Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 514/2025/HS-PT

Ngày: 10/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thị Thúy Bình;

Bà Trần Thị Quỳnh .

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Đặng Hải N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

* Bị cáo có kháng cáo: Đặng Hải N; tên gọi khác: Không; sinh ngày 18 tháng 01 năm 1981 tại huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú và chỗ ở hiện tại: Khối phố B, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Phóng viên (ngày 15/4/2024, đã bị Tổng biên tập tạp chí Doanh nghiệp Việt Nam ra Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động); Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Công L, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1953; Vợ thứ nhất: Trần Thị T; Sinh năm 1987 (đã ly hôn năm 2010); Vợ thứ hai: Trần Thị T1; Sinh năm 1992 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024, đến ngày 08/7/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh tại khối phố B, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Phạm Gia T2 và các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Phạm Gia T2, Đặng Hải N đều hoạt động trong lĩnh vực báo chí nên đã lợi dụng việc tác nghiệp viết bài, đưa tin để tìm hiểu các công trình đang xây dựng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Khi đến các công trình đang thi công thì Phạm Gia T2 và Đặng Hải N tìm hiểu về các vấn đề và cho rằng có sai phạm rồi liên lạc với các đơn vị, cá nhân có liên quan nhằm mục đích gây sức ép, sẽ viết bài đăng báo hoặc phản ánh lên cơ quan chức năng để thanh tra, kiểm tra đối với những công trình đang thi công làm cho các cá nhân có liên quan lo sợ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của bản thân và của cơ quan, tổ chức nên phải đưa tiền cho T2 và N để không bị phản ánh lên cơ quan chức năng hoặc không bị viết bài đăng báo. Bằng các thủ đoạn nêu trên, trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến ngày 27/3/2024, Phạm Gia T2 và Đặng Hải N đã cưỡng đoạt tổng số tiền 106.500.000 đồng của 8 người bị hại trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Cụ thể:

  1. Hành vi cưỡng đoạt số tiền 17.000.000 đồng của ông Nguyễn Huy L1 (sinh năm 1967, thường trú tại thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh - Giám đốc Công ty TNHH V2):

    Khoảng tháng 12/2023, Phạm Gia T2 và Đặng Hải N biết Công ty TNHH V2 do ông Nguyễn Huy L1 mượn hồ sơ của công ty TNHH T7 ở xã P, huyện C để thi công công trình đường giao thông nội đồng tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Phạm Gia T2 tìm hiểu và gọi điện thoại cho anh Đậu H là Kỹ sư xây dựng, quản lý của công ty TNHH T7 trao đổi nội dung mà T2 cho rằng sai phạm về quá trình đắp đất thi công đường tại xã T và T2 đe dọa anh H sẽ phản ánh đến cơ quan chức năng hoặc viết bài đăng báo. Sau đó, anh Đậu H thông báo với ông L1 về các nội dung T2 trao đổi thì ông L1 lo sợ nên đã nhờ anh H hẹn gặp T2 để đưa cho T2 2.000.000 đồng, H đồng ý. Khoảng tháng 12/2023, H đưa 2.000.000 đồng cho T2 tại thị trấn Đ, huyện C để T2 không phản ánh sai phạm. Sau đó ông Nguyễn Huy L1 gọi điện thoại cho Phạm Gia T2 và hẹn gặp nhau tại thành phố H. Vào khoảng tháng 12/2023 tại quán cà phê số C đường L, phường T, thành phố H, anh Nguyễn Huy L1 đã gặp và đề nghị Phạm Gia T2, Đặng Hải N không phản ánh sai phạm, đồng thời đưa 15.000.000 đồng (T2 và N chia nhau mỗi người được hưởng 7.500.000 đồng). Các bị cáo đã trả lại cho ông L1 số tiền 17.000.000 đồng.

  2. Hành vi cưỡng đoạt số tiền 7.000.000 đồng của ông Hán Duy N1 (sinh năm 1945, thường trú tại tổ dân phố G, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh - Giám đốc Công ty TNHH X):
    • Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 12/2023, biết ông Hán Duy N1 cho người khác thuê đất làm nhà xưởng tại tổ dân phố G, thị trấn H, huyện H mà chưa được sự cho phép của chính quyền địa phương nên Phạm Gia T2 đã gọi điện đe dọa ông N1 về việc cho thuê đất làm cho ông N1 lo sợ sẽ bị phản ánh đến cơ quan chức năng hoặc viết bài đăng báo thì bị thanh tra, kiểm tra và không ai thuê đất của ông N1 nữa. Lúc này ông N1 nói với T2 và N tạo điều kiện giúp đỡ và hẹn gặp. Khoảng một đến hai ngày sau, ông N1 phải đưa 5.000.000đ cho T2. Sau đó T2, N đi về và chia nhau mỗi người 2.500.000 đồng.
    • Lần thứ hai: Ngày 20/3/2024, biết do Công ty TNHH X của ông Hán Duy N1 thi công nên T2 gọi điện thoại cho ông N1 để phản ánh nội dung T2 cho rằng sai phạm nên ông N1 đã hẹn gặp T2 tại khu vực trước UBND thị trấn H và đưa 2.000.000 đồng cho Phạm Gia T2 thì T2 đồng ý bỏ qua không phản ánh, viết bài đăng tin về những sai phạm đó. Số tiền chiếm đoạt được Phạm Gia T2 và Đặng Hải N chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng. Hiện nay các bị cáo đã bồi thường 7.000.000 đồng cho ông Hàn Duy N2 và ông N2 không yêu cầu gì thêm.
  3. Hành vi cưỡng đoạt số tiền 10.000.000 đồng của anh Nguyễn Khắc H1 (sinh năm 1992, thường trú tại thị trấn Đ, huyện C - Kỹ sư xây dựng của Công ty TNHH M1):

    Khoảng cuối tháng 01/2024, Phạm Gia T2 liên lạc với anh Nguyễn Ngọc T3 và anh Lê Văn H2 (là cán bộ Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện H) cho rằng công trình thi công có vi phạm, anh Lê Văn H2 thông báo cho anh Bùi Xuân Đ - Giám đốc Công ty TNHH M1 (là đơn vị đang thi công gói thầu xây dựng). Mấy ngày sau, anh Bùi Xuân Đ gọi điện và hẹn gặp Phạm Gia T2, Đặng Hải N tại đường M thuộc phường T, thành phố H, khi gặp đưa cho T2 và N số tiền 2.000.000 đồng, nhưng T2 và N đã trả lại số tiền đó cho anh Đ. Sau đó, anh Bùi Xuân Đ trao đổi lại với anh Nguyễn Khắc H1 là Kỹ sư xây dựng của Công ty TNHH M1 để anh H1 chủ động liên hệ thương lượng với T2 và N. Vì sợ ảnh hưởng đến uy tín của công ty V3 thi công công trình nên anh Nguyễn Khắc H1 đã chủ động liên lạc với Đặng Hải N nhưng N không đồng ý gặp. Do lo sợ nên anh Nguyễn Khắc H1 nhờ Lê Hữu A liên hệ với Phạm Gia T2 và Đặng Hải N để anh H1 gặp nói chuyện nhưng T2, N không đồng ý. Sau đó, Nguyễn Khắc H1 nhờ Lê Hữu A gặp xin T2 và N không viết bài đăng báo, không tiếp tục phản ánh lên Ban quản lý dự án để công trình tiếp tục được thi công nên Lê Hữu A đã liên lạc trao đổi với T2, N. Đến ngày 6/02/2024 (tức ngày 27/12 âm lịch), anh Nguyễn Khắc H1 đưa cho Lê Hữu A 01 phong bì nhờ Anh đưa quà Tết cho T2 và N. Sau đó, Lê Hữu A gọi Phạm Gia T2 và Đặng Hải N đến nhà A, tại đây Anh đưa cho N phong bì do H1 nhờ, Nam kiểm tra thấy bên trong có 10.000.000 đồng nên N đưa cho Anh 1.000.000 đồng để mừng tuổi con của A nhưng A không nhận, N bỏ lại bàn và ra về. Sau đó Lê Hữu A gọi anh Nguyễn Khắc H1 đến để trả lại cho H1 1.000.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được, Phạm Gia T2 và Đặng Hải N chia nhau N được hưởng 3.500.000 đồng, T2 được hưởng 5.500.000 đồng. Như vậy, Phạm Gia T2 và Đặng Hải N đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Khắc H1 số tiền 10.000.000 đồng. Hiện nay các bị cáo đã bồi thường cho anh H1 số tiền trên và anh H1 không yêu cầu gì thêm.

  4. Hành vi cưỡng đoạt số tiền 4.000.000 đồng của anh Trần Trọng T4 và 15.000.000 đồng của anh Lê Thế C:

    Vào sáng ngày 13/3/2024, Phạm Gia T2, Đặng Hải N đi đến xã G, huyện H và thấy đang thi công công trình dự án khắc phục thiên tai do mưa lũ tại Trạm biến áp 110 KV, thuộc xã G, huyện H do Công ty Cổ phần H3 là đơn vị thi công nhưng không đúng quy trình và Công ty Đ1 là đơn vị chủ đầu tư nên T2 đã liên lạc và hẹn gặp anh Lê Thế C là kỹ thuật của Công ty Cổ phần H3. Khi gặp nhau, sợ ảnh hưởng đến việc thi công nên anh C đề nghị T2, N không phản ánh và viết bài đăng báo nhưng T2 và N không đồng ý. Sau đó, Phạm Gia T2 gọi điện cho anh Nguyễn Văn N3 - Trưởng phòng kế hoạch vật tư của Công ty Đ1 phản ánh những nội dung T2 và N cho rằng sai phạm của công trình này. Cùng ngày anh N3 liên lạc với Trần Trọng T4 (chuyên viên phòng kế hoạch vật tư của Công ty Đ1) trao đổi về những nội dung mà T2, N đã phản ánh với anh N3. Anh Trần Trọng T4 đã liên lạc với Phạm Gia T2, gặp nhau tại quán C1 thuộc phường T, thành phố H xin T2 và N bỏ qua sai phạm, đồng thời đưa cho T2 và N mỗi người 2.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền của anh Trần Trọng T4 thì Phạm Gia T2 liên hệ với anh Nguyễn Văn N3, hẹn gặp ngày 25/3/2024 nhưng do anh N3 bận họp nên anh C đưa 15.000.000 đồng cho T2. Phạm Gia T2 và Đặng Hải N chia nhau mỗi người được hưởng 7.500.000 đồng. Các bị cáo đã bồi thường 4.000.000 đồng cho anh T4 và 15.000.000 đồng cho anh C.

  5. Hành vi cưỡng đoạt số tiền 20.000.000 đồng của anh Phạm Đức T5 (sinh 1974, trú tại TDP C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh):

    Ngày 18/3/2024, Phạm Gia T2 và Đặng Hải N biết công trình Nhà vượt lũ cộng đồng tại xã H, huyện H do Công ty TNHH T8 thi công nên Phạm Gia T2 đã liên lạc với anh Phạm Đức T5 - Giám đốc phản ánh về việc công ty của anh T5 không đủ năng lực thi công và cũng không liên doanh với đơn vị khác, đồng thời đe dọa sẽ phản ánh lên người có thẩm quyền để chấm dứt hợp đồng, dừng thi công. Anh T5 lo sợ, ngày 18/3/2024, tại quán C2 thuộc tổ dân phố A, thị trấn H, huyện H, anh T5 gặp T2 và N xin bỏ qua đưa 20.000.000 đồng cho T2 theo yêu cầu. Sau đó, Phạm Gia T2 và Đặng Hải N chia nhau mỗi người 10.000.000 đồng. Hiện nay các bị cáo đã bồi thường 20.000.000 đồng cho anh Phạm Đức T5.

  6. Hành vi cưỡng đoạt số tiền 23.500.000 đồng của anh Nguyễn Trường A1 (sinh năm 1990, trú tại xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh):

    Ngày 18/3/2024, Phạm Gia T2 và Đặng Hải N đã liên lạc với anh Nguyễn Trường A1 phản ánh về việc công trình chậm tiến độ, không đảm bảo an toàn đồng thời yêu cầu gặp nhau nói chuyện trực tiếp. Đến khoảng 7 giờ 30 phút ngày 19/3/2024, anh Nguyễn Trường A1 đến quán C3, đường X, thị trấn N, huyện C gặp Phạm Gia T2 và Đặng Hải N, tại đây Phạm Gia T2 yêu cầu anh A1 đưa số tiền 25.000.000 đồng, nếu không thì sẽ viết bài đăng báo. Do lo sợ T2 và N viết bài đăng báo ảnh hưởng đến quá trình thi công nên anh Al đã đưa 23.500.000 đồng cho T2, N. Sau đó Phạm Gia T2 và Đặng Hải N chia nhau, trong đó T2 được hưởng 12.500.000 đồng, N được hưởng 11.000.000 đồng. Hiện nay các bị cáo đã bồi thường 23.500.000 đồng cho anh A1.

  7. Hành vi cưỡng đoạt số tiền 10.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn T6 (sinh 1978, trú tại xóm D, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh):

    Ngày 26/3/2024, Phạm Gia T2 và Phạm Hải N4 đi đến địa bàn xã H, huyện H và thấy công trình thi công Cầu tạm đường huyện lộ 9 đi qua xã P và xã H, huyện H nhưng không đảm bảo và biết do Công ty CP X1 là đơn vị thi công. Phạm Gia T2 đã liên lạc và phản ánh những vấn đề cho rằng sai phạm tại công trình này với lãnh đạo xã H và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện H nhằm mục đích để họ thông báo cho đơn vị thi công biết. Sau khi nhận được thông tin phản ánh thì anh Trần Kim V1, anh Nguyễn Xuân L2 và anh Phan Đắc M là kỹ thuật, giám sát và công nhân của Công ty CP X1 đã liên lạc với Phạm Gia T2 để xin không phản ánh, viết bài đăng báo nhưng T2 không đồng ý và yêu cầu anh Nguyễn Văn T6 - Giám đốc Công ty phải trực tiếp gặp để giải quyết. Sáng ngày 27/3/2024, anh Nguyễn Văn T6 đã liên lạc, hẹn gặp vào khoảng hơn 11 giờ 30 phút cùng ngày, anh T6 xin tạo điều kiện giúp đỡ không phản ánh lên cơ quan chức năng và xin hướng giải quyết thì N4 và anh V1 cùng đi ra ngoài còn lại T2 và anh T6 ngồi nói chuyện với nhau. Phạm Gia T2 yêu cầu anh T6 phải đưa 10.000.000 đồng để được bỏ qua nhưng do anh T6 mới chuẩn bị được 5.000.000 đồng, T2 không đồng ý, anh T6 xin đưa trước 5.000.000 đồng còn 5.000.000 đồng sẽ nhờ người chuyển vào tài khoản của T2, nhưng T2 không đồng ý mà yêu cầu chuyển vào tài khoản của quán cà phê để anh T6 lấy tiền mặt đưa cho T2, anh T6 đồng ý. Lúc này anh T6 đưa cho T2 trước một phong bì có 5.000.000 đồng, T2 nhận phong bì bỏ vào túi quần dài bên phải và tiếp tục ngồi nói chuyện với anh T6 để chờ nhận thêm 5.000.000 đồng nữa thì bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H phát hiện bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Gia T2, thu giữ vật chứng và các đồ vật có liên quan. Như vậy, Phạm Gia T2 và Đặng Hải N đã cưỡng đoạt của anh T6 số tiền 10.000.000 đồng. Hiện nay các bị cáo đã trả lại số tiền 5.000.000 đồng cho anh T6 và anh T6 không yêu cầu gì thêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; điểm g, i khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hải N 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ 29/3/2024 đến ngày 08/7/2024.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Phạm Gia T2, về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 02/12/2024, bị cáo Đặng Hải N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Đặng Hải N vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm, việc Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” như đã tuyên là đúng; bị cáo rất ân hận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện. Tuy nhiên, bị cáo mong được xem xét về vai trò, hầu hết các hành vi đều do T2 chủ động phát hiện và thực hiện, bị cáo là bạn bè với T2 và đang học việc nên có nể nang, thiếu suy nghĩ chín chắn dẫn đến phạm tội; bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng vi phạm pháp luật, bị cáo đã thi hành bản án sơ thẩm về việc nộp đầy đủ án phí; nhiều năm liền tham gia thiện nguyện được tặng giấy khen, bị hại cũng tiếp tục làm đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Trong vụ án này Đặng Hải N tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, bị cáo xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ mới nên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo; đề nghị áp dụng điểm b Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của bị cáo Đặng Hải N đảm bảo hình thức và trong hạn luật định, nên đủ điều kiện xét xử theo trình tự phúc thẩm.
  2. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Hải N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nêu; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng; người liên quan; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Từ tháng 12/2023 đến ngày 27/3/2024, Phạm Gia T2 và Đặng Hải N đã đe dọa sẽ phản ánh và viết bài đăng báo làm cho 8 người có liên quan đến một số công trình đang thi công trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh lo sợ sai phạm nên phải đưa tiền cho các bị cáo tổng số tiền 106.500.000 đồng (gồm: ông Hàn Duy N2 số tiền 7.000.000 đồng; ông Nguyễn Huy L1 số tiền 17.000.000 đồng; anh Lê Thế C số tiền 15.000.000 đồng, anh Trần Trọng T4 số tiền 4.000.000 đồng, ông Phạm Đức T5 số tiền 20.000.000 đồng, anh Nguyễn Khắc H1 số tiền 10.000.000 đồng, anh Nguyễn Trường A1 số tiền 23.500.000 đồng; anh Nguyễn Văn T6 số tiền 10.000.000 đồng). Hành vi của các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Hải N tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đã thi hành án phí sơ thẩm và trình bày trước khi phạm tội bản thân chưa vi phạm pháp luật, khi phạm tội chỉ là cộng tác viên đang học việc nên nhận thức không đầy đủ về tính chất nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội, bị cáo không chủ động thực hiện hành vi cưỡng đoạt nhưng do tin tưởng và nể nang nên đã làm theo hướng dẫn của bị cáo T2. Bị cáo đã xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ gồm các tài liệu có nội dung các bị hại trong vụ án tiếp tục xin giảm nhẹ cho bị cáo, các giấy khen và xác nhận của các tổ chức thiện nguyện và chính quyền địa phương về việc bị cáo tích cực tham gia các phong trào thiện nguyện tại địa phương.

    Xét thấy: Hành vi của các bị cáo mang tính chất nghiêm trọng, các hành vi phạm tội đều do T2 chủ động thực hiện nhưng Đặng Hải N tham gia với vai trò giúp sức và được hưởng lợi. Hành vi của các bị cáo ngoài việc xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác còn làm mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan báo chí nên việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về nội dung xin hưởng án treo. Tuy nhiên, đây là vụ án có đồng phạm, bị cáo tham gia với vai trò giúp sức cho bị cáo Phạm Gia T2, số tiền mỗi lần chiếm đoạt không lớn đã được bồi thường toàn bộ cho những người bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải, xuất trình thêm các tài liệu về tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

  4. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Đặng Hải N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
  5. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1]. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đặng Hải N; Sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/ HS-ST ngày 20/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, giảm hình phạt cho bị cáo.
  2. [2] Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hải N 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ 29/3/2024 đến ngày 08/7/2024.
  3. [3] Về án phí: Bị cáo Đặng Hải N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo đã nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai số 0000219 ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  4. [4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. [5] Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo (qua đ/c);
  • - Lưu HS, PHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Xuân

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thuý Bình

Trần Thị Quỳnh

Nguyễn Thị Thanh Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 514/2025/HS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 514/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo N phạm tội Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger