|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI Bản án số: 513/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31/10/2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang - Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Duy Tuyên
- Bà Nguyễn Thị Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 311/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1997; (có mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã N, thành phố Hà Nội.
Chỗ ở hiện tại: Thôn T, xã N, thành phố Hà Nội.
Bị đơn Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1994; (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 09/9/2025 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Huyền T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn P được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 18/10/2016 tại trụ sở UBND xã T, huyện S cũ nay là xã N, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn chị về sống cùng gia đình anh P tại thôn Đ, xã T nay là xã N. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh P chơi bời cờ bạc không quan tâm chăm sóc gia đình. Anh chị đã tự hòa giải và được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành nên vợ chồng đã chính thức ly thân từ tháng 02/2025 đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên không quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh P.
- Về con chung: Chị và anh P có 02 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/8/2017 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/4/2020. Không có con riêng. Hiện cả hai con chung đều đang sống cùng anh P và có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng anh P nên tôi đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi tự thỏa thuận với anh P, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 14/10/2025 và các lời khai tiếp theo, bị đơn là anh Nguyễn Văn P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh xác định thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và nơi chung sống của vợ chồng như chị T trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh và chị T chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019 (khi có dịch Covid 19) thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chơi cờ bạc trên mạng nên thiếu quan tâm gia đình. Anh và gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng chị T không đồng ý nên vợ chồng anh đã sống ly thân tháng 02/2025 đến nay. Trong thời gian ly thân anh đã đến gặp và xin lỗi nhưng chị T nhiều lần tránh mặt và không về đoàn tụ, anh vẫn đang cố gắng khắc phục thay đổi bản thân nên anh không đồng ý ly hôn. Anh đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con.
- Về con chung: Anh và chị P có 02 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/8/2017 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/4/2020. Cả hai con chung đều đang sống cùng anh nên nếu ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh xác định anh đủ điều kiện trực tiếp nuôi con nên không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Hiện anh đang là lao động tự do, thu nhập bình quân là 15.000.000 đồng/tháng, Về chỗ ở: anh và hai con chung đang sống trên ngôi nhà xây bê tông cốt thép, diện tích xây dựng là 90m2, ngoài ra anh còn được bố mẹ đẻ phụ giúp việc chăm sóc con nhỏ.
- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Chị T giữ nguyên ý kiến như đã trình bày là đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh P và giao cả hai con chung cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng; Anh P không đồng ý ly hôn, trường hợp vợ chồng ly hôn thì anh đồng ý nuôi cả hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, vay nợ: Anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết; xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, thụ lý vụ án, giao thông báo thụ lý vụ án, mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ và đúng quy định pháp luật; Vụ án được giải quyết đúng thời hạn; Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án, phiên tòa diễn ra đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 55, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 28, 35, 39 và khoản 4 Điều 147 của BLTTDS năm 2015, nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị HĐXX quyết định:
- Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huyền T, cho chị Nguyễn Thị Huyền T được ly hôn anh Nguyễn Văn P.
- Về con: Giao cả 02 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/8/2017 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/4/2020 cho anh Nguyễn Văn P trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T, anh P không đề nghị Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị Huyền T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. - Về tài sản chung, nhà đất, công sức đóng góp, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T, anh P không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị T chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP . nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về việc ly hôn và nuôi con. Bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Văn P, cư trú tại thôn Đ, xã N, thành phố Hà Nội. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.
[2] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Văn P được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 18/10/2016 tại trụ sở UBND xã T, huyện S cũ, Hà Nội (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 87 ngày 18/10/2016 của UBND xã T) nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P. Anh P không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án hòa giải cho anh chị đoàn tụ. Xét yêu cầu ly hôn của chị T Hội đồng xét xử nhận thấy: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm, vun đắp hạnh phúc, làm tròn nghĩa vụ của vợ chồng. Qua xác minh tại chính quyền cũng như trình bày của đương sự được biết: Vợ chồng anh chị đã không còn tin tưởng, gần gũi, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù anh chị đã tự hòa giải và được gia đình hai bên động viên hòa giải nhưng quan hệ vợ chồng không được cải thiện nên chị T đã làm đơn xin ly hôn. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án và gia đình đã nhiều lần tổ chức hòa giải cho anh chị nhưng đều không thành. Đến nay anh chị vẫn sống mỗi người một nơi. Như vậy có thể thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn anh P là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị T và anh P có 02 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/8/2017 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/4/2020. Ly hôn hai bên thống nhất thỏa thuận giao cả hai con chung cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Cả hai con chung đều đang sống cùng anh P và có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng anh P. Xét thỏa thuận của anh chị là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được Tòa án chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T, anh P không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung Chị T, anh P không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 3, 8, 9, 51, 55, 58, 71, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị chị Nguyễn Thị Huyền T, cho chị Nguyễn Thị Huyền T, được ly hôn anh Nguyễn Văn P.
2. Về con chung: Xác định chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Văn P có 02 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/8/2017 và Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 28/4/2020.
Ghi nhận sự thỏa thuận của anh chị về việc giao cả hai con chung cho anh Nguyễn Văn P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án thay thế.
Chị Nguyễn Thị Huyền T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Văn P không yêu cầu tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai ký hiệu: BLTU/25E số 0010266 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án Dân sự thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Huyền T và anh Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Sóc Sơn, Hà Nội; - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn, Hà Nội; - UBND xã Nội Bài, thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận kết hôn số 87 ngày 18/10/2016 của UBND xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn cũ); - Lưu: Văn Phòng, HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN _ CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thu Trang |
Bản án số 513/2025/HNGĐ-ST ngày 31/10/2025 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 513/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
