TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 514/2024/DS – ST Ngày: 01 - 8 - 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng thuê nhà và vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Quang Cảnh
2. Ông Lê Ngọc Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận
Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên toà:
Bà Phạm Thị Diệu Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 84/2022/TLST-DS ngày 16 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 801/2024/QÐST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1955; địa chỉ: 5 đường T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
- Bị đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1964; Địa chỉ: E đường P (số mới 2/2/106 L, tổ B), phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số I đường H, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền số 1417 quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/12/2023) – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Vũ Thị T có ý kiến trình bày như sau:
Vào ngày 09/12/2015, bà Vũ Thị T có cho bà Vũ Thị H vay số tiền 800.000.000 đồng với lãi suất 5%/tháng, thời hạn vay 06 tháng. Bà H có thế chấp cho bà T căn nhà số E đường P (số mới 2/2/106 L), phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng do căn nhà này chưa được cấp sổ hồng cho nên hai bên cùng đồng ý lập giấy tay về việc mua bán nhà (giả cách) nhằm đảm bảo cho khoản vay nêu trên và Hợp đồng thuê nhà với số tiền 5.000.000 đồng/tháng nhằm hợp thức hóa số tiền lãi phải trả hàng tháng.
Tuy nhiên, sau khi bà H nhận đủ số tiền của bà T và giao giấy tờ nhà đất cho bà T thì bà H không chịu trả lãi hàng tháng và không trả tiền gốc như đã thỏa thuận khi đến hạn. Mặc dù bà T đã nhiều lần hối thúc nhưng bà H không thanh toán nợ nên bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- - Tuyên vô hiệu thỏa thuận mua bán nhà đất (giấy tay) và Hợp đồng thuê nhà đối với nhà đất tại địa chỉ số E đường P (số mới 2/2/106 L), phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Vũ Thị H và bà Vũ Thị T ký ngày 09/12/2015.
- - Yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố văn bản vô hiệu như sau: Hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, cụ thể bà Vũ Thị T trả cho bà Vũ Thị H 05 loại giấy tờ: Tờ đăng ký nhà – đất năm 1999; Giấy ưng thuận sang nhượng đất ngày 03/02/1996; Giấy cho tặng nhà và đất ngày 12/01/2007; Giấy chứng nhận tạm thời mang tên bà Nguyễn Thị M1 ngày 03/4/1991 và Bản photo bản vẽ khu đất.
- - Yêu cầu một mình bà Vũ Thị H trả cho bà Vũ Thị T số tiền 800.000.000 đồng. Với phương thức thanh toán như sau:
- + Bắt đầu từ ngày 01/8/2024 đến 01/8/2026 thanh toán mỗi tháng số tiền 25.000.000 đồng.
- + Bắt đầu từ ngày 01/9/2026 đến ngày 01/6/2027 thanh toán mỗi tháng số tiền 20.000.000 đồng.
- - Rút yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi 200.000.000 đồng.
Sau khi bà H trả dứt điểm số nợ 800.000.000 đồng cho bà T thì bà T sẽ hoàn trả lại cho bà H 05 loại giấy tờ nêu trên.
2. Bị đơn bà Vũ Thị H do bà Nguyễn Thị M làm người đại diện theo ủy quyền, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, có ý kiến trình bày như sau:
Bà H thừa nhận việc mua bán là giả cách đúng như nguyên đơn trình bày. Bà H thừa nhận có ký Văn bản thỏa thuận và cam kết ngày 09/12/2015 với bà Vũ Thị H xác nhận giá mua bán căn nhà E đường P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là 800.000.000 đồng bà H đã nhận đủ số tiền 800.000.000 đồng từ bà T và sự việc này đã được lập Vi bằng.
Nay nguyên đơn yêu cầu bà H thanh toán số tiền gốc là 800.000.000 đồng thì bà H đồng ý. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế khó khăn nên yêu cầu trả mỗi tháng 10.000.000 đồng cho đến khi dứt điểm số nợ trên.
Khi hai bên thỏa thuận vay tiền, bà H có giao cho bà T 05 loại giấy tờ: Tờ đăng ký nhà – đất năm 1999; Giấy ưng thuận sang nhượng đất ngày 03/02/1996; Giấy cho tặng nhà và đất ngày 12/01/2007; Giấy chứng nhận tạm thời mang tên bà Nguyễn Thị M1 ngày 03/4/1991 và Bản photo bản vẽ khu đất.
Bị đơn yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố văn bản vô hiệu như sau: Hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, cụ thể bà Vũ Thị T phải trả cho bà Vũ Thị H 05 loại giấy tờ nêu trên. Bà Vũ Thị H trả lại cho bà T số tiền 800.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo quy định tại Điều 48, Điều 51, Điều 63, Điều 203, từ Điều 239 đến Điều 260 và Điều 263 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
- - Tuyên vô hiệu thỏa thuận mua bán nhà đất và hợp đồng thuê nhà đối với nhà đất tại địa chỉ số E đường P (số mới 2/2/106 L), phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Vũ Thị H và bà Vũ Thị T ký ngày 09/12/2015 do giả tạo.
- - Buộc bà Vũ Thị H phải trả cho bà Vũ Thị T số tiền 800.000.000 đồng theo phương thức sau:
- + Bắt đầu từ ngày 01/8/2024 đến 01/8/2026 thanh toán mỗi tháng số tiền 25.000.000 đồng.
- + Bắt đầu từ ngày 01/9/2026 đến ngày 01/6/2027 thanh toán mỗi tháng số tiền 20.000.000 đồng.
- - Đình chỉ giải quyết yêu cầu của bà Vũ Thị T buộc bà Vũ Thị H trả số tiền lãi là 200.000.000 đồng.
- - Buộc bà Vũ Thị T phải trả cho bà Vũ Thị H 05 loại giấy tờ: Tờ đăng ký nhà – đất năm 1999; Giấy ưng thuận sang nhượng đất ngày 03/02/1996; Giấy cho tặng nhà và đất ngày 12/01/2007; Giấy chứng nhận tạm thời mang tên bà Nguyễn Thị M1 ngày 03/4/1991 và Bản photo bản vẽ khu đất ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng dân sự. Do bị đơn bà Vũ Thị H có nơi cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét, lời trình bày của nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bà Vũ Thị H trả số tiền nợ cho nguyên đơn, đồng thời không đề nghị Tòa án triệu tập thêm người tham gia tố tụng liên quan đến nợ vay nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của nguyên đơn.
[3] Tại phiên tòa hôm nay, bà Vũ Thị T yêu cầu chấm dứt tư cách đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Ngọc Â. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà T tham gia phiên tòa và toàn bộ quá trình giải quyết vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về yêu cầu của đương sự:
[4.1] Về yêu cầu tuyên vô hiệu thỏa thuận mua bán nhà đất (giấy tay) và Hợp đồng thuê nhà đối với nhà đất tại địa chỉ số E đường P (số mới 2/2/106 L), phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Vũ Thị H và bà Vũ Thị T ký ngày 09/12/2015. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay các bên đương sự xác định thỏa thuận mua bán nhà đất và hợp đồng thuê nhà ký ngày 09/12/2015 đối với nhà đất tại số E đường P (số mới 2/2/106 L), phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tài sản giữa bà Vũ Thị T và bà Vũ Thị H nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và phù hợp với Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố các giao dịch dân sự nói trên là vô hiệu do giả tạo.
[4.2] Về hậu quả khi tuyên bố giao dịch vô hiệu
Tại khoản 2 Điều 131 Bộ luật dân sự quy định: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”. Xét các bên cùng trình bày ký hợp đồng thuê nhà ngày 09/12/2015 nhưng thực tế không có việc thuê nhà nên các bên không có bàn giao nhà, chỉ có nguyên đơn đang giữ 05 loại giấy tờ: Tờ đăng ký nhà – đất năm 1999; Giấy ưng thuận sang nhượng đất ngày 03/02/1996; Giấy cho tặng nhà và đất ngày 12/01/2007; Giấy chứng nhận tạm thời mang tên bà Nguyễn Thị M1 ngày 03/4/1991 và Bản photo bản vẽ khu đất. Hội đồng xét xử có cơ sở buộc nguyên đơn giao trả các giấy tờ trên cho bị đơn ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[4.3] Về yêu cầu trả tiền gốc đã vay 800.000.000 đồng. Xét bị đơn thừa nhận có vay của nguyên đơn số tiền là 800.000.000 đồng nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật dân sự quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che dấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực...”. Do hợp đồng vay tài sản được các bên thừa nhận nên có giá trị pháp lý buộc các bên có nghĩa vụ thực hiện. Xét bị đơn không thanh toán tiền vay cho nguyên đơn như đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn trả tiền nợ gốc cho nguyên đơn 800.000.000 đồng.
[4.4] Về thời hạn và phương thức thanh toán: Xét yêu cầu của bà Vũ Thị H xin trả 10.000.000 đồng/tháng cho đến khi trả dứt nợ, xét thấy do bị đơn vi phạm thời hạn thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện, nay đề nghị trả dần và không được nguyên đơn đồng ý, yêu cầu trên của bị đơn nhằm mục đích kéo dài thời gian trả nợ gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không chấp nhận, buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ nợ gốc theo yêu cầu của nguyên đơn, cụ thể như sau:
- + Bắt đầu từ ngày 01/8/2024 đến 01/8/2026 thanh toán mỗi tháng số tiền 25.000.000 đồng.
- + Bắt đầu từ ngày 01/9/2026 đến ngày 01/6/2027 thanh toán mỗi tháng số tiền 20.000.000 đồng.
Thực hiện khi án có hiệu lực thi hành.
[5]. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn rút yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi 200.000.000 đồng nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.
[6]. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5]. Về án phí: Xét đơn xin miễn án phí ngày 08/01/2024 của người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy bà H sinh ngày 25/11/1964, tính đến thời điểm xét xử bà H chưa đủ 60 tuổi nên căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi ngày 01/7/2010 thì bà H không phải là là người cao tuổi nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Vũ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 36.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; điểm c khoản 1 Điều 217 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 124; khoản 2 Điều 131; Điều 357; Điều 463; Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Tuyên bố thỏa thuận mua bán nhà đất (giấy tay) và Hợp đồng thuê nhà đối với nhà đất tại địa chỉ số E đường P (số mới 2/2/106 L), phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Vũ Thị H và bà Vũ Thị T ký ngày 09/12/2015 là vô hiệu do giả tạo.
- - Buộc bà Vũ Thị H trả cho bà Vũ Thị T số tiền nợ gốc 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng.
- - Thời hạn và phương thức thanh toán như sau:
- + Bắt đầu từ ngày 01/8/2024 đến 01/8/2026 thanh toán mỗi tháng số tiền 25.000.000 đồng.
- + Bắt đầu từ ngày 01/9/2026 đến ngày 01/6/2027 thanh toán mỗi tháng số tiền 20.000.000 đồng.
Thực hiện khi án có hiệu lực thi hành.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, nếu bên phải thi hành án vi phạm bất kỳ thời hạn thanh toán nào còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[2] Buộc bà Vũ Thị T trả cho bà Vũ Thị H các giấy tờ sau: Tờ đăng ký nhà – đất năm 1999; Giấy ưng thuận sang nhượng đất ngày 03/02/1996; Giấy cho tặng nhà và đất ngày 12/01/2007; Giấy chứng nhận tạm thời mang tên bà Nguyễn Thị M1 ngày 03/4/1991 và Bản photo bản vẽ khu đất, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thi hành.
[3] Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền lãi 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị H phải chịu án phí là 36.000.000 (ba mươi sáu triệu) đồng.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
[6] Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Viết Hoàng Lâm |
Bản án số 514/2024/DS – ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng thuê nhà và vay tài sản
- Số bản án: 514/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng thuê nhà và vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
