Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 512/2024/HS-PT

Ngày 05 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Duy Nhiệm;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vũ Đông;
Ông Đặng Đình Lực.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Thành, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Minh - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 286/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Huy T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1988 tại Hà Nam;

Nơi cư trú: Thôn Y, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; con ông Nguyễn Văn C và bà Đỗ Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2023 đến nay, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo:

  • - Ông Nguyễn Đình C1, ông Nguyễn Đình T1, Luật sư Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H, có mặt.
  • - Ông Nguyễn Kim T2, ông Nguyễn Tuấn A, Luật sư Công ty L2 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.

* Người làm chứng được Tòa án triệu tập:

  1. Anh Trần Văn C2, sinh năm 1986, vắng mặt;
  2. Trú tại: Xã C, huyện D (nay là phường C, thị xã D), tỉnh Hà Nam.
  3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1962, vắng mặt;
  4. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1993, có mặt;

Cùng trú tại: Xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam.

* Ngoài ra còn có đại diện hợp pháp cho bị hại không kháng cáo, nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 3 năm 2013, Nguyễn Huy T cùng anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1970; anh Trần Văn C2, sinh năm 1986 cùng trú tại xã C, huyện D (nay là phường C, thị xã D), tỉnh Hà Nam và anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1962; anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1993 cùng trú tại xã C, thị xã D đi làm thuê cho ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1965, trú tại xã C, thị xã D tại xưởng cưa thuộc Bản Beng (nay là Bản B Ụ Đôm), huyện S, tỉnh Sa La Văn, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Khoảng 20 giờ ngày 13/8/2013, sau khi ăn cơm xong thì T cùng anh H1, anh C2, anh D rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi “Phỏm” được thua bằng tiền tại xưởng cưa. Trong lúc chơi, anh H1 ăn “3 tay” của T nên T phải trả anh H1 số tiền 400.000 đồng. Do T chỉ trả anh H1 200.000 đồng thì giữa T và anh H1 xảy ra mâu thuẫn. Anh H1 dùng một tay túm cổ áo T, một tay cầm chai thủy tinh đập vào đầu T làm chai thủy tinh bị vỡ. Lúc này, mọi người can ngăn thì anh H1 bỏ tay ra khỏi cổ áo T. Ngay lập tức T vào khu vực để dao trong gian bếp cách đó khoảng 5m để tìm hùng khí thì một người nam giới khoảng 40 tuổi đứng xem đánh bạc trước đó (không xác định được lai lịch) ôm ngang bụng T can ngăn, T nói “Bỏ em ra, không có gì”. Khi người nam giới vừa bỏ T ra thì T chạy vào gian bếp lấy 01 con dao bầu dài khoảng 35cm chạy ra đâm anh H1. Do anh H1 đang đứng gần người nam giới vừa can T nên anh H1 kéo người nam giới ra phía trước mặt của mình thì T đâm trúng tay phải của người nam giới này, T đâm nhát thứ hai trúng vào phía trước vai phải anh H1. Anh H1 dùng hai tay đẩy T ra để bỏ chạy thì T cầm dao đuổi theo nói “Mày chết rồi H1 ơi”, khi anh H1 chạy đến trước cửa nhà thì bị vấp ngã, T chạy đến dùng dao đâm một nhát về phía người anh H1, anh H1 liền giơ tay trái lên đỡ thì bị đâm trúng vào cẳng tay trái, sau đó T đâm tiếp trúng vào vùng lưng phải anh H1. Anh H1 vùng bỏ chạy vào phòng ngủ chui xuống gầm giường. T tiếp tục cầm dao đuổi theo vào phòng ngủ thì không thấy anh H1 đâu nên T bỏ đi. Anh H1 được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện tỉnh S, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Do không đủ máu để truyền nên ngày 14/8/2013, anh C2 đưa anh H1 về Việt Nam để tiếp tục cấp cứu nhưng anh H1 đã bị tử vong trên đường về do vết thương quá nặng.

* Kết quả xác định hiện trường: Hiện trường vụ “Giết người” xảy ra ngày 13/8/2013 tại xưởng cưa của ông Nguyễn Văn O thuộc Bản Beng (nay là Bản B Ụ Đôm), huyện S, tỉnh Sa La Văn, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Ngày 12/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành kiểm tra, xác định hiện trường nhưng không thu giữ đồ vật gì có có liên quan đến vụ án.

* Kết quả khám nghiệm tử thi anh Nguyễn Văn H1.

- Khám ngoài:

Vùng trước vai phải có vết rách da bờ mép sắc gọn góc tù ở phía dưới bên ngoài, góc nhọn ở phía trên bên trong kích thước (4,6x2,5) cm, cách đỉnh nách 04 cm, cách mỏm vai phải 06 cm. Qua que thăm dò vết rách da xuyên thấu từ ngoài vào trong hơi chếch từ trên xuống dưới.

Vùng trước gối phải có mảng sạt da bầm tím kích thước (4x3) cm, hướng từ trên xuống dưới.

Mặt sau ngoài cẳng tay trái có vết rách da sâu sát xương bờ mép sắc gọn, hướng từ sau ra trước, hơi chéo từ trên xuống dưới, cách cổ tay 03cm, góc tù ở phía trên, góc nhọn ở phía dưới, kích thước (4x0,6) cm.

Vùng lưng phải có vết rách da bờ mép sắc gọn kích thước (5,3x3,2) cm góc tù ở phía ngoài, góc nhọn ở phía trong. Qua que thăm dò vết rách da xuyên từ trên xuống dưới.

- Khám trong:

Mở da vùng trước ngực, bụng theo đường trắng giữa trên và dưới rốn: Cơ và tổ chức dưới da vùng trước ngực phải sát xương đòn ngấm máu tím sẫm kích thước (10x7) cm. Vết xuyên qua da vùng trước vai phải xuyên qua thành ngực cắt đứt 1/3 ngoài xương sườn số I, II bên phải thấu vào khoang lồng ngực. Mở xương lồng ngực hố phổi phải chứa khoảng 1.500 ml máu, phổi phải xốp, thùy đỉnh phổi phải có vết rách bờ mép sắc gọn kích thước (2,7x0,3) cm sâu 06 cm tương đương với tổn thương bên ngoài. Vết rách ra từ trước vai phải thấu vào phổi có tổng chiều sâu 13 cm. Hố phổi trái khô, phổi có nhiều chấm xuất huyết rải rác.

Tim: Bao tim nguyên vẹn thượng tâm mạc có nhiều chấm xuất huyết rải rác, hệ thống cơ van tim bình thường.

Gan: Có kích thước bình thường, nhu mô thuần nhất.

Mở dạ dày: Trong lòng dạ dày có chứa khoảng 500g thức ăn, cơm còn nguyên hạt.

Bộc lộ vết rách da vùng lưng phải, vết rách da xuyên từ trên xuống dưới, cắt qua cung sau xương sườn số XII thấu vào ổ bụng có chiều sâu 19 cm.

Các bộ phận khác không giải phẫu.

Quá trình khám nghiệm đã thu giữ: Da vùng tổn thương; phổi vùng tổn thương; tim; gan và mẫu máu để phục vụ giám định.

Ngày 18/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Huy T. Quá trình thi hành lệnh không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 96/GĐPY ngày 29/8/2013 của Trung tâm Pháp y tỉnh H kết luận “Dấu vết chính qua giám định: Các vết rách da trên cơ thể nạn nhân đều có bờ mép sắc gọn. Vết rách da trước vai phải xuyên từ ngoài vào trong, xuyên vào trong khoang lồng ngực phải thấu phổi. Nguyên nhân chết: Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tử vong cho nạn nhân Nguyễn Văn H1 là: Sốc mất máu cấp, suy hô hấp cấp. Vật gây thương tích: Các vết rách da trên cơ thể nạn nhân có bờ mép sắc gọn là do vật có cạnh sắc mũi nhọn gây nên”.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST, ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đã quyết định: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50; Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy T phạm t “Giết người”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 20 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, buộc nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31/01/2024, bị cáo Nguyễn Huy T có đơn kháng cáo kêu oan. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại hành vi cho bị cáo.

Bị cáo trình bày: Hành vi phạm tội của bị cáo như bản án sơ thẩm quy kết là đúng; nhưng xuất phát từ việc bị hại túm cổ áo và dùng chai thủy tinh đánh vào đầu bị cáo trước làm chảy máu; sau đó do thấy máu chảy nhiều bị cáo hoảng sợ, bực tức nên mới lấy dao ra mục đích để phòng thân, nhưng bị hại lao vào định đánh bị cáo nên bị cáo đã chém trúng người bị hại 03 nhát; cái chết của bị hại là do bị cáo gây ra nhưng bị cáo không có ý; đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Cấp sơ thẩm xét xử, quy kết bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật. Khi xét xét, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hình vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên, trong vụ án này chính bị hại cũng có một phần lỗi là đánh bị cáo trước, tại cấp phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thể hiện sự thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo tiếp tục tác động với gia đình hỗ trợ thêm cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000đ; đây là tình tiết giảm nhẹ tại cấp phúc thẩm cần áp dụng cho bị cáo, nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Từ các phân tích trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm để xử phạt bị cáo mức án từ 17 đến 18 năm tù.

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm:

- Luật sư Nguyễn Văn C3 phát biểu: Không có ý kiến gì tranh luận về tội danh; đại diện Viện kiểm sát cho rằng tại cấp sơ thẩm bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và tại cấp phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là đúng. Tuy nhiên, với mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là chưa phù hợp. Bởi vì, xuất phát từ việc mâu thuẫn nhỏ mà bị hại dùng chai thủy tinh đánh vào đầu bị cáo trước là hành vi vi phạm pháp luật, nên bị cáo phải được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thật sự khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; gia đình đã bồi thường tiếp cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000đ, gia đình bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

- Luật sư Nguyễn Tuấn A trình bày bổ sung: Không có ý kiến gì tranh luận về tội danh, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự là quá nghiêm khắc; hành vi của bị cáo không có tính chất côn đồ vì bị hại đánh bị cáo trước; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có hoàn cảnh khó khăn, trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức án dưới khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Huy T khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm quy kết; nhưng bị cáo cho rằng chính anh H1 là người đã tấn công bị cáo trước, dùng chai thủy tinh đánh vào đầu bị cáo làm bị cáo chảy máu, gây bức xúc nên bị cáo mới tự vệ. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thấy phù hợp với kết quả điều tra vụ án, kết quả khám nghiệm tử thi, lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án thấy phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo trong suốt quá trình điều tra. Do đó, có cơ sở để khẳng định: Xuất phát từ việc mâu thuẫn nhau trong lúc đánh bạc ăn tiền, khoảng 20 giờ ngày 13/8/2013, tại xưởng cưa của ông Nguyễn Văn O thuộc bản B, huyện S, tỉnh Sa La Văn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, anh Nguyễn Văn H1 đã dùng chai thủy tinh đánh váo đầu bị cáo, sau đó đã được mọi người can ngăn nhưng Nguyễn Huy T đã chạy vào bếp lấy 01 con dao dài khoảng 35cm chạy tới đâm một nhát trúng vào trước vai phải xuyên vào trong lồng ngực thấu phổi của anh H1; khi anh H1 bỏ chạy bị vấp ngã, Nguyễn Huy T đâm tiếp một nhát về phía anh H1, do anh H1 giơ tay lên đỡ nên đâm trúng cẳng tay trái, sau đó Nguyễn Huy T đâm tiếp vào vùng lưng anh H1, khi anh H1 bỏ chạy vào trong phòng ngủ chui xuống gầm giường, Nguyễn Huy T đuổi theo nhưng không tìm thấy anh H1 nên bị cáo đã bỏ đi; anh H1 được đưa đi cấp cứu, sau đó trên đường đưa về Việt Nam thì tử vong do mất máu cấp, suy hô hấp. Hành vi của bị cáo Nguyễn Huy T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”. Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo với tội danh nên trên theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 có có căn cứ, đúng pháp luật, bị cáo không bị oan.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, mặc dù anh H1 đánh bị cáo trước, nhưng đã được mọi người can ngăn nhưng sau đó bị cáo vẫn dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của người anh H1, dẫn đến anh H1 tử vong. Cấp sơ thẩm quy kết bị cáo với tình tiết định khung tăng nặng “Có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo, thấy: Như đã phân tích ở trên thì bị cáo không bị oan, Hội đồng xét xử phúc thẩm đồng tình với nhận định của bản án sơ thẩm: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; bị cáo đã tác động với gia đình thỏa thuận, bồi thường số tiền 130.000.000 đồng cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại có đơn đề nghị xem xét cho bị cáo. Hơn nữa, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi là đã túm cổ áo của bị cáo và dùng chai thủy tinh đánh bị cáo trước, làm bị cáo bức xúc; mặc dù tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đã thật sự tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi xét xử sơ thẩm mặc dù gia đình bị hại không có yêu cầu, nhưng bị cáo tác động với gia đình tiếp tục hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000đ, gia đình bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo có thời gian tham gia trong quân đội. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được cấp sơ thẩm áp dụng. Do đó, với tính chất hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên, thì mức án 20 năm tù đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc; nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo để giảm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.

[5] Bị cáo Nguyễn Huy T được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huy T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam. Cụ thể:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy T 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 18/10/2023).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Huy T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan THA HS CA tỉnh Hà Nam;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Nam;
  • - Người tham gia tố tụng (theo địa chỉ);
  • - Bị cáo (qua Trại tạm giam);
  • - Lưu: HSVA, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Duy Nhiệm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 512/2024/HS-PT ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự - giết người

  • Số bản án: 512/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Giết người
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy T phạm tội “Giết người”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger