Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TAND TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 512/2025/HS-PT

Ngày: 25/11/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Thanh;

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Hưng;

Ông Thái Duy Nhiệm.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm - Thư ký viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn H, Kiểm sát viên cao cấp.

- Công chức Tòa án tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Thanh S, công chức Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần: Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa trực tuyến xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 536/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị A . Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 193/2025/HS- ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị A, sinh năm 1977, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Q, xã P, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn S1 và bà Phạm Thị Đ; có chồng là Trần Văn K (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 19/12/2024; tạm giam ngày 20/12/2024, tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn Đ1 - Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền trả nợ, nên ngày 31/12/2020, tại nhà nghỉ T4 ở thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là xã P, thành phố Hải Phòng), Nguyễn Thị A đã sử dụng giấy tờ giả, gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 754204 mang tên Nguyễn Thị T và 01 Chứng minh nhân dân số [...] mang tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1978 ở thôn L, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội thế chấp vay được 1.100.000.000 đồng (lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày) của bà Phạm Thị H1, sinh năm 1973, trú tại: thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là xã A, thành phố Hải Phòng); Nguyễn Thị A ký Hợp đồng chuyển nhượng mua bán đất với bà H1 cùng giấy cam kết: “Thu có trách nhiệm trong thời gian từ ba đến sáu tháng, chuộc lại sổ bìa đất và bà H1 phải giao lại cho T khi đã trả lại đủ số tiền 1.100.000.000 đồng”.

Nguyễn Thị A dùng số tiền trên trả nợ ông Đào Quang T1, sinh năm: 1969, trú tại thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là xã P, TP.) 1.000.000.000 đồng, số tiền còn lại Anh chi tiêu cá nhân và trả tiền lãi cho bà H1. Đến ngày 16/02/2022, do không có tiền trả nên Anh chuyển 40% vốn điều lệ của Công ty TNHH Đ3, địa chỉ: xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (Do A1 là giám đốc - Người đại diện theo pháp luật) cho bà H1 để đảm bảo khoản vay trên. Đến ngày 31/3/2022, Anh tự ý làm thủ tục chuyển 40% vốn điều lệ Công ty của bà H1 sang cho anh Nguyễn Hữu Đ2, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là xã L, thành phố Hải Phòng) mà không được sự đồng ý của bà H1. Đến ngày 02/11/2022, bà H1 phát hiện Giấy chứng minh nhân dân và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy tờ giả, nên đã giao nộp và tố cáo Nguyễn Thị A đến cơ quan Công an.

Tại Bản Kết luận giám định số 2036 ngày 20/4/2023 của V - Bộ C kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BK 754205 ngày 18/4/2018 (bao gồm: mẫu in, hình dấu, chữ ký) và Giấy chứng minh nhân dân số: [...] mang tên Nguyễn Thị T, ngày 22/7/2011 đều là là giấy tờ giả .

- Về nguồn gốc của giấy tờ giả, Nguyễn Thị A khai nhận: Cuối năm 2017, Nguyễn Thị A đưa giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1978, nơi ĐKHK thường trú: Kim Xuyên, Kim T2, Hải Dương và ảnh 3cm x 4cm của Anh cho Lưu Thị T3, để T3 làm Giấy chứng minh nhân dân và chuyển nhượng Quyền sử dụng đất. Lưu Thị T3 hướng dẫn Nguyễn Thị A làm thủ tục lăn tay và ký các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên tại quán nước thuộc thành phố Hà Nội. Đầu năm 2018, T3 đưa cho Anh Giấy chứng minh nhân dân số [...]. Cuối năm 2018, T3 đưa cho Anh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 754204 do UBND huyện S cấp ngày 18/4/2018, thửa đất số 29, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: thôn L, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội đều mang tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1978, nơi ĐKHK thường trú: K, K, Hải Dương. Sau đó, Anh nhờ người kiểm tra thông tin theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số thửa đất, số chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị T thì không có thửa đất nào tại huyện S, thành phố Hà Nội mang tên Nguyễn Thị T nên Anh xác định các giấy tờ trên là giả. Nguyễn Thị A chỉ biết Lưu Thị Thanh S2 năm 1975 ở tỉnh Bắc Giang và không biết thông tin khác về T3.

- Về trách nhiệm dân sự: Ngày 20/7/2025, đại điện gia đình bị can Nguyễn Thị A đã trả cho bà Phạm Thị H1 800.000.000 đồng, số tiền còn lại 300.000.000 đồng bà H1 không yêu cầu Anh bồi thường và có quan điểm đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 193/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt Nguyễn Thị A 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt truy nã 19/12/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08 tháng 9 năm 2025 bị cáo Nguyễn Thị A có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Bị cáo thừa nhận tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm kết án là đúng. Tuy nhiên thực lòng bị cáo không có ý định chiếm đoạt tài sản của bà Phạm Thị H1, mà do sau khi vay tiền thì phải trả nợ cho ông Đào Quang T1 và sau đó Công ty của bị cáo làm ăn thua lỗ nên đến trước khi bị khởi tố chưa trả được cho bà H1. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội có quan điểm: Bị cáo đã có hành vi gian dối, sử dụng giấy tờ giả về nhân thân và nhà đất để vay tiền và chiếm đoạt tài sản của bà H1 với số tiền 1.100.000.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo là phụ nữ, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đã ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội với thái độ ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền 800.000.000 đồng, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường số tiền 300.000.000 đồng còn lại do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”; tổng hợp hình phạt chung 17 năm tù cho 2 tội là quá nghiêm khắc. Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ (có 02 tình tiết tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự) nên có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo theo hướng áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” để giảm hình phạt cho bị cáo. Không giảm hình phạt đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

- Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Mức hình phạt 14 năm tù mà tòa án cấp sơ thẩm áp dụng với bị cáo về tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là quá nặng; tại phiên tòa sơ thẩm Kiểm sát viên cũng đề nghị mức án thấp hơn so với quyết định bản án; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hậu quả của vụ án đã khắc phục, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị A trong thời hạn, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của thành phố Hải Phòng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị hại, những người làm chứng, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định ... Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

[3.1] Do cần tiền trả nợ, nên ngày 31/12/2020, tại nhà nghỉ T4 ở thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là xã P, thành phố Hải Phòng), Nguyễn Thị A tự nhận là Nguyễn Thị T, sinh năm 1978, HKTT: thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương và sử dụng tài liệu giả gồm: Giấy chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 22/7/2011 mang tên Nguyễn Thị T và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 754204 ngày 18/4/2018, thửa đất số 29, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: thôn L, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội cũng mang tên Nguyễn Thị T, thế chấp cho bà Phạm Thị H1 để vay số tiền 1.100.000.000 đồng. Nguyễn Thị A đã sử dụng số tiền chiếm đoạt được để trả nợ cho người khác, trả lãi ngày cho bà H1 và chi tiêu cá nhân.

[3.2] Do bị cáo Nguyễn Thị A sử dụng tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của bị hại là 1.100.000.000 đồng là hành vi thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo về việc giảm nhẹ hình phạt:

[4.1] Đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Tội phạm bị cáo thực hiện có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, hậu quả của vụ án đã được khắc phục toàn bộ (đã bồi thường 800.000.000 đồng, còn lại 300.000.000 đồng bị hại tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường) và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách niệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh là phụ nữ đã ly hôn, có 02 con. Do đó, mức hình phạt 14 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, quan điểm của Kiểm sát viên, của Người bào chữa cho bị cáo, áp dụng thêm quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đối với tội danh này.

[4.2] Đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”: Tội phạm bị cáo thực hiện có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng 03 năm tù - là mức khởi điểm của khung hình phạt. Do bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt hơn nữa cho bị cáo.

[5] Căn cứ quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị A về việc đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Sửa quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 193/2025/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng như sau:
    • - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị A 10 (Mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
    • - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị A 03 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
    • - Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt của cả 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2024.
  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị A không phải chịu.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 TAND tối cao;
  • - Viện Công tố & KSXXPT tại Hà Nội;
  • - TAND, VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Bị cáo (Qua TTG);
  • - Lưu Phòng HCTP, HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Hải Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 512/2025/HS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 512/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger