TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 514/2024/HC-PT Ngày: 11 - 6 - 2024 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và quyết định giải quyết khiếu nại. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Nhựt Bình
Các Thẩm phán: Ông Phan Tô Ngọc
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 1112/2023/TLPT-HC ngày 22 tháng 12 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và quyết định giải quyết khiếu nại".
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 62/2023/HC-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 861/2024/QĐPT-HC ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:
- Bà Bồ Thị Kim H, sinh năm 1959 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Hiệp L, sinh năm 1953 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số A đường C, khu A, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Nguyễn Thiện Đ, sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ: Số A, đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên hệ: Đại lộ B, tổ A, khu A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 17/11/2021).
- Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân thị xã T;
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên;
Địa chỉ: Phường U, T (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Hồng T, chức vụ: Chủ tịch (xin xét xử vắng mặt);
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B (vắng mặt);
Địa chỉ: tầng A, Tòa nhà T hành chính tỉnh Bình Dương, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bồ Thị H1, sinh năm 1963 (có mặt);
Địa chỉ thường trú: Số H, tổ B, khu phố A, phường U, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương.
- Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Bồ Thị Kim H, ông Nguyễn Hiệp L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 26/4/2021, các đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 24/5/2021, ngày 09/6/2021 của người khởi kiện bà Bồ Thị Kim H, ông Nguyễn Hiệp L và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện trình bày:
Phần đất diện tích 1.184m² thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 27, tọa lại tại khu phố A, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương là của ông bà nội của bà H là ông Bồ Văn T1 (chết trước năm 1968) và bà Nguyễn Thị N (chết năm 1968) khai phá, sử dụng và cất nhà ở cho đến lúc chết. Sau đó, bà H cùng cha mẹ của bà H là ông Bồ Văn H2 (sinh năm 1925, chết năm 1983) và bà Nguyễn Thị V (sinh năm 1928, chết năm 1972) tiếp tục quản lý, sử dụng nhà, đất. Từ khi sinh ra, bà H đã sống cùng với ông bà nội và cha mẹ trên phần đất này. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, con đông và còn nhỏ nên ông H2 đã gửi các chị em của bà H cho các cô nuôi dưỡng. Riêng bà H sinh sống với cha là ông H2 và đứng tên chủ hộ trên sổ hộ khẩu gia đình. Bà H có công nuôi dưỡng nên ông H2 để cho bà H được toàn quyền quản lý, sử dụng, sở hữu và định đoạt tài sản. Bà H đứng tên xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên. Các chị em của bà H đều biết việc này và không ai có ý kiến phản đối. Bà H sống trên phần nhà đất đến năm 2006 thì xảy ra mâu thuẫn với em gái là bà Bồ Thị H1 (gọi tắt là bà H1) nên bà H chuyển về nhà chồng sinh sống cho đến nay.
2
Quá trình xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H như sau: Năm 1990, bà H xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/10/1990 với diện tích 1.261m², tờ bản đồ số 8 tọa lạc tại ấp A, xã U, huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là khu phố A, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương). Năm 1998, Ủy ban nhân dân huyện T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05904 QSDĐ/TU ngày 24/12/1998 cho bà H với diện tích 1.261m² (300m² thổ cư và 961m² đất vườn). Năm 2006, bà H xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L với diện tích 1.184m², thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 27. Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân thị trấn U đều tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật. Các chị em của bà H đều biết nhưng không ai phản đối, khiếu nại hay tranh chấp. Quá trình quản lý sử dụng đất, bà H có cho em gái là bà Bồ Thị H1 sống trên đất. Đến năm 2006, bà H xảy ra mâu thuẫn với bà H1 nên làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân thị trấn U giải quyết buộc bà H1 trả lại nhà, đất. Do tình cảm chị em nên bà H không khởi kiện ra Tòa án và bà H1 vẫn không khởi kiện tranh chấp đất với bà H mặc dù biết bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 02/7/2018, Trung tâm Phát triển quỹ đất thị xã T mời bà H họp để thống nhất việc đo đạc, kiểm đếm đất và tài sản trên đất do bị ảnh hưởng của công trình nâng cấp bê tông nhựa tuyến bờ sông (đoạn từ trụ sở Ủy ban nhân dân phường U đến quán G). Ngày 04/7/2018, bà Nguyễn Ngọc V1 đại diện cho bà H tham gia họp tại Trung tâm Phát triển quỹ đất thị xã T.
Ngày 13/7/2018, Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 3765/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà H và ông L. Ngày 09/10/2019, bà H và ông L khiếu nại Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T. Ngày 17/01/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 134/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại với nội dung bác đơn khiếu nại của bà H, ông L. Không đồng ý, bà H và ông L tiếp tục khiếu nại Quyết định số 134/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T. Ngày 05/4/2021, bà H nhận được Quyết định số 804/QĐ-UBND ngày 29/3/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B giải quyết khiếu nại với nội dung bác đơn khiếu nại của bà H và ông L, công nhận và giữ nguyên Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T.
Trong suốt quá trình xem xét, xử lý và ban hành Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 thì Ủy ban nhân dân thị xã T không mời gia đình bà H đến làm việc, không đối thoại hay thông báo cho bà H, ông L biết việc ban hành quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 01/10/2019, bà H và ông L liên hệ làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất thì mới được Văn
3
phòng Đăng ký đất đai thị xã T cho biết là Ủy ban nhân dân thị xã T có Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lý do: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, không đủ điều kiện được cấp và không đúng quy định pháp luật đất đai”.
Khi ban hành Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018, Ủy ban nhân dân thị xã T không xem xét đến nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và việc đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 03 lần cho người khởi kiện. Việc Ủy ban nhân dân thị xã T cho rằng: Giấy chứng nhận quyền sử dụng cấp cho bà H, ông L là không đúng đối tượng sử dụng đất, không đủ điều kiện được cấp là sai trái. Đất có nguồn gốc rõ ràng do ông bà nội của bà H khai phá. Sau khi ông bà nội chết, bà H là người trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất nên được quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 1987 vào năm 1990. Chị em của bà H biết bà H xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhưng không ai phản đối. Trong quyết định giải quyết khiếu nại, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B đều cho rằng diện tích đất trên là tài sản chung của chị em bà H nên thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà H và ông L là trái với quy định của pháp luật.
Vì vậy, bà H và ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy các quyết định gồm: Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T; Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T và Quyết định số 804/QĐ-UBND ngày 29/3/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B; đồng thời, công nhận diện tích đất 1.184m² thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 27 tọa lạc tại khu phố A, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương là của bà H, ông L (bút lục 40-45).
Tại Văn bản số 4383/UBND-NC ngày 17/11/2021, người bị kiện Ủy ban nhân dân thị xã T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T trình bày:
Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 về việc giải quyết khiếu nại với nội dung bác đơn khiếu nại của bà H và ông L, giữ nguyên Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 như sau: Ngày 09/10/2019, bà H có đơn khiếu nại yêu cầu thu hồi và hủy Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T “về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 do Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L”.
*Kết quả xác minh về nguồn gốc đất:
Theo đơn khiếu nại ngày 09/10/2019 của bà H, ông L; Biên bản làm việc ngày 04/10/2016 và ngày 08/11/2019 của Thanh tra thị xã T với người đại diện
4
theo ủy quyền của bà H, ông L xác định: Phần đất diện tích 1.184m² thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại khu phố A, phường U, thị xã T là của ông, bà nội của bà H là ông Bồ Văn T1 (chết trước năm 1968) và bà Nguyễn Thị N (chết năm 1968) để lại. Sau đó, ông Bồ Văn H2 (chết năm 1983) và bà Nguyễn Thị V (chết năm 1972) là cha mẹ của bà H tiếp tục quản lý sử dụng. Sau khi cha mẹ bà H chết, có để lại giấy tay cho bà H nhưng đã mất nên không có di chúc hay giấy tờ gì.
Tại biên bản làm việc ngày 08/9/2016 của Thanh tra thị xã T với bà Bồ Thị H1 (em gái bà H) xác định: Phần đất diện tích 1.184m² (trên đất có nhà) thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 27, tại khu phố A, phường U, thị xã T là của ông, bà nội của bà H1. Sau khi ông, bà nội chết để lại nhà, đất cho cha mẹ bà H1 là ông Bồ Văn H2 (chết năm 1983) và bà Nguyễn Thị V (chết năm 1972) quản lý, sử dụng từ năm 1968. Khi chết, cha và mẹ bà H1 không để lại di chúc hay giấy tờ gì liên quan đến khu đất.
*Về quá trình sử dụng đất:
Bà H trình bày: Sau khi ông H2 (cha bà H) chết thì để lại đất cho bà H sử dụng. Năm 1980, bà H lập gia đình và sinh sống tại phường C, thành phố T cho đến nay. Do bà H có công sức nuôi dưỡng nên lúc còn sống, cha bà H đồng ý để phần đất trên cho bà H sử dụng (không có giấy tờ). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1990 mang tên bà Bồ Kim H3, sinh năm 1959. Năm 1998, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp đổi đứng tên bà Bồ Kim H3. Năm 2006, tiếp tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L. Năm 2006, bà H gửi đơn tranh chấp với bà H1 (em bà H) tại Uỷ ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Uyên Hưng để yêu cầu bà H1 giao trả đất cho gia đình bà H sử dụng vì bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hòa giải không thành. Việc thực hiện nghĩa vụ thuế là do bà H1 đóng, bà H là người đưa tiền nhưng do là chị em ruột nên không lập giấy tờ.
Bà H1 trình bày: Khi cha mẹ của bà H1 chết thì để lại đất cho bà H1 sử dụng. Năm 1998, bà H1 sửa chữa lại nhà ở và sử dụng liên tục cho đến nay. Bà H1 là người thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước (theo các Biên lai thu thuế nhà đất năm 2006, 2010, 2011, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018 và 2019). Ông Bồ Văn H2 và bà Nguyễn Thị V có 07 người con, gồm: Bà Bồ Thị H4 sinh năm 1955, bà Bồ Thị H5 sinh năm 1957, bà Bồ Thị Kim H sinh năm 1959, bà Bồ Thị L1 sinh năm 1960, bà Bồ Thị H1 sinh năm 1963, bà Bồ Thị H6 sinh năm 1966 và bà Bồ Thị H7 sinh năm 1968 (chết năm 1972).
Về hiện trạng đất: Trên đất có 01 căn nhà cấp 4 do bà H1 đang ở và 04 ngôi mộ, gồm: Mộ bà Nguyễn Thị N, mộ ông Bồ Văn H2, mộ bà Nguyễn Thị V và mộ bà Bồ Thị H7 (em bà H).
5
Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ngày 19/10/1990, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số 1221/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.261m², tờ bản đồ số 8, tại ấp A, xã U, huyện T cho bà Bồ Kim H3. Ngày 24/12/1998, Ủy ban nhân dân huyện T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05904 QSDĐ/TU diện tích 1.261m², thửa đất số 1731, tại ấp A, thị trấn U cho bà Bồ Kim H3. Ngày 30/6/2005, bà H, ông L có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kê khai nguồn gốc đất: “Thừa kế có giấy đổi sổ, kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05904”, được Ủy ban nhân dân thị trấn U xác nhận đất không có tranh chấp, phù hợp quy hoạch sử dụng đất. Phòng T2 xác nhận đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 07/11/2005, Ủy ban nhân dân thị trấn U lập biên bản công khai hồ sơ đăng ký và có Tờ trình số 13/TTr-UB ngày 22/11/2005 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 26 hộ gia đình và cá nhân (trong đó có bà Bồ Thị Kim H). Ngày 15/12/2005, Phòng T2 có Tờ trình số 482/TTr-TNMT về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thị trấn U, có 21 hộ gia đình và cá nhân (bà Bồ Thị Kim H, thứ tự số 3). Ngày 13/02/2006, Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268, diện tích 1.184m², thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 27 cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L. Loại đất: Đất ở đô thị, đất trồng cây lâu năm; nguồn gốc đất: nhận quyền sử dụng đất do thừa kế quyền sử dụng đất.
Quá trình ban hành quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ngày 23/5/2016, bà H1 (em bà H) có đơn kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L, được Ủy ban nhân dân thị xã T trả lời tại Công văn số 2670/UBND-TD ngày 28/7/2016. Không đồng ý, bà H1 tiếp tục khiếu nại nên Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 3748/QĐ-UBND ngày 16/8/2016 giao Thanh tra thị xã T tham mưu giải quyết đơn. Ngày 06/10/2016, thanh tra thị xã T có Báo cáo số 128/BC-TTr về kết quả xác minh nội dung khiếu nại. Ngày 18/10/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 4935/QĐ-UBND giải quyết đơn khiếu nại của bà Bồ Thị H1, tại khoản 3, điều 1 có nội dung: “Giao Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã tham mưu ban hành Thông báo gửi bà Bồ Thị Kim H biết việc Ủy ban nhân dân thị xã T sẽ ban hành quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 19/10/1990 cho bà Bồ Kim H3; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05904/QSDĐ/TU cấp ngày 24/12/1998 cho bà Bồ Kim H3 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006, diện tích 1.184m², thửa số 83, tờ bản đồ số 27 tại U cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L, ngụ tại 146, CMT8, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Lý do: Cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng quy định của pháp luật về đất đai”. Ngày 08/6/2017, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T2 có tờ trình số 2650/TTr-PTN&MT về việc ban hành thông báo thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo đó: Kiến nghị
6
Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành thông báo thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/10/1990 cấp cho bà Bồ Kim H3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05904/QSDĐ/TU ngày 24/12/1998 cấp cho bà Bồ Kim H3 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L. Lý do: Cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, không đủ điều kiện được cấp và không đúng quy định của pháp luật về đất đai. Ngày 19/6/2017, Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Thông báo số 288/TB-UBND để thông báo cho bà H, ông L biết việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/10/1990 cho bà Bồ Kim H3; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05904/QSDĐ/TU ngày 24/12/1998 cấp cho bà Bồ Kim H3 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L là không đúng đối tượng sử dụng đất, không đủ điều kiện được cấp và không đúng quy định của pháp luật về đất đai. Ngày 24/7/2017, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T2 mời bà H, ông L làm việc để công bố và bàn giao thông báo, nhưng không liên lạc được (theo Báo cáo số 596/BC-PTN&MT ngày 11/7/2019 của Phòng T2). Ngày 10/01/2018, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T2 phối hợp với Ủy ban nhân dân phường U và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường U tiến hành niêm yết công khai Thông báo số 288/TB-UBND ngày 19/6/2017 của Ủy ban nhân dân thị xã T. Sau 30 ngày niêm yết, ngày 10/02/2018 Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T2 lập biên bản kết thúc việc niêm yết, nhưng không nhận được đơn khiếu nại của bà H, ông L. Ngày 25/5/2018, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T2 có Tờ trình số 1394/TTr-PTN&MT về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L. Ngày 13/7/2018, Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 3765/QĐ-UBND thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L, lý do: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, không đủ điều kiện được cấp và không đúng quy định của pháp luật về đất đai”. Ngày 28/9/2018, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T2 mời ông L, bà H đến công bố và bàn giao quyết định (thư mời được gửi bảo đảm) nhưng không liên lạc được. Ngày 23/11/2018, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T2 phối hợp với Ủy ban nhân dân phường U tiến hành niêm yết công khai Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T. Sau 30 ngày niêm yết, ngày 15/01/2019 Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T2 lập biên bản kết thúc việc niêm yết. Ngày 09/9/2019, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T2 ban hành Văn bản số 2307/PTNMT-ĐĐ gửi Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã T để lập thủ tục hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà H và ông L theo quy định. Ngày 09/10/2019, bà H và ông L có đơn khiếu nại Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T là quá thời hạn khiếu nại theo quy định tại Điều 9 của Luật Khiếu nại năm 2011. Tuy nhiên, do bà H, ông L biết
7
được Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T vào ngày 01/10/2019 nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T đã xem xét và thụ lý giải quyết theo quy định.
Kết luận: Bà H, ông L khiếu nại yêu cầu hủy Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T là không có cơ sở xem xét giải quyết vì: Nguồn gốc đất là của cha mẹ bà H chết để lại, khi chết không để lại di chúc nên đây là tài sản chung của cha mẹ bà H, các chị em của bà H là đồng thừa kế theo quy định tại Điều 676 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và được thừa kế theo Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Bà H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có ủy quyền của các chị em trong gia đình là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 681 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 1 Điều 656 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013, điểm b khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ, Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên khiếu nại của bà H, ông L là khiếu nại sai.
Không đồng ý nội dung Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T, bà H và ông L tiếp tục có đơn khiếu nại và đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B xem xét giải quyết tại Quyết định số 804/QĐ-UBND ngày 29/3/2021.
Tại văn bản giải trình ngày 07/7/2021, người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B trình bày:
Năm 2016, bà H1 (em bà H) có đơn khiếu nại yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 do Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L. Ngày 18/10/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 4935/QĐ-UBND giải quyết công nhận đơn khiếu nại của bà Bồ Thị H1 là đúng.
Ngày 13/7/2018, Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 3765/QĐ-UBND thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L, lý do: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp không đúng đối tượng sử dụng đất, không đủ điều kiện được cấp và không đúng quy định của pháp luật về đất đai”. Ngày 09/10/2019, bà H có đơn khiếu nại Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T. Ngày 17/01/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 134/QĐ-UBND về việc giải quyết bác đơn khiếu nại của bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L.
8
Không đồng ý với kết quả giải quyết trên, bà H và ông L gửi đơn khiếu nại Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B để yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006.
Kết quả xác minh nội dung khiếu nại, xác định: Ông Bồ Văn H2 (chết năm 1983) và bà Nguyễn Thị V (chết năm 1972) có 07 người con gồm: Bà Bồ Thị H4, bà Bồ Thị H5, bà Bồ Thị Kim H, bà Bồ Thị L1, bà Bồ Thị H1, bà Bồ Thị H6 và bà Bồ Thị H7 (chết năm 1972). Về nguồn gốc đất: Khu đất bà H đang khiếu nại có diện tích 1.184m² thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại khu phố A, phường U, thị xã T. Bà H và bà H1 không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất, nhưng cùng thừa nhận đất có nguồn gốc của ông, bà nội là ông Bồ Văn T1 và bà Nguyễn Thị N khai phá, sử dụng cất nhà ở trước năm 1968, sau khi chết để lại cho con là ông Bồ Văn H2 và bà Nguyễn Thị V sử dụng từ trước năm 1975.
Về quá trình sử dụng đất: Bà H trình bày năm 1972, bà V chết. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông H2 gửi các chị em cho các cô nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, các chị em của bà H đều có cuộc sống riêng nên không ai ở trên đất. Do bà H có công nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ nên trước khi chết, ông H2 cho bà H được toàn quyền sở hữu, quản lý, sử dụng, định đoạt cũng như xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.184m², các chị em bà H đều biết nhưng không ý kiến. Bà H1 trình bày: Sau khi cha mẹ chết, diện tích đất 1.184m² do bà H1 sử dụng. Năm 1998, nhà xuống cấp nên bà H1 sửa chữa lại nhà ở và sử dụng liên tục cho đến nay. Năm 2006, bà H gửi đơn tranh chấp đất với bà H1 vì cho rằng bà H1 chiếm đất của bà H, đất bà H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05904 QSDĐ/TU ngày 21/12/1998 (cấp đổi từ sổ trắng).
Kết quả kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Bồ Thị Kim H thể hiện: Ngày 19/10/1990, Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ trắng) số 143/GCN-SB, diện tích 1.261m² (TC+Q) cho bà Bồ Kim H3 theo Quyết định số 1221/QĐ/UB ngày 19/10/1990 của Ủy ban nhân dân huyện T. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có giấy tờ do cha cho toàn quyền định đoạt, quản lý như bà H trình bày. Quyết định giao đất số 1221/QĐ/UB ngày 19/10/1990 của Ủy ban nhân dân huyện T kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 143/GCN-SB là cấp cho bà Bồ Kim H3 (tên theo Chứng minh nhân dân hiện nay là Bồ Thị Kim H), ghi hiện trạng: Đang sử dụng. Ngày 24/12/1998, Ủy ban nhân dân huyện T cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05904 QSDĐ/TU cho bà Bồ Kim H3 diện tích 1.261m² (cấp đổi sổ). Ngày 30/6/2005, bà H có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cùng đứng tên có ông Nguyễn Hiệp L - chồng bà H, kết hôn năm 2007), kê khai nguồn gốc đất: “Thừa kế có giấy đổi sổ, kèm theo Giấy
9
chứng nhận quyền sử dụng đất gốc số 05904”, được Ủy ban nhân dân thị trấn U xác nhận đất không có tranh chấp, phù hợp quy hoạch sử dụng đất. Ngày 13/02/2006, Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268, diện tích 1.184m², thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 27 cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L. Nguồn gốc đất ghi: Nhận quyền sử dụng đất do thừa kế quyền sử dụng đất.
Kết quả xác minh các chị em của bà H và một số người lớn tuổi sống gần khu đất: Bà Bồ Thị H4 (chị ruột bà H) và 02 người dân lớn tuổi sống gần khu đất đều xác định: Nguồn gốc khu đất là của ông Bồ Văn T1 và bà Nguyễn Thị N chết để lại cho ông Bồ Văn H2 và bà Nguyễn Thị V. Sau khi ông H2 chết cho đến năm 1990, các chị em của bà H4 (gồm: Bồ Thị H1, Bồ Thị H6, Bồ Thị H5, Bồ Thị L1, Bồ Thị Kim H) đều ở trên khu đất này. Do khu đất trên là của ông, bà nội để lại nên bà H4 đề nghị cơ quan nhà nước không công nhận quyền sử dụng đất cho riêng cá nhân nào trong gia đình bà H4. Khoảng năm 2000, bà H1 có xây sửa lại nhà ở trên đất. Các chị em của bà H1 khi có chồng thì đi nơi khác ở, chỉ có bà H1 không có chồng nên ở trên khu đất này cho đến nay.
Kết quả đối thoại: Ngày 02/3/2021, Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B chủ trì cùng các ngành chức năng tổ chức đối thoại với bà H. Tại buổi đối thoại, bà H không cung cấp được chứng cứ, tình tiết mới so với kết quả thẩm tra xác minh của Sở T. Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B và các thành phần tham dự đã hướng dẫn, giải thích cho bà H hiểu rõ việc khiếu nại Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T và yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T là không có cơ sở.
Kết luận: Việc bà H và ông L khiếu nại Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T và yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T là không có cơ sở để xem xét, giải quyết, vì:
- - Diện tích đất 1.184m² bà H đang khiếu nại, có nguồn gốc của ông Bồ Văn H2 (chết năm 1983) và bà Nguyễn Thị V (chết năm 1972) để lại cho các con. Bà H không cung cấp được giấy tờ, chứng minh khu đất trên do cha mẹ để lại riêng cho bà H định đoạt, quản lý sử dụng. Do đó, khu đất trên là tài sản chung của các chị, em bà H, việc giải quyết phân chia tài sản chung hay tranh chấp tài sản thừa kế là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
- - Việc Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà H và ông L là đúng quy định pháp luật; Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 giải quyết bác đơn khiếu nại của bà H, ông L là đúng quy định.
10
Từ những cơ sở pháp lý và nội dung nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 804/QĐ-UBND ngày 29/3/2021 về việc giải quyết bác đơn khiếu nại của bà H và ông L là đúng quy định pháp luật. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B vẫn giữ nguyên quan điểm giải quyết tại Quyết định số 804/QĐ-UBND ngày 29/3/2021, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương tuyên xử bác đơn khởi kiện của bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bồ Thị H1 trình bày: Nguồn gốc phần đất diện tích 1.184m² thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại tổ B, khu phố A, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương do ông bà nội của bà H1 là ông Bồ Văn T1 và bà Nguyễn Thị N khai phá, sử dụng làm nhà ở (ông T1 chết năm 1960, bà N chết năm 1968). Sau đó, cha mẹ của bà H1 là ông Bồ Văn H2, bà Nguyễn Thị V cùng 07 người con gái về ở nhờ trên đất. Khi đến tuổi lấy chồng, các con của ông H2, bà V lần lượt theo về nhà chồng (bà H lấy chồng năm 1980 và về sinh sống cùng gia đình chồng ở T). Riêng bà H1 không lấy chồng mà ở lại nhà ông bà nội lo hương khói cho ông bà, tổ tiên từ trước đến nay. Năm 1998, nhà bị hư hỏng nặng, mái tôn dột, vách cây mục nát nên bà H1 đã xây lại kiên cố trên 300m² nền nhà cũ của ông bà nội. Năm 2006, ông Nguyễn Hiệp L và bà Bồ Thị Kim H làm đơn gửi đến Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) Uyên Hưng yêu cầu giải quyết buộc bà H1 trả lại đất, nhưng hòa giải không thành vì bà H và ông L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền sở hữu tài sản trên đất (nguồn gốc đất). Nay bà H1 đề nghị Tòa án yêu cầu ông L, bà H cung cấp hóa đơn chứng từ về nguồn gốc đất và tài sản gắn liền trên đất cũng như di chúc, sang nhượng, ủy quyền, buôn bán để chứng minh. Bà H1 thống nhất với ý kiến trình bày của người bị kiện Ủy ban nhân dân thị xã T, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Đề nghị Tòa án giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 62/2023/HC-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Bồ Thị Kim H, ông Nguyễn Hiệp L về việc yêu cầu công nhận diện tích đất 1.184m², thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 27 tọa lạc tại khu phố A, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương là của bà Bồ Thị Kim H, ông Nguyễn Hiệp L.
- Bác yêu cầu khởi kiện của bà Bồ Thị Kim H, ông Nguyễn Hiệp L đối với yêu cầu hủy các quyết định sau:
- Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 do Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L.
11
- Quyết định số 7341/QĐ-UBND ngày 07/11/2019 của Ủy ban nhân dân thị xã T về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 của bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L.
- Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T về việc giải quyết khiếu nại của bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L.
- Quyết định số 804/QĐ-UBND ngày 29/3/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/10/2023 người khởi kiện bà Bồ Thị Kim H, ông Nguyễn Hiệp L kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện là bà Bồ Thị Kim H, ông Nguyễn Hiệp L (có ông Nguyễn Thiện Đ là đại diện theo ủy quyền) vẫn giữ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện vì bà H sống với cha mẹ từ nhỏ, đến năm 1983 cha bà H chết thì bà H tiếp tục sử dụng phần đất, kê khai năm 1990. Bà H là người duy nhất trực tiếp sinh sống canh tác diện tích đất này nên bà H được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ. Năm 1997, bà H1 mới về ở trên đất, khi cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998 và năm 2006 thì bà H1 cũng không có ý kiến gì. Đến 10 năm sau bà H1 mới khiếu nại việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H là đã quá thời hiệu khiếu nại. Do đó, người bị kiện ban hành quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà H là không đúng.
Người bị kiện xin xét vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Bồ Thị H1 không đồng ý yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Hội đồng xét xử bác kháng cáo giữ nguyên bản án của Tòa án cấp sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Tố tụng hành chính. Những người tham gia tố tụng thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên đề nghị bác kháng cáo
12
và giữ nguyên bản án của Tòa án cấp sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tòa án đã triệu tập hợp lệ, người bị kiện xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án vắng mặt đương sự này.
[2] Bà Bồ Thị Kim H, ông Nguyễn Hiệp L, bà Bồ Thị H1 trình bày thống nhất: Nguồn gốc diện tích đất 1.184m² thuộc thửa đất số 83, tờ bản đồ số 27 tọa lạc tại khu phố A, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương của ông Bồ Văn T1 và bà Nguyễn Thị N là ông bà nội của bà H, bà H1 khai phá, sử dụng và làm nhà ở. Sau khi ông T1, bà N chết thì cha mẹ của bà H, bà H1 là ông Bồ Văn H2 và bà Nguyễn Thị V tiếp tục quản lý, sử dụng nhà, đất nêu trên. Ông H2 và bà V có 07 con chung, gồm: Bồ Thị H4, Bà Bồ Thị H5, Bà Bồ Thị Kim H, Bồ Thị L1, Bồ Thị H1, Bồ Thị H6 và Bồ Thị H7 (chết năm 1972).
[3] Bà H cho rằng ông H2 đã tặng cho bà H được toàn quyền quản lý, sử dụng, sở hữu, định đoạt và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên. Các chị em của bà H đều biết nhưng không ai có ý kiến phản đối. Bà H kê khai đăng ký và được Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/10/1990, diện tích 1.261m² với tên là Bồ Kim H3; Sau 03 lần cấp đổi thì bà H, ông L được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006.
[4] Trong khi đó, bà H1 cho rằng, sau khi các anh chị em lập gia đình đi nơi khác thì bà H1 ở lại nhà ông bà nội. Năm 1998, nhà bị hư hỏng nặng, mái tôn dột, vách cây mục nát nên bà H1 đã xây lại kiên cố trên 300m² trên nền nhà cũ của ông bà nội.
[5] Xét, ngày 30/6/2005, bà H có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cùng đứng tên có ông Nguyễn Hiệp L - chồng bà H, kết hôn năm 2007), kê khai nguồn gốc đất là: “Thừa kế có giấy đổi sổ, kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gốc số 05904”, nhưng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T2 đã không kiểm tra thủ tục thừa kế của bà H và không thẩm tra, đối chiếu lại nội dung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05904 QSDĐ/TU ngày 24/12/1998 mà xác nhận: “Thừa kế có giấy CNQSD đất, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất”, và “đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là không phù hợp với quy định tại Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003. Theo biên bản xác minh ngày 08/11/2019 và Báo cáo số 156/BC-TTr ngày 25/11/2019 của Thanh tra thị xã T (bút lục 120-125) cùng các hình ảnh do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bồ Thị H1 cung cấp (bút
13
lục 168-174) thể hiện: Trên đất phía trước có xây dựng 01 tường rào gân cổng ra vào với biển hiệu “Nhà thờ gia tộc” do bà H1 xây dựng năm 2020; Căn nhà cấp 4 do ông T1, bà N xây dựng trước năm 1968 được bà H1 (em bà H) sửa chữa lại vào năm 1998 để ở và 04 ngôi mộ của các ông, bà gồm bà Nguyễn Thị N, ông Bồ Văn H2, bà Nguyễn Thị V và bà Bồ Thị H7 (em bà H). Quá trình quản lý, sử dụng nhà, đất thì bà H1 là người thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.
Do đó, Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 và Quyết định số 7341/QĐ-UBND ngày 07/11/2019 về việc thu hồi và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 cấp cho bà H và ông L là có căn cứ pháp luật.
[6] Theo nội dung nhận định nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T ban hành Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 (giải quyết khiếu nại lần 1), Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 804/QĐ-UBND ngày 29/3/2021 (giải quyết khiếu nại lần 2) có nội dung bác khiếu nại của bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L là đúng quy định pháp luật.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện có kháng cáo nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[8] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[9] Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Bồ Thị Kim H, sinh năm 1959; ông Nguyễn Hiệp L, sinh năm 1953 là người cao tuổi nên được miễn theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
B yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Bồ Thị Kim H, ông Nguyễn Hiệp L; Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 62/2023/HC-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của bà Bồ Thị Kim H, ông Nguyễn Hiệp L đối với yêu cầu hủy các quyết định sau:
- Quyết định số 3765/QĐ-UBND ngày 13/7/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã T về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 do Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp cho bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L.
- Quyết định số 7341/QĐ-UBND ngày 07/11/2019 của Ủy ban nhân dân thị xã T về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01268 ngày 13/02/2006 của bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L.
- Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã T về việc giải quyết khiếu nại của bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L.
- Quyết định số 804/QĐ-UBND ngày 29/3/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Bồ Thị Kim H và ông Nguyễn Hiệp L.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Bồ Thị Kim H, ông Nguyễn Hiệp L được miễn.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Nhựt Bình |
15
Bản án số 514/2024/HC-PT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và quyết định giải quyết khiếu nại.
- Số bản án: 514/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và quyết định giải quyết khiếu nại.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
