743), theo Bản trích đo địa chính số: 807/TTKTTNMT ngày 07-8-2023 của Trung tâm K2) cho ông Tạ Văn Ô.

Phía ông Tạ Văn Ô có trách nhiệm giao cho ông Tạ Văn S 35.000.000 đồng một phần trong tiền bồi thường, hỗ trợ dự án do Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Cần Thơ chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích 103,9m² đất của ông Ô bị thu hồi.

Ông Tạ Văn Ô được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục để nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng (quyền được tái định cư, quyền và lợi ích hợp pháp khác nếu có) đối với 103,9m² ( trong đó 50m² đất ONT và 7,8m² đất CLN tại thửa đất số 7421 thuộc thửa đất số 742 và 46,1m² đất CLN tại thửa đất số 7432 thuộc thửa đất số 743), thuộc một phần thửa 742 và thửa 743, của ông Ô bị thu hồi. Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện V, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án và Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Cần Thơ chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng (quyền được tái định cư, quyền và lợi ích hợp pháp khác nếu có) đối với diện tích 103,9m² đất bị thu hồi cho ông Ô theo quy định của pháp luật. Đối với diện tích đất còn lại không có tranh chấp, đề nghị Ủy ban nhân dân huyện V và cơ quan khác có liên quan xem xét chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng cho ông S theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Tạ Văn S trình bày: Ông S thống nhất với ý kiến trình bày của ông Tạ Văn Ô và đồng ý với số tiền ông Ô hổ trợ cho ông S là 35.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

  • Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung giải quyết vụ án: Nhận thấy, trên cơ sở sự thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn về nội dung giải quyết vụ án về việc nguyên đơn hổ trợ cho bị đơn số tiền 35.000.000 đồng một phần trong giá trị quyền sử dụng đất diện tích đất tranh chấp 103,9m² (loại đất ODT và CLN) thuộc thửa 743 và thửa 742, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là huyện V, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 000425 cấp ngày 02/12/1994 cho ông Tạ Văn S, được bồi thường khi thu hồi đất. Việc thỏa thuận trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái quy định của pháp luật. Do vậy, đề nghị áp dụng Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự, công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên dơn và bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Tạ Văn S thực hiện thủ tục kháng cáo đúng thời hạn nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của ông Tạ Văn Ô, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có căn cứ.

[3] Về nội dung yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Tạ Văn S. Nhận thấy: Ông Ô khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng diện tích 103,9m² đất (ONT và CLN) đang tranh chấp cho ông Ô và buộc ông S chịu trách nhiệm giao trả lại quyền sử dụng diện tích đất đang tranh chấp nêu trên cho ông Ô. Phần đất tranh chấp thuộc một phần các thửa 742 và 743, đã được cấp giấy CNQSDĐ số: 000425 ngày 02-12-1994 cho ông S. Phía ông S cho rằng phần đất tranh chấp là cho ông Ô ở nhờ nên không đồng ý với yêu cầu của ông Ô.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Tạ Văn Ô và ông Tạ Văn S thống nhất thỏa thuận được với nhau các nội dung tranh chấp trong vụ án như sau:

  • Ông Tạ Văn Ô được quyền sử dụng đất diện tích 103,9m² (trong đó 50m² đất ONT và 7,8m² đất CLN tại thửa đất số 7421 thuộc thửa đất số 742 và 46,1m² đất CLN tại thửa đất số 7432 thuộc thửa đất số 743), tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là huyện V, thành phố Cần Thơ, vị trí xác định theo Bản trích đo địa chính số: 807/TTKTTNMT ngày 07-8-2023 của Trung tâm K2. Ông Tạ Văn S có trách nhiệm trả lại quyền sử dụng 103,9m² đất nói trên, tại thửa đất 742 và 743 cho ông Tạ Văn Ô.
  • Ông Tạ Văn Ô có trách nhiệm giao cho ông Tạ Văn S 35.000.000 đồng, một phần trong khoản tiền bồi thường, hỗ trợ dự án do Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Cần Thơ chi trả đối với diện tích bị thu hồi 103,9m² (trong đó 50m² đất ONT và 7,8m² đất CLN tại thửa đất số 7421 thuộc thửa đất số 742 và 46,1m² đất CLN tại thửa đất số 7432 thuộc thửa đất số 743), tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là huyện V, thành phố Cần Thơ.
  • Ông Tạ Văn Ô được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục để nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng (quyền được tái định cư, quyền và lợi ích hợp pháp khác nếu có) đối với 103,9m² đất của ông Ô bị thu hồi. Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện V, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án và Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Cần Thơ chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng (quyền được tái định cư, quyền và lợi ích hợp pháp khác nếu có) đối với diện tích 103,9m² đất ( trong đó 50m² đất ONT và 7,8m² đất CLN tại thửa đất số 7421 thuộc thửa đất số 742 và 46,1m² đất CLN tại thửa đất số 7432 thuộc thửa đất số 743) bị thu hồi cho ông Ô theo quy định của pháp luật. Đối với diện tích đất còn lại không có tranh chấp, đề nghị Ủy ban nhân dân huyện V và cơ quan khác có liên quan xem xét chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng cho ông S theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng, việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện thể hiện ý chí tự định đoạt của các bên, thỏa thuận này không trái đạo đức xã hội, không trái quy định của pháp luật. Do vậy, công nhận sự thỏa thuận của các bên theo như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Tổng số tiền 9.000.000đồng, ông Tạ Văn Ô, ông Tạ Văn S mỗi bên phải chịu ½ số tiền là 4.500.000 đồng. Do ông Tạ Văn Ô đã nộp tạm ứng toàn bộ số tiền 9.000.000 đồng và đã chi xong nên buộc ông S phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Ô 4.500.000 đồng.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nên bị đơn ông Tạ Văn S không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308, Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

1. Nguyên đơn ông Tạ Văn Ô và bị đơn ông Tạ Văn S thống nhất ông Tạ Văn Ô được quyền sử dụng 103,9m² đất (trong đó 50m² đất ONT và 7,8m² đất CLN tại thửa đất số 7421 thuộc thửa đất số 742 và 46,1m² đất CLN tại thửa đất số 7432 thuộc thửa đất số 743), tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là huyện V, thành phố Cần Thơ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000425 cấp ngày 02/12/1994 cho ông Tạ Văn S. Bị đơn ông Tạ Văn S có trách nhiệm trả lại quyền sử dụng đất 103,9m², tại thửa đất 742 và 743 cho ông Tạ Văn Ô.

- Ông Tạ Văn Ô có trách nhiệm hổ trợ cho ông Tạ Văn S số tiền 35.000.000 đồng, một phần trong khoản tiền bồi thường, hỗ trợ dự án do Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án và Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố K2 chi trả đối với diện tích bị thu hồi 103,9m² (trong đó 50m² đất ONT và 7,8m² đất CLN tại thửa đất số 7421 thuộc thửa đất số 742 và 46,1m² đất CLN tại thửa đất số 7432 thuộc thửa đất số 743), tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là huyện V, thành phố Cần Thơ.

- Ông Tạ Văn Ô được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục để nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng (quyền được tái định cư, quyền và lợi ích hợp pháp khác nếu có) đối với 103,9m² đất của ông Ô bị thu hồi. Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện V, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án và Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Cần Thơ chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng (quyền được tái định cư, quyền và lợi ích hợp pháp khác nếu có) đối với diện tích 103,9m² đất ( trong đó 50m² đất ONT và 7,8m² đất CLN tại thửa đất số 7421 thuộc thửa đất số 742 và 46,1m² đất CLN tại thửa đất số 7432 thuộc thửa đất số 743) bị thu hồi cho ông Ô theo quy định của pháp luật. Đối với diện tích đất còn lại không có tranh chấp, đề nghị Ủy ban nhân dân huyện V và cơ quan khác có liên quan xem xét chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và thưởng cho ông S theo quy định của pháp luật.

(Vị trí diện tích đất tranh chấp 103,9m² được xác định theo Bản trích đo địa chính số: 807/TTKT-TNMT ngày 07-8-2023 của Trung tâm K2)

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Tổng số tiền 9.000.000đ (chín triệu đồng), ông Ô, ông S mỗi bên phải chịu ½ số tiền là 4.500.000 đồng. Do ông Tạ Văn Ô đã nộp tạm ứng toàn bộ số tiền 9.000.000 đồng và đã chi xong nên buộc ông S phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Ô 4.500.000 đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Tạ Văn S (do là người cao tuổi).

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Tạ Văn S không phải nộp.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn H1

Trương Hoài Bình

Võ Bích H2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 515/2024/DS-PT ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 515/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QSDĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger