|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 513/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 08 - 2024 “V/v tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Anh Đoan
- Ông Huỳnh Văn Sức
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng, kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 426/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 07 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 394/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Xuân L, sinh năm 1967; địa chỉ: tổ A ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Quách Thanh P - Văn phòng phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư A; địa chỉ: khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang (có yêu cầu vắng mặt);
2. Bị đơn: Ông Phan Văn P1, sinh năm 1957; địa chỉ: tổ A ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Võ Thị Xuân L trình bày:
Bà Võ Thị Xuân L với ông Phan Văn P1 tự tìm hiểu và đi đến sống chung như vợ chồng vào năm 1986, không đăng ký kết. Vợ chồng sống hạnh phúc 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, bất đồng về kinh tế, không tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã, nên giữa bà L với ông P1 không sống chung từ tháng 12 năm 2001 cho đến nay. Hai bên không còn liên lạc với nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, bà L yêu cầu được ly hôn với ông P1.
- Về con chung: Có 05 con chung tên Phan Thị Kim P2, sinh ngày 01/02/1989; Phan Vũ H, sinh ngảy 27/12/1992; Phan Thị Kiều O, sinh ngày 20/11/1993; Phan Thị Ngọc Q, sinh ngày 04/02/1995; Phan Quốc B, sinh ngày 01/01/2001 các con chung đều đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: tự thoả thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Phan Văn P1 trình bày: Ông P1 với bà L đi đến hôn nhân vào năm 1986, hôn nhân do tự tìm hiểu có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn. Quá trình sống chung vợ chồng có bất đồng về quan điểm sống, bất đồng về kinh tế, mục đích hôn nhân không đạt, nay ông P1 thống nhất ly hôn với bà L.
- Về con chung: Có 05 con chung tên Phan Thị Kim P2, sinh ngày 01/02/1989; Phan Vũ H, sinh ngảy 27/12/1992; Phan Thị Kiều O, sinh ngày 20/11/1993; Phan Thị Ngọc Q, sinh ngày 04/02/1995; Phan Quốc B, sinh ngày 01/01/2001 các con chung đều đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: tự thoả thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Quách Thanh P gửi văn bản ý kiến bảo vệ cho nguyên đơn cho rằng: Hôn nhân giữa bà L và ông P1 là tự nguyện sống như vợ chồng, quá trình sống chung ông, bà không đăng ký kết hôn theo quy định nên theo Luật hôn nhân và gia đình là hôn nhân không hợp pháp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bà L và ông P1 không phải là vợ chồng theo Điều 14 Luật HNGĐ; về con chung: có 05 con chung, đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.
Đối với đương sự: Bà Võ Thị Xuân L với ông Phan Văn P1 từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định và có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp với các Điều 70; 71 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Không công nhận bà Võ Thị Xuân L với ông Phan Văn P1 là vợ chồng; về con chung: Có 05 con chung tên Phan Thị Kim P2, sinh ngày 01/02/1989; Phan Vũ H, sinh ngảy 27/12/1992; Phan Thị Kiều O, sinh ngày 20/11/1993; Phan Thị Ngọc Q, sinh ngày 04/02/1995; Phan Quốc B, sinh ngày 01/01/2001 các con chung đều đã trưởng thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Võ Thị Xuân L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Văn P1, nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Phan Văn P1 với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mắt, với lý do: hiện nay do đi làm thuê ở xa nên đi lại khó khăn, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Võ Thị Xuân L với ông Phan Văn P1 là tự nguyện tự và sống chung như vợ chồng vào năm 1986, có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết. Vợ chồng sống hạnh phúc 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã, nên giữa bà L và ông P1 không sống chung từ tháng 12 năm 2001 cho đến nay, do hôn nhân của ông bà không có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên được xem là hôn nhân không hợp pháp. Do đó căn cứ vào Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận bà L và ông P1 là vợ chồng là phù hợp.
Về quan hệ con chung: Có 05 con chung tên Phan Thị Kim P2, sinh ngày 01/02/1989; Phan Vũ H, sinh ngảy 27/12/1992; Phan Thị Kiều O, sinh ngày 20/11/1993; Phan Thị Ngọc Q, sinh ngày 04/02/1995; Phan Quốc B, sinh ngày 01/01/2001 các con chung đều đã trưởng thành, nên không xem xét giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của bà Võ Thị Xuân L được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không công nhận bà Võ Thị Xuân L với ông Phan Văn P1 là vợ chồng.
- Về con chung: Có 05 con chung tên Phan Thị Kim P2, sinh ngày 01/02/1989; Phan Vũ H, sinh ngảy 27/12/1992; Phan Thị Kiều O, sinh ngày 20/11/1993; Phan Thị Ngọc Q, sinh ngày 04/02/1995; Phan Quốc B, sinh ngày 01/01/2001 các con chung đều đã trưởng thành, nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Võ Thị Xuân L phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007091, ngày 08/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Diệu |
Bản án số 513/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 513/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
