Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 512/2025/HS-PT

Ngày: 11 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chương

Các Thẩm phán: Ông Trần Đức Hiếu

Ông Lê Quang Chiều

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bảo Nguyên - Thư ký Toà án nhân

dân Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 147/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2025/QĐXXPT-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 98/2025/QĐ-HSPT ngày 18 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 112/2025/QĐ-HSPT ngày 14 tháng 4 năm 2025 do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Q1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:

Ngân hàng TMCP Q1 (V1). Địa chỉ trụ sở: Tầng A, 2 Tòa nhà S - A P, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Tổng giám đốc V1; Người được uỷ quyền: Ông Nguyễn Đình T, Giám đốc khối mạng lưới kinh doanh ngân hàng V1; Người được uỷ quyền lại: Ông Hoàng Đình H, Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ vùng Nam H, khối mạng lưới kinh doanh ngân hàng bán lẻ VIB; Người được uỷ quyền tham gia tố tụng tại Toà án: Bà Nguyễn Thị Việt N, ông Trần Bảo S, ông Trương Văn Q, bà Nguyễn Thị Phương L đều là Cán bộ VIB (Giấy uỷ quyền số 064637.25 ngày 14/03/2025), (có mặt ông S, bà L; vắng mặt bà N, ông Q).

Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng có liên quan đến kháng cáo: Lò Văn T1, sinh năm 1980 tại huyện P, tỉnh Sơn La; nơi cư trú và ĐKHKTT: Bản B, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La. Hiện đang bị chấp hành hình phạt

1

tù tại Trại giam H1 - Cục C Bộ C1 (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo nhưng có liên quan đến kháng cáo: Chị Đinh Thị N1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Bản B, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La (có mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn có 02 bị cáo không kháng cáo bản án sơ thẩm, Tòa án không triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý heroin nên khoảng 11 giờ 40 phút ngày 09/8/2024, Lò Văn T2 gọi điện thoại cho Lò Văn T1 bảo T1 mua 500.000₫ ma túy heroin để sử dụng, T1 nói không có tiền và bảo T2 chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng của T1 để mua ma tuý, T2 đồng ý. Trước đó, T2 nhận được 2.000.000 đồng tiền công được trả vào tài khoản Ngân hàng của Hà Tiến T3 (là cháu của T2) nên T2 bảo T3 mở điện thoại, đăng nhập vào tài khoản Ngân hàng của T3 để T2 chuyển tiền cho T1 mua ma tuý, T3 đồng ý. T2 cầm điện thoại của T3 sử dụng tài khoản Ngân hàng của T3 chuyển 500.000 đồng sang tài khoản Ngân hàng của T1. Quá trình chuyển tiền, T2 bảo T3 là mua 500.000 đồng ma túy sử dụng thì T3 nói “cho cháu làm tý” tức T3 bảo T1 cho sử dụng ma túy cùng. T3 cầm điện thoại nhập mã OTP xác nhận chuyển 500.000 đồng cho T1 để mua ma túy sử dụng. Sau khi nhận được tiền, T1 gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T4, sinh năm 1970 (trú tại số C, tổ A, Phường N, Quận Đ, Thành phố Hà Nội) để mua 500.000 đồng ma túy heroin, T4 đồng ý và hẹn T1 giao dịch ma tuý tại khu vực N, Quận Đ, Thành phố Hà Nội. T1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 26A-159.88 đến khu vực Ngã Tư S1 đưa cho T4 500.000 đồng (trong đó, 400.000 đồng chuyển vào tài khoản của T4 và 100.000 đồng đưa tiền mặt) và nhận 01 gói giấy (dạng giấy lịch, màu trắng, xanh đỏ, kích thước khoảng 1,5x2cm, bên trong chứa ma túy heroin) để vào hộc trước của xe ô tô. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi mua được ma túy, T1 điều khiển xe ô tô đến khu đô thị C thuộc xã T và gọi T2 đến sử dụng ma túy. Sau đó, T2 cùng T3 đi bộ đến khu đô thị C, xã T gặp T1 đang ngồi trong xe ô tô (xe đỗ ven đường). T2 và T3 vào xe ô tô, T2 ngồi ghế phụ trước, T3 ngồi ghế sau. Khi vào trong xe, T1 lấy mảnh giấy bạc rồi lấy một ít ma túy heroin trong gói ma túy vừa mua cho lên mảnh giấy bạc, số ma túy còn lại trong gói giấy T1 để lên mặt táp lô trong xe ô tô. T1 dùng bật lửa gas màu đỏ đốt mặt dưới của giấy bạc sử dụng rồi đưa cho T2 sử dụng, T2 sử dụng rồi đưa cho T3 sử dụng. T3 sử dụng rồi đưa cho T1. Khi cả ba sử dụng ma túy được 02 lượt thì Công an Xã T kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: Tổ công tác đã thu giữ của T2 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng có số sim 0965253364; thu giữ của T1 01 mảnh giấy bạc bị vò lại, 01 bật lửa màu đỏ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có sim số 0975151199 và 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota màu vàng nâu, biển kiểm soát 26A-159.88; thu giữ của T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng có số sim 0344894425.

2

Tại bản Kết luận giám định số 5912/KL-KTHS, ngày 19/8/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng, xanh đỏ (dạng giấy lịch, mẫu số 01) là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,207 gam; 01 mảnh giấy bạc (mẫu số 02) có dính ma túy loại Heroin”.

Tại bản Kết luận giám định số 5913/KL-KTHS, ngày 19/8/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “Trong mẫu nước tiểu của Lò Văn T1 (khm1), lò văn thiện (khm2), hà tiến thành (khm3) đều có tìm thấy ma túy loại Morphine”.

Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn T2, Lò Văn T1, Hà Tiến T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, phù hợp diễn biến nội dung vụ án và các tài liệu chứng cứ thu thập được.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 30/12/2024 của Toà án nhân dân Huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lò Văn T2 8 (tám) năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 10/8/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lò Văn T1 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 10/8/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Hà Tiến T3 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 10/8/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 bao gói sau giám định của Phòng K - C2 được niêm phong theo quy định của pháp luật, còn nguyên niêm phong; 01 bật lửa ga màu đỏ.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng, đã qua sử dụng bên trong lắp 01 sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, đã qua sử dụng bên trong lắp 1 sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, đã qua sử dụng bên trong lắp 1 sim.
  • - Trả lại chị Đinh Thị N1: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota màu vàng nâu, biển kiểm soát 26A-159.88.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo.

Ngày 03/01/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Q1 kháng cáo về việc Toà án cấp sơ thẩm xử lý vật chứng giao chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 26A-159.88 cho chị Đinh Thị N1 là

3

không đúng vì đây là tài sản chung vợ chồng của chị N1 và bị cáo Lò Văn T1 có nguồn gốc do vay vốn của ngân hàng để mua, đã thế chấp cho ngân hàng và có đăng ký giao dịch bảo đảm. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giao chiếc xe cho Ngân hàng TMCP Q1 để xử lý thu hồi nợ.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Q1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của V1, giao chiếc xe ô tô Toyota biển kiểm soát 26A-159.88 cho V1 để đảm bảo khoản nợ vay của vợ chồng bị cáo Lò Văn T1 và chị Đinh Thị N1.
  • - Bị án Lò Văn T1 đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ngân hàng nhưng đề nghị Ngân hàng khi xử lý nợ xem xét miễn giảm nợ cho vợ chồng bị án.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đinh Thị N1 đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ngân hàng nhưng đề nghị ngân hàng khi xử lý nợ xem xét miễn giảm nợ cho vợ chồng chị.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà có quan điểm:
  • + Về tội danh, hình phạt mà bản án sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo Lò Văn T2, Lò Văn T1, Hà Tiến T3 là có căn cứ, đúng pháp luật.
  • + Về hình thức đơn kháng cáo của Ngân hàng đúng về chủ thể và được làm trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét.
  • + Về nội dung: Đại diện ngân hàng cũng như vợ chồng bị cáo T1, N1 đều xác nhận chiếc xe ô tô Toyota nhãn hiệu Vios, biển kiểm soát 26A-159.88 là tài sản bảo đảm cho khoản vay của bị cáo T1 và chị N1 tại Ngân hàng V1. Do đó, bản án sơ thẩm quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cho chị N1 là không có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q1, giao chiếc xe ô tô biển kiểm soát 26A-159.88 cho Ngân hàng TMCP Q1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

  • - Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  • - Về hình thức: Đơn kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q1 đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên chấp nhận để xem xét.

4

[2] Về nội dung:

Căn cứ lời khai của bị cáo Lò Văn T1 tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định hành vi của các bị cáo như sau:

Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 09/8/2024, Lò Văn T2 gọi điện thoại cho Lò Văn T1 bảo T1 mua 500.000 đồng ma túy heroin về sử dụng. Sau đó, T2 bảo Hà Tiến T3 chuyển 500.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của T1 để mua ma túy. T3 biết T2 và T1 mua ma túy để sử dụng và đã bảo T2 cho sử dụng ma túy cùng. Sau khi nhận được tiền, T1 mua 01 gói ma túy heroin với giá 500.000 đồng của Nguyễn Văn T4 tại khu vực N, quận Đ, thành phố Hà Nội. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, T1 gọi cho T2 đến khu đô thị C thuộc xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội để sử dụng ma túy. Lò Văn T2 và Hà Tiến T3 đi bộ đến khu đô thị C, xã T rồi vào trong xe ô tô Toyota Vios, biển kiểm soát 26A-159.88 của T1 để cùng sử dụng ma túy với T1. Khi đang sử dụng thì Công an xã T kiểm tra phát hiện và bắt giữ thu giữ số ma túy còn lại chưa sử dụng là 0,272 gam ma túy Heroin. Giám định nước tiểu của Lò Văn T2, Lò Văn T1, Hà Tiến T3 đều có ma túy loại Morphine.

Hành vi của các bị cáo Lò Văn T2, Lò Văn T1, Hà Tiến T3 cùng bàn bạc mua ma tuý, sau đó tổ chức sử dụng trái phép đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo tội danh và hình phạt như nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Q1 đối với quyết định của bản án sơ thẩm về việc xử lý vật chứng trao trả cho chị Đinh Thị N1 chiếc xe ô tô Toyota biển kiểm soát 26A-159.88, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tại cấp sơ thẩm, Ngân hàng TMCP Q1 đã cung cấp cho Toà án các tài liệu như: Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 9188266 (1).23 ngày 05/4/2023, Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 05/4/2023, Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 718263.23 ngày 05/4/2023 thể hiện: Vợ chồng bị cáo Lò Văn T1, chị Đinh Thị N1 vay Ngân hàng TMCP Q1 (V1) số tiền 363.000.000 đồng mục đích để mua chiếc xe ô tô biển kiểm soát 26A-159.88 và thế chấp chiếc xe này để đảm bảo cho khoản vay. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Huyện Đ đã làm việc với đại diện V1 xác định đến ngày 13/11/2024, vợ chồng bị cáo T1, chị N1 còn nợ ngân hàng tổng số tiền 317.864.886 đồng. Tại phiên toà, bị cáo T1 và chị N1 đều xác nhận khoản nợ và đồng ý giao chiếc xe ô tô biển kiểm soát 26A-159.88 cho ngân hàng để xử lý nợ nhưng đề nghị ngân hàng xem xét miễn giảm nợ. Do đó, có cơ sở để xác định vật chứng trong vụ án chiếc xe ô tô Toyota biển kiểm soát 26A-159.88 nguồn gốc do vợ chồng bị cáo T1, chị N1 vay tiền Ngân hàng TMCP Q1 để mua và được thế chấp cho V1 để đảm bảo cho khoản vay 363.000.000 đồng. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe ô tô đã thế chấp cho ngân hàng để đi mua ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ngân hàng không biết. Tính đến ngày 13/11/2024, vợ chồng bị cáo Lò Văn T1 và chị Đinh Thị N1 còn nợ ngân hàng 317.864.886 đồng cho đến nay chưa thanh toán được. Do đó, chiếc xe ô tô Toyota biển kiểm soát 26A-159.88 hiện nay đang là tài sản bảo đảm cho

5

khoản nợ vay nêu trên, nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo thoả thuận trong các văn kiện tín dụng đã ký kết giữa hai bên. Việc Toà án cấp sơ thẩm quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe ô tô cho chị Đinh Thị N1 là không đúng về nguyên tắc xử lý vật chứng và làm ảnh hưởng đến quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng TMCP Q1. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, giao cho Ngân hàng TMCP Q1 chiếc xe ô tô Toyota biển kiểm soát 26A-159.88 để đảm bảo cho khoản nợ của vợ chồng bị cáo Lò Văn T1, chị Đinh Thị N1 tại V1.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do người kháng cáo được chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Q1.

1. Sửa phần quyết định bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HSST ngày 30/12/2024 của Toà án nhân dân Huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội về xử lý vật chứng là chiếc xe Toyota Vios, biển kiểm soát 26A-159.88, cụ thể:

Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1 chiếc xe Toyota Vios, biển kiểm soát 26A-159.88, số máy 2NRY020259, số khung RL4B28F3XP5174725 cho Ngân hàng TMCP Q1 để đảm bảo cho khoản vay của bị cáo Lò Văn T1, chị Đinh Thị N1 tại Ngân hàng TMCP Q1 theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 05/4/2023.

2. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ngân hàng TMCP Q1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

6

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội;
  • - Công an Thành phố Hà Nội;
  • - Sở tư pháp Thành phố Hà Nội;
  • - Toà án nhân dân Huyện Đan Phượng, TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân Huyện Đan Phượng, TP Hà Nội;
  • - Chi cục THADS Huyện Đan Phượng, TP Hà Nội;
  • - Những người có liên quan đến kháng cáo;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Chương

7

8

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 512/2025/HS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 512/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý heroin nên khoảng 11 giờ 40 phút ngày 09/8/2024, Lò Văn T2 gọi điện thoại cho Lò Văn T1 bảo T1 mua 500.000đ ma túy heroin để sử dụng, T1 nói không có tiền và bảo T2 chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng của T1 để mua ma tuý, T2 đồng ý. Trước đó, T2 nhận được 2.000.000 đồng tiền công được trả vào tài khoản Ngân hàng của Hà Tiến T3 (là cháu của T2) nên T2 bảo T3 mở điện thoại, đăng nhập vào tài khoản Ngân hàng của T3 để T2 chuyển tiền cho T1 mua ma tuý, T3 đồng ý. T2 cầm điện thoại của T3 sử dụng tài khoản Ngân hàng của T3 chuyển 500.000 đồng sang tài khoản Ngân hàng của T1. Quá trình chuyển tiền, T2 bảo T3 là mua 500.000 đồng ma túy sử dụng thì T3 nói “cho cháu làm tý” tức T3 bảo T1 cho sử dụng ma túy cùng. T3 cầm điện thoại nhập mã OTP xác nhận chuyển 500.000 đồng cho T1 để mua ma túy sử dụng. Sau khi nhận được tiền, T1 gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T4, sinh năm 1970 (trú tại số C, tổ A, Phường N, Quận Đ, Thành phố Hà Nội) để mua 500.000 đồng ma túy heroin, T4 đồng ý và hẹn T1 giao dịch ma tuý tại khu vực N, Quận Đ, Thành phố Hà Nội. T1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 26A-159.88 đến khu vực Ngã Tư S1 đưa cho T4 500.000 đồng (trong đó, 400.000 đồng chuyển vào tài khoản của T4 và 100.000 đồng đưa tiền mặt) và nhận 01 gói giấy (dạng giấy lịch, màu trắng, xanh đỏ, kích thước khoảng 1,5x2cm, bên trong chứa ma túy heroin) để vào hộc trước của xe ô tô. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi mua được ma túy, T1 điều khiển xe ô tô đến khu đô thị C thuộc xã T và gọi T2 đến sử dụng ma túy. Sau đó, T2 cùng T3 đi bộ đến khu đô thị C, xã T gặp T1 đang ngồi trong xe ô tô (xe đỗ ven đường). T2 và T3 vào xe ô tô, T2 ngồi ghế phụ trước, T3 ngồi ghế sau. Khi vào trong xe, T1 lấy mảnh giấy bạc rồi lấy một ít ma túy heroin trong gói ma túy vừa mua cho lên mảnh giấy bạc, số ma túy còn lại trong gói giấy T1 để lên mặt táp lô trong xe ô tô. T1 dùng bật lửa gas màu đỏ đốt mặt dưới của giấy bạc sử dụng rồi đưa cho T2 sử dụng, T2 sử dụng rồi đưa cho T3 sử dụng. T3 sử dụng rồi đưa cho T1. Khi cả ba sử dụng ma túy được 02 lượt thì Công an Xã T kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger