|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 5129/2024/DS-ST
Ngày: 06/11/2024
“V/v Tranh chấp đòi tài sản” và
“Tranh chấp hợp đồng góp vốn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Cảnh Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Thu Oanh
- Ông Mai Thanh Giàu
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng Duyên – Kiểm sát viên.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Dũng – Thư ký
Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong các ngày 31 tháng 10 năm 2024 và ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 481/2020/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp đòi tài sản” và “ Tranh chấp hợp đồng góp vốn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8760/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Việt T (có mặt)
Địa chỉ: B khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần T3)
Địa chỉ: 33LK01, Đại lộ L, xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh H (có mặt)
Địa chỉ: Căn hộ S, tầng C, Tòa nhà M1, số B L, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội
(Văn bản ủy quyền số 06/2024/UQ-ĐL ngày 20/02/2024)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Luật sư Nguyễn Bá N là luật sư của Công ty L1 Bắc Giang thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt)
Địa chỉ: A N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Chu Thị T1 (có đơn xin vắng mặt)
- - Ông Trần Huy H1 (có đơn xin vắng mặt)
- - Ông Nguyễn Minh Đ (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: B khu phố 1, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội
Địa chỉ: Phố L, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Lê Việt T trình bày:
Ngày 27/4/2019, ông Lê Việt T có ký Hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần T3 (Sau đây gọi tắt là Công ty X). Theo Hợp đồng thì ông T đã góp vào Công ty X 5.250.000.000 đồng. Đến ngày 29/6/2019, ông T và Công ty X thỏa thuận ông T sẽ điều chỉnh vốn góp xuống còn 2.000.000.000 đồng. Đến ngày 05/7/2019, ông T và Công ty X ký Biên bản đối chiếu công nợ. Do Công ty cổ phần X không trả tiền theo thỏa thuận.
Nay ông T yêu cầu Công ty cổ phần X chấm dứt Biên bản thỏa thuận ngày 29/6/2019 đối với phần của ông T, trả số tiền 5.165.000.000 đồng theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 05/7/2019 và tiền lãi chậm trả theo lãi suất thỏa thuận là 20%/năm đến ngày xét xử sơ thẩm. Cụ thể:
- - Tiền lãi chậm trả số tiền 2.000.000.000 đồng tính từ ngày 02/11/2019 đến ngày 06/11/2024 là 05 năm 04 ngày là (2.000.000.000 đồng x 20%/năm x 05 năm) + (2.000.000.000 đồng x 20%/năm x 1/12 x 04/30) = 2.004.444.444 đồng.
- - Tiền lãi chậm trả số tiền 100.000.000 đồng tính từ ngày 28/7/2019 đến ngày 06/11/2024 là 05 năm 03 tháng 09 ngày là (100.000.000 đồng x 20%/năm x 05 năm) + (100.000.000 đồng x 20%/năm x 3/12) + (100.000.000 đồng x 20%/năm x 1/12 x 09/30) = 105.500.000 đồng.
- - Tiền lãi chậm trả số tiền 2.750.000.000 đồng tính từ ngày 16/7/2019 đến ngày 06/11/2024 là 05 năm 03 tháng 21 ngày là (2.750.000.000 đồng x 20%/năm x 05 năm) + (2.750.000.000 đồng x 20%/năm x 3/12) + (2.750.000.000 đồng x 20%/năm x 1/12 x 21/30) = 2.919.583.333 đồng.
- - Tiền lãi chậm trả số tiền 315.000.000 đồng tính từ ngày 28/7/2019 đến ngày 06/11/2024 là 05 năm 03 tháng 09 ngày là (315.000.000 đồng x 20%/năm x 05 năm) + (315.000.000 đồng x 20%/năm x 3/12) + (315.000.000 đồng x 20%/năm x 1/12 x 09/30) = 332.325.000 đồng.
Tổng cộng là 10.526.852.777 đồng
Đồng thời ông T không đồng ý theo yêu cầu phản tố của phía bị đơn.
Trước khi ký hợp đồng hợp tác, ông Nguyễn Minh Đ có cho ông T xem các văn bản nội bộ của Công ty X liên quan đến việc thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Sau khi ông Nguyễn Minh Đ thông báo cho ông T là ông Đ sắp nghỉ việc thì ông T có đề nghị ông Đ cung cấp bằng văn bản tất cả các tài liệu nội bộ của Công ty liên quan đến việc góp vốn hợp tác kinh doanh. Ông Đ có nghỉ việc hay còn làm việc hay không thì ông T không biết.
Bản sao Nghị quyết số 01/NQ/HĐQT-AGP ngày 17/01/2019 của Công ty cổ phần X là do ông Nguyễn Minh Đ giao cho ông T. Nghị quyết đại hội đồng cổ đông bất thường số: /NQ-ĐHĐCĐ ngày 18/01/2019 là do ông Lê Hà T2 giao cho ông T.
Trong quá trình giải quyết vụ án và lơi khai tại Tòa án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền bị đơn Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần T3) trình bày:
Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần tập đoàn T3) không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Lê Việt T. Tại Kết luận giám định số 9377/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H đã kết luận: “Chữ ký đứng tên Lê Hà T2 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (đã nêu ở mục II.1) là chữ ký sao chụp nên không tiến hành giám định so sánh với chữ ký trực tiếp đứng tên Lê Hà T2 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 (đã nêu ở mục II.2). Công ty cho rằng Nghị quyết số 01/NQ/HĐQT-AGP ngày 17/01/2019 là không có thật, do đó tất các văn bản sau đó là không có giá trị. Mặc khác, ông Trần Minh H2 được bổ nhiệm thay ông Nguyễn Minh Đ làm giám đốc Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 20/6/2019 nên ông Đ ký Biên bản đối chiếu Công nợ ngày 05/7/2019 với ông Lê Việt T là không có giá trị.
Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần tập đoàn T3) có đơn yêu cầu phản tố và được Tòa án thụ lý yêu cầu phản tố theo Thông báo thụ lý yêu cầu phản tố số 4703/TB-TLVA ngày 21/10/2021. Trong quá trình góp vốn theo Biên bản thỏa thuận ngày 29/6/2019, ông Lê Việt T đã không góp đúng theo thỏa thuận gây thiệt hại cho Công ty nên Công ty cổ phần X buộc ông Lê Việt T nộp số tiền 2.076.834.134 đồng, bao gồm: tiền góp vốn còn thiếu là 385.439.600 đồng, tiền chậm trả đối với vốn góp tính đến ngày 31/12/2020 là 56.601.541 đồng và tiền lỗ tính đến ngày 31/12/2020 là 1.634.792.993 đồng.
Luật sư Nguyễn Bá N trình bày: Luật sư Ngọc thống N1 với lời trình bày của phía bị đơn. Luật sư cho rằng Nghị quyết số 01/NQ/HĐQT-AGP ngày 17/01/2019 phía ông T cung cấp không phải bản chính, kết luận giám định cũng không thể giám định được nên Văn bản này không có giá trị pháp lý. Ông Trần Minh H2 được bổ nhiệm người đứng đầu Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 20/6/2019 nên việc ông Nguyễn Minh Đ ký Biên bản đối chiếu công nợ ngày 05/7/2019 với ông Lê Việt T là không có giá trị. Mặc khác ngày 29/6/2019, ông T và phía Công ty X có ký Biên bản thỏa thuận góp vốn nhưng ông T không góp theo thỏa thuận là vi phạm. Vì vậy, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên nguyên; đồng thời chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại Bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh Đ trình bày: Ông Lê Việt T với Công ty X tranh chấp với nhau, ông Đ không có ý kiến, không có liên quan đến ông Đ.
Tại Bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Huy H1 trình bày: Ông Lê Việt T với Công ty X tranh chấp với nhau, ông H1 không có ý kiến, không có liên quan đến ông H1.
Tại Bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị T1 trình bày: Bà T1 thống nhất với ý kiến của ông Lê Việt T, không có ý kiến gì khác.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán có vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
- - Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
- - Về giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét đơn khởi kiện của ông Lê Việt T, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án tranh chấp Đòi tài sản và tranh chấp hợp đồng góp vốn theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và tranh chấp phát sinh tại Chi nhánh của Công ty cổ phần X tại địa bàn thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T) theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh Đ, ông Trần Huy H1, bà Chu Thị T1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu của đương sự:
Xét yêu cầu của nguyên đơn: Ngày 27/4/2019, ông Lê Việt T có ký Hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần T3 (Sau đây gọi tắt là Công ty X). Theo Hợp đồng thì ông T đã góp và Công ty X 5.250.000.000 đồng. Đến ngày 29/6/2019, ông T và Công ty X thỏa thuận ông T sẽ điều chỉnh vốn góp xuống còn 2.000.000.000 đồng. Đến ngày 05/7/2019, ông T và Công ty X ký Biên bản đối chiếu công nợ. Do Công ty cổ phần X không trả tiền theo thỏa thuận.
Nay ông T yêu cầu Công ty cổ phần X chấm dứt Biên bản thỏa thuận ngày 29/6/2019 đối với phần của ông T, trả số tiền 5.165.000.000 đồng theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 05/7/2019 và tiền lãi chậm trả theo lãi suất thỏa thuận là 20%/năm đến ngày xét xử sơ thẩm. Cụ thể:
- - Tiền lãi chậm trả số tiền 2.000.000.000 đồng tính từ ngày 02/11/2019 đến ngày 06/11/2024 là 05 năm 04 ngày là (2.000.000.000 đồng x 20%/năm x 05 năm) + (2.000.000.000 đồng x 20%/năm x 1/12 x 04/30) = 2.004.444.444 đồng.
- - Tiền lãi chậm trả số tiền 100.000.000 đồng tính từ ngày 28/7/2019 đến ngày 06/11/2024 là 05 năm 03 tháng 09 ngày là (100.000.000 đồng x 20%/năm x 05 năm) + (100.000.000 đồng x 20%/năm x 3/12) + (100.000.000 đồng x 20%/năm x 1/12 x 09/30) = 105.500.000 đồng.
- - Tiền lãi chậm trả số tiền 2.750.000.000 đồng tính từ ngày 16/7/2019 đến ngày 06/11/2024 là 05 năm 03 tháng 21 ngày là (2.750.000.000 đồng x 20%/năm x 05 năm) + (2.750.000.000 đồng x 20%/năm x 3/12) + (2.750.000.000 đồng x 20%/năm x 1/12 x 21/30) = 2.919.583.333 đồng.
- - Tiền lãi chậm trả số tiền 315.000.000 đồng tính từ ngày 28/7/2019 đến ngày 06/11/2024 là 05 năm 03 tháng 09 ngày là (315.000.000 đồng x 20%/năm x 05 năm) + (315.000.000 đồng x 20%/năm x 3/12) + (315.000.000 đồng x 20%/năm x 1/12 x 09/30) = 332.325.000 đồng.
Tổng cộng là 10.526.852.777 đồng
Ông Lê Việt T góp vốn vào Công ty X căn cứ vào Nghị quyết số 01/NQ/HĐQT-AGP ngày 17/01/2019 của Công ty cổ phần X do người đứng đầu Chi nhánh khi đó là ông Nguyễn Minh Đ giao cho ông T bản sao theo số chứng thực số 16081 Quyền số 10/SCT/BS ngày 24/10/2019 của Phòng C1 - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương. Tại Kết luận giám định số 9377/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H đã kết luận: “Chữ ký đứng tên Lê Hà T2 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (đã nêu ở mục II.1) là chữ ký sao chụp nên không tiến hành giám định so sánh với chữ ký trực tiếp đứng tên Lê Hà T2 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 (đã nêu ở mục II.2). Tuy nhiên, văn bản trên đã được công chứng. Bị đơn ngoài đề nghị giám định chữ ký tại văn bản nêu trên thì xác nhận không yêu cầu giám định bất kỳ chữ ký, con dấu nào khác nên có cơ sở xác định văn bản nêu trên là có thật.
Tại Quyết định số 0104/AGP ngày 01/4/2019 của Công ty cổ phần X đã bổ nhiệm ông Nguyễn Minh Đ làm giám đốc Công ty cổ phần X – Chi nhánh Thành phố H kể từ ngày 01/4/2019 đến khi dự án trạm trộn cung cấp bê tông cho V kết thúc. Tuy nhiên, Công ty cổ phần X có Quyết định số 0109/AGP ngày 15/7/2019 của Công ty cổ phần X miễn nhiệm chức danh giám đốc ông Nguyễn Minh Đ kể từ ngày ngày 16/7/2019. Do đó, Biên bản đối chiếu công nợ ông Đ ký ngày 05/7/2019 với ông Lê Việt T là phù hợp quy định pháp luật.
Do Công ty cổ phần X vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông Lê Việt T yêu cầu Công ty cổ phần X trả nợ gốc với số tiền 5.165.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Đối với yêu cầu của bị đơn đề nghị chuyển hồ sơ sang cơ quan công an với lý do có dấu hiệu tội phạm hình sự. Tòa án đã có văn bản trình báo dấu hiệu tội phạm sang Cơ quan công an thành phố T. Tòa án đã nhiều lần có văn bản nhắc phúc đáp nhưng Cơ quan Công an vẫn không có văn bản phúc đáp. Đã quá thời hạn xem xét đơn trình báo tội phạm của Cơ quan Công an nhưng vẫn chưa có kết quả. Do đó, nếu có vi phạm pháp luật hình sự sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Xét, ông T yêu cầu Công ty cổ phần X trả tiền lãi theo lãi suất thỏa thuận là 20%/năm theo từng khoản tiền và thời hạn chậm trả trong Biên bản đối chiếu công nợ ngày 05/7/2019 là đúng với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Biên bản thỏa thuận ngày 29/6/2019, ông T trình bày ông buộc phải ký, không được ý kiến và ông ký để xác định có góp vốn vào Công ty. Sau đó, ông T đã ký với ông Nguyễn Minh Đ Biên bản đối chiếu công nợ ngày 05/7/2019, đồng thời chấm dứt luôn Văn bản thỏa thuận ngày 29/6/2019 đã ký trước đó. Vì vậy, ông Lê Việt T yêu cầu chấm dứt Văn bản thỏa thuận ký ngày 29/6/2019 giữa Công ty cổ phần X với phần cá nhân ông có có cơ sở chấp nhận.
Đồng thời, ông T không đồng ý theo yêu cầu phản tố của phía bị đơn.
Xét, yêu cầu của của bị đơn cho rằng vào Nghị quyết số 01/NQ/HĐQT-AGP ngày 17/01/2019 của Công ty cổ phần X là không có thật cũng như ông Nguyễn Minh Đ không có thẩm quyền ký Biên bản đối chiếu công nợ ngày 05/7/2019 với ông Lê Việt T nên không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của ông T là không có cơ sở chấp nhận.
Xét, bị đơn yêu cầu ông Lê Việt T nộp số tiền 2.076.834.134 đồng, bao gồm: tiền góp vốn còn thiếu là 385.439.600 đồng, tiền chậm trả đối với vốn góp tính đến ngày 31/12/2020 là 56.601.541 đồng và tiền lỗ tính đến ngày 31/12/2020 là 1.634.792.993 đồng; tổng cộng là 2.076.834.133 đồng là không có cơ sở chấp nhận
Xét, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần T3) phải chịu án phí phần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là 300.000 đồng + 112.000.000 đồng + (10.526.852.777 đồng – 4.000.000.000 đồng) x 0,1% = 118.826.853 đồng.
- - Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần T3) phải chịu án phí phần phản tố không được chấp nhận là 72.000.000 đồng + (2.076.834.133 đồng – 2.000.000.000 đồng) x 2% = 73.536.683 đồng.
- - Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông Lê Việt T.
Bởi các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 2, Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm 1 khoản 1 Điều 39; Điều 271 và Điều 273; Điều 227; Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 166; Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;
- - Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
- - Chấm dứt một phần Văn bản thỏa thuận ký ngày 29/6/2019 giữa ông Lê Việt T với Công ty cổ phần X (Phần thỏa thuận với ông Lê Việt T).
- - Buộc Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần T3) trả cho ông Lê Việt T số tiền tính đến ngày 06/11/2024 là 10.526.852.777 đồng (Mười tỷ năm trăm hai mươi sáu triệu tám trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm bảy mươi bảy đồng); bao gồm nợ gốc là 5.165.000.000 đồng (Năm tỷ một trăm sáu mươi lăm triệu đồng), tiền lãi là 5.361.852.777 đồng (Năm tỷ ba trăm sáu mươi mốt triệu tám trăm năm mươi hai ngàn bảy trăm bảy mươi bảy đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần T3) yêu cầu ông Lê Việt T nộp số tiền 2.076.834.134 đồng (Hai tỷ không trăm bảy mươi sáu triệu tám trăm ba mươi bốn ngàn một trăm ba mươi bốn đồng), bao gồm: tiền góp vốn còn thiếu là 385.439.600 đồng (Ba trăm tám mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi chín ngàn sáu trăm đồng), tiền chậm trả đối với vốn góp tính đến ngày 31/12/2020 là 56.601.541 đồng (Năm mươi sáu triệu sáu trăm lẻ một ngàn năm trăm bốn mươi mốt đồng) và tiền lỗ tính là 1.634.792.993 đồng (Một tỷ sáu trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm chín mươi hai ngàn chín trăm chín mươi ba đồng).
Duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 37/2020/QĐ-BPKCTT ngày 17/11/2020 và số 40/2020/QĐ-BPKCTT ngày 21/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
Kể từ ngày 07/11/2024 cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng đơn Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần T3) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất giữa các bên đã thỏa thuận.
Thi hành án tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần T3) phải chịu án phí phần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là 118.826.853 đồng (Một trăm mười tám triệu tám trăm hai mươi sáu ngàn tám trăm năm mươi ba đồng) và án phí phần phản tố không được chấp nhận là 73.536.683 đồng (Bảy mươi ba triệu năm trăm ba mươi sáu ngàn sáu trăm tám mươi ba đồng). Tổng cộng là 192.363.536 đồng (Một trăm chín mươi hai triệu ba trăm sáu mươi ba ngàn năm trăm ba mươi sáu đồng); được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.768.341 đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi tám ngàn ba trăm bốn mươi mốt đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2021/0024039 ngày 21/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Công ty cổ phần X (Nay là Công ty cổ phần T3) còn phải nộp số tiền 155.595.195 đồng (Một trăm năm mươi lăm triệu năm trăm chín mươi lăm ngàn một trăm chín mươi lăm đồng).
- - Hoàn trả cho ông Lê Việt T số tiền tạm ứng án phí là 57.078.900 đồng (Năm mươi bảy triệu không trăm bảy mươi tám ngàn chín trăm đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2019/0046737 ngày 02/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tống đạt được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Cảnh L |
Bản án số 5129/2024/DS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản và tranh chấp hợp đồng góp vốn
- Số bản án: 5129/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản và Tranh chấp hợp đồng góp vốn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản” “Tranh chấp hợp đồng góp vốn”
