|
TÒA PHÚC THẨM TAND TỐI CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 511/2025/HS-PT Ngày: 25/11/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Thanh;
Các Thẩm phán: Ông Thái Duy Nhiệm;
Ông Đặng Văn Hưng.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm, Thư ký viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn H, Kiểm sát viên cao cấp.
- Công chức tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Thanh S, Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần: Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử trực tuyến vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số 574/2025/TLPT-HS ngày 4 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo: Nguyễn Thanh P, Nguyễn Đình T và Lê Thị C. Do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2025/HS- ST ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
* Bị cáo có kháng cáo:
-
Nguyễn Thanh P, sinh năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: SỐ C L, phường G, (trước đây là phường C, quận N), thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Vũ Thị H1; đã từng sinh sống như vợ chồng với Phạm Thị N, sinh năm 1994; có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
- - Bản án số 33/HSST ngày 31/3/2010 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội Chống người thi hành công vụ.
- - Bản án số 261/HSST ngày 23/11/2016 của Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/7/2024 đến ngày 05/7/2024 chuyển tạm giam; hiện bị cáo đang bị giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
-
Nguyễn Đình T, sinh năm 1986 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số G đường N, phường Đ (trước đây là phường N, quận H), thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Nguyễn Bình Q và bà Nguyễn Thị L; có vợ: Lê Thị D, có 02 con lớn sinh 2014, nhỏ sinh 2016; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân:
- - Bản án số 06/HSST ngày 14/01/2010 của Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 07 năm tù về tội Cố ý gây thương tích.
- - Bản án số 56/HSST ngày 20/9/2017 của Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xử phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- - Bản án số 34/HSST ngày 28/11/2019 của Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 27 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/6/2024 đến ngày 05/7/2024 chuyển tạm giam; hiện bị cáo đang bị giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
-
Lê Thị C, sinh ngày: 01/01/1987 tại Đồng Nai. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Ấp E, xã Đ (trước đây là là xã Đ, huyện T), tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 01/12; con ông Lê Văn C1 và bà Trần Thị M; có chồng: Đỗ Hữu S1, sinh năm 1982 (đã ly hôn); có 03 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh 2014; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/7/2024 đến ngày 05/7/2024 chuyển tạm giam, ngày 28/9/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.
-
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh P: Luật sư Nguyễn Văn C2, văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
-
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình T: Luật sư Lê Đình H2, văn phòng Luật sư Lê Đình H2 - Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Phạm Văn T2 không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 27/6/2024, tại vị trí trước cửa nhà số A T, phường L, quận K (nay là phường K), thành phố Hải Phòng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang khi Nguyễn Đình T, Phạm Văn T2 vừa nhận 01 hộp hàng từ xe ô tô khách biển số 51B-278.89, vỏ hộp giấy ghi thông tin: “0983 A. Quân N1, Đ/c: 70 N 0792294433 KM, 0983276068”; bên trong hộp hàng có 01 nồi cơm điện màu trắng, đáy nồi có các túi nilon chứa tinh thể màu trắng và các viên nén màu xanh theo T2 khai là ma túy do Nguyễn Thanh P thuê vận chuyển. Tại Kết luận giám định số 849/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- - 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (20x10) cm có chất tinh thể màu trắng, là ma tuý loại Methamphetamine có khối lượng 142,16 gam.
- - 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (15x13) cm có chất tinh thể màu trắng, là ma tuý loại Methamphetamine có khối lượng 88,66 gam.
- - 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (10x5) cm có các viên nén màu xanh, là ma tuý loại MDMA có khối lượng 42,36 gam.
- - 01 túi nilon màu trắng có khóa mép viền kích thước khoảng (10x5) cm có các viên nén màu xanh, là ma tuý loại MDMA có khối lượng 42,67 gam.
- - 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (15x5) cm có chất tinh thể màu trắng, là ma tuý loại Ketamine có khối lượng 99,28 gam.
(Tổng khối lượng các chất ma túy là 415,13 gam)
Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu giữ của Phạm Văn T2 01 xe mô tô BKS 15AS-072.82, 01 điện thoại di động, 01 căn cước công dân; thu giữ của Nguyễn Đình T 01 điện thoại di động.
Thực hiện lệnh khám xét nơi ở của Nguyễn Thanh P tại căn hộ B.10.10 - Số F đường D, dự án Khu dân cư và công viên P, KP27, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt Lê Thị C là người yêu của P) và nơi lưu trú của P tại căn hộ I, tòa nhà T, B T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường V, thành phố Hồ Chí Minh), thu giữ các túi nilon bên trong có chất tinh thể màu trắng và viên nén màu hồng, P khai là ma túy cất giấu để sử dụng. Tại Kết luận giám định số 873/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
- - 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (15x20) cm bên trong bám dính tinh thể màu trắng, là mà túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1 gam.
- - 01 vỏ bao thuốc lá màu đỏ bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước (3x5) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, là ma tuý loại Methamphetamine có khối lượng 15,02 gam.
- - 01 túi nilon màu hồng bên trong chứa 82 viên nén màu hồng in logo “WY”, là mà túy loại Methamphetamine, có khối lượng 8,53 gam.
- - 02 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (15x20) cm bên trong chứa nhiều túi nilon màu trắng.
Kết quả điều tra xác định được như sau:
1. Về hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý của Nguyễn Thanh P, Nguyễn Đình T, Phạm Văn T2:
Nguyễn Thanh P sinh sống tại căn hộ B.10.10 - Số F đường D, Dự án Khu dân cư và công viên P, KP27, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng tháng 03/2024, thông qua các mối quan hệ xã hội, P quen biết người phụ nữ tên D1 (quốc tịch Việt Nam), sinh sống tại Campuchia có bán ma tuý. P nhiều lần liên hệ qua T3 mua ma tuý của D1 để sử dụng. Sáng ngày 24/6/2024, D1 liên lạc với P qua T3 thuê P vận chuyển 01 hộp hàng trong có ma tuý từ thành phố Hồ Chí Minh về thành phố Hải Phòng sẽ được trả công bằng 30 gam ma tuý đá và số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng, giao dịch xong người giao hàng (shipper) chuyển ma tuý và tiền cho P; khi đến thành phố Hải Phòng, sẽ có người liên lạc đến lấy ma túy. P đồng ý nhưng bảo D1 gửi ma túy đến thành phố Hải Phòng để P nhận và vận chuyển tiếp đến người nhận. Do P không về thành phố Hải Phòng nên liên lạc, thuê bạn là Phạm Văn T2 nhận ma túy tại thành phố Hải Phòng với tiền công là 20.000.000 đồng cùng 20 gam ma tuý đá, khi nào T2 nhận hàng thì thông báo lại cho P, sẽ có người đến lấy, T2 đồng ý và rủ bạn là Nguyễn Đình T cùng tham gia. T đồng ý, T2 và T thống nhất sử dụng số điện thoại 0793.294.xxx của T để liên lạc nhận ma tuý, tên người nhận là Q1 và ghi địa chỉ nhận hàng là số G đường N, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng (địa chỉ gần nhà T). Sau đó T2 thông báo lại nội dung trên cho P, P gửi thông tin người nhận hàng cho D1, dặn D1 ghi đầy đủ thông tin lên hộp hàng, khi nào gửi hàng thì thông báo cho P biết. Tối 25/6/2024, D1 liên lạc qua T3 báo cho P biết D1 đã gửi ma tuý bằng xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh đi thành phố Hải Phòng, chủ xe có số điện thoại liên lạc 0913.374.xxx, sáng ngày 27/6/2024 xe đến thành phố Hải Phòng. P gửi lại toàn bộ thông tin trên cho T2 và dặn T2 chủ động liên lạc với nhà xe để nhận hàng. Sáng ngày 27/6/2024, T2 bảo Trọng gọi đến số điện thoại 0913.374.xxx thì được anh chủ xe là Vũ Văn C3, sinh năm 1977, trú tại: Thôn G, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng cho T số điện thoại 0906.122.xxx của anh Ngô Tư P1, sinh năm 1996, trú tại: Xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng là phụ xe khách trên. Trọng liên lạc thì được anh P1 thông báo khoảng 10 giờ cùng ngày ô tô về đến thành phố Hải Phòng. Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, anh P1 báo T ra nhận hàng tại văn phòng số A đường T, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng. T đi taxi sang nhà T2 rồi điều khiển xe mô tô BKS 15AS-072.82 chở T2 đến điểm hẹn để nhận hàng. Khi T2, T vừa nhận hàng thì bị cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
2. Về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của Nguyễn Thanh P và hành vi “Không tố giác tội phạm” của Lê Thị C
Do nghiện ma tuý nên trước khi bị bắt khoảng 01 đến 02 tháng P mua của D1 10 gam ma tuý đá với giá 700.000 đồng/01 gam, P đã sử dụng gần hết, còn lại một ít P để quên trong tủ quần áo. Do việc giao dịch mua ma túy của D1 không kịp thời, phí vận chuyển cao nên đêm ngày 25/6/2024, P liên hệ qua ứng dụng Telegram mua 20 gam ma tuý đá và 90 viên hồng phiến với giá 600.000 đồng/01 gam ma tuý đá và 60.000 đồng/01 viên hồng phiến, hết tổng số tiền là 17.400.000 đồng của một người phụ nữ tên T4 (không rõ nhân thân lai lịch), hai người giao nhận ma túy và tiền mặt ở đường B, phường P, quận I, thành phố Hồ Chí Minh, T4 cho P thêm 6 đến 7 viên hồng phiến. P mang ma túy mua của T4 về nơi ở tại căn hộ B.10.10 - Số F đường D, Dự án Khu dân cư và công viên P, KP27, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh sử dụng dần, mỗi ngày P sử dụng hết khoảng 03 viên hồng phiến trộn với khoảng 01 gam ma tuý đá, đến ngày 29/6/2024, P đã sử dụng hết khoảng 05 gam ma tuý đá và khoảng 15 viên hồng phiến, còn lại khoảng 15 gam ma tuý đá và hơn 80 viên hồng phiến. Lúc này thông qua các mối quan hệ xã hội, P biết Phạm Văn T2 đã bị bắt về hành vi vận chuyển ma tuý do D1 thuê nên P rủ bạn gái là Lê Thị C đi đến Vũng Tàu mục đích vừa để du lịch, vừa nghe ngóng tình hình. Trước khi di chuyển từ thành phố Hồ Chí Minh đi Vũng Tàu, P cho toàn bộ số ma tuý đá vào trong vỏ bao thuốc lá màu đỏ và các viên hồng phiến vào trong túi nilon rồi cất giữ trong túi quần mặc trên người, lúc đó C đang ở cạnh P nên C biết rõ việc P cất giấu ma tuý để sử dụng. Khi P thuê căn hộ 9.49, tòa nhà T, B T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để ở cùng C. P bỏ ma tuý vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để trên mặt bàn phòng ngủ sử dụng. Đến khoảng 05 giờ sáng ngày 01/7/2024, C thức dậy tự ý sử dụng một ít ma tuý trong bộ dụng cụ do P để trên mặt bàn rồi ngủ tiếp. Khoảng 08 giờ sáng cả hai ra ngoài đi ăn, đến khoảng 10 giờ khi C, P vừa quay lại căn hộ thì cơ quan Công an đến triệu tập và khám xét nơi lưu trú trên của P, thu giữ toàn bộ số ma tuý đá, hồng phiến P cất giữ chưa sử dụng hết.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 249/2025/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
- - Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh P. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P tù chung thân về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; 09 (C4) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội là tù chung thân. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 02/7/2024.
- - Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình T. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2024.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 390, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thị C. Xử phạt bị cáo Lê Thị C 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm”. Được trừ đi thời gian tạm giam, tạm giữ. Bị cáo còn phải chấp hành thời gian còn lại, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt 20 năm tù đối với bị cáo Phạm Văn T2 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
- - Ngày 03/9/2025, bị cáo Lê Thị C có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
- - Ngày 04/9/2025, bị cáo Nguyễn Thanh P, có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
- - Ngày 09 tháng 9 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyết định kháng nghị số 07/QĐ-VKS-P1 với nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thanh P từ mức án tù chung thân xuống mức án 20 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
- - Ngày 10/9/2025, bị cáo Nguyễn Đình T có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng. Gia đình bị cáo Nguyễn Thanh P và bị cáo Lê Thị C xuất trình biên lai thu số 0000658 ngày 11/9/2025; biên lai thu số 0000660 và biên lai thu tiền số 0000628 ngày 09/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng thể hiện bà Vũ Thị H1 nộp thay cho bị cáo Nguyễn Thanh P số tiền phạt bổ sung 20.000.000 đồng, nộp thay cho bị cáo Nguyễn Thanh P và Lê Thị C mỗi người số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm. Bị cáo Lê Thị C còn xuất trình thêm Đơn xin xác nhận thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính, một mình nuôi 03 con nhỏ có xác nhận của UBND xã Đ, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội có quan điểm: Bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xét xử bị cáo Nguyễn Thanh P, Nguyễn Đình T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”; bị cáo Lê Thị C về tội “Không tố giác tội phạm” là đúng người, đúng tội, không oan. Đơn kháng cáo của các bị cáo, kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P, kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
+ Đối với tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”: Ngày 25/6/2025 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự theo đó đã bỏ hình phạt tử hình đối với tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tổng khối lượng các chất ma túy các bị cáo vận chuyển trong vụ án này sẽ là 415,13 gam. Theo quy định tại Luật số 86/2025/QH15 thì người nào vận chuyển ma túy (Heroine, C5, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11) có khối lượng từ 100 gam trở lên thì bị xử phạt tù 20 năm hoặc chung thân. Xét thấy khối lượng ma túy thu giữ là 415,13 gam nên có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo P.
+ Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam); bị cáo tàng trữ 23,65 gam Methamphetamine ở mức gần tối đa nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 09 năm tù là đúng pháp luật. Do đó không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Đối với kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đình T: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và quyết định hình phạt 20 năm tù đối với bị cáo Nguyễn Đình T là đúng pháp luật, không nặng. Bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Đối với kháng cáo của của bị cáo Lê Thị C đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá nhân thân, tinh chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối” xử phạt bị cáo 12 tháng tù là phù hợp, không nặng. Tuy nhiên bị cáo C chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm là tội phạm ít nghiêm trọng nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, cụ thể: Bị cáo là lao động chính (chồng đã ly hôn) đang nuôi 03 con nhỏ; hoàn cảnh kinh tế khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; trình độ học vấn thấp (1/12) nên nhận thức pháp luật hạn chế; ông, bà nội là người có công với cách mạng, bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội tạo cơ hội cho bị cáo được cải tạo tại nơi cư trú, chăm sóc con cái là phù hợp, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta. Do vậy có căn cứ chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo (giữ nguyên mức hình phạt 12 thánh tù nhưng cho hưởng án treo).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh P có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo P.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình T: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để chấp nhận nội dung kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trong thời hạn, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của thành phố Hải Phòng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định ... Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
- [3.1] Từ chiều ngày 25/6/2024 đến 10 giờ 00 phút ngày 27/6/2024, tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hải Phòng, Nguyễn Thanh P, Phạm Văn T2, Nguyễn Đình T có sự bàn bạc và cùng thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 230,82 gam ma tuý loại Methamphetamine; 85,03 gam ma tuý loại MDMA và 99,28 gam ma tuý loại Ketamine từ thành phố Hồ Chí Minh về thành phố Hải Phòng để được trả công 30.000.000 đồng và 30 gam ma túy đá; khi T2, T vừa nhận ma tuý thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
- [3.2] Ngày 01/7/2024, Nguyễn Thanh P có hành vi tàng trữ 23,65 gam ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng, bị cơ quan Công an phát hiện, thu giữ vật chứng. Quá trình điều tra và tại các phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh P, Lê Thị C thừa nhận: Do nghiện ma túy, đêm ngày 25/6/2024 P đã mua 20 gam ma tuý đá và 90 viên hồng phiến với giá 600.000 đồng/01 gam ma tuý đá và 60.000 đồng/01 viên hồng phiến, hết tổng số tiền là 17.400.000 đồng của một người phụ nữ tên T4 (không rõ nhân thân lai lịch), T4 cho Nguyễn Thanh P thêm 6 đến 7 viên hồng phiến. P mang ma túy mua của T4 về nơi ở tại căn hộ B.10.10 - Số F đường D, dự án Khu dân cư và công viên P, KP27, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh sử dụng dần. Đến ngày 29/6/2024, Nguyễn Thanh P đã sử dụng hết khoảng 05 gam ma tuý đá và khoảng 15 viên hồng phiến, còn lại khoảng 15 gam ma tuý đá và hơn 80 viên hồng phiến. Nguyễn Thanh P biết Phạm Văn T2 đã bị bắt về hành vi vận chuyển ma tuý do D1 thuê nên Nguyễn Thanh P rủ bạn gái là Lê Thị C đi thành phố V mục đích vừa để du lịch, vừa nghe ngóng tình hình. Nguyễn Thanh P cho toàn bộ số ma tuý đá vào trong vỏ bao thuốc lá màu đỏ và các viên hồng phiến vào trong túi nilon rồi cất giữ trong túi quần. Lê Thị C biết rõ việc P cất giấu ma tuý là để sử dụng. P thuê căn hộ 9.49, tòa nhà T, B T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để ở cùng Lê Thị C và sử dụng ma túy thì bị cơ quan Công an đến triệu tập và khám xét nơi lưu trú và nơi cư trú của Nguyễn Thanh P, thu giữ toàn bộ số ma tuý đá, hồng phiến P cất giữ chưa sử dụng hết. Hành vi của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Thị C biết rõ Nguyễn Thanh P đang cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật mà không thực hiện hành vi tố giác, khi ở cùng P, lúc thức dậy C còn có hành vi sử dụng số ma túy của Nguyễn ThanhPhương mang theo.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Nguyễn Thanh P và Nguyễn Đình T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025; bị cáo Lê Thị C về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P về việc giảm nhẹ hình phạt: Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội thuộc trừng hợp đồng phạm giản đơn, P tiếp nhận ý chí của đối tượng tên D1 về việc vận chuyển trái phép chất ma túy và gọi điện thoại bàn bạc với T2 và T cùng thực hiện để được trả công bằng tiền và ma túy từ D1; P không trực tiếp tham gia việc vận chuyển ma túy, còn Phạm Văn T2 và Nguyễn Đình T là người trực tiếp nhận hàng do đối tượng có tên là D1 gửi về thành phố Hải Phòng. Ngoài ra, cả ba bị cáo cũng thỏa thuận sẽ hưởng ngang bằng nhau đối với số tiền và ma túy do D1 sẽ trả nên cần xác định các bị cáo có vai trò, trách nhiệm ngang nhau trong vụ án. Mặt khác, theo quy định tại Luật số 86/2025/QH15 thì người nào vận chuyển ma túy (Heroine, C5, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11) có khối lượng từ 100 gam trở lên thì bị xử phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân. Tổng khối lượng các chất ma túy (Methamphetamine, MDMA và Ketamine) các bị cáo vận chuyển là 415,13 gam, do đó mức hình phạt tù chung thân - mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” áp dụng với bị cáo Nguyễn Thanh P là có phần nghiêm khắc. Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo đã xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo đã tác động gia đình nộp ngân sách số tiền 20.000.000 đồng phạt bổ sung và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm thể hiện bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P cũng như quan điểm của Kiểm sát viên, của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở tội danh này.
Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Bị cáo Nguyễn Thanh P có hành vi tàng trữ 23,65 gam ma tuý loại Methamphetamine theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Luật số 86/2025/QH15 thì người nào tàng trữ ma túy (Heroine, C5, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11) có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 năm tù là đúng pháp luật, không nặng. Do đó không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P đề nghị giảm nhẹ hình phạt về tội danh này.
[6] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T về việc giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 03 lần bị kết án nhưng vẫn không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân, nay lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Khối lượng các chất ma túy mà bị cáo tham gia cùng các đồng phạm khác vận chuyển trái phép là 415,13 gam. Bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mặt khác trong vụ án này thì bị cáo T bị bắt quả tang cùng bị cáo T2 khi đang nhận ma túy nên mức độ giảm nhẹ hình phạt cũng có mức độ. Mức hình phạt 20 năm tù mà tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
[7] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Thị C:
- [7.1] Kháng cáo về việc được giảm nhẹ hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Do đó mức hình phạt tù 12 tháng mà tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là mức thấp của khung hình phạt, không nặng. Vì vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
- [7.2] Kháng cáo về việc được hưởng án treo: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tội phạm mà bị cáo thực hiện cũng là tội ít nghiêm trọng. Ngoài ra, bị cáo đã ly hôn hiện đang một mình phải nuôi 03 con nhỏ. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị cáo và chuyển hình phạt 12 tháng tù tại quyết định của bản án sơ thẩm thành hình phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đồng thời ấn định một thời gian thử thách theo quy định và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- [6] Căn cứ quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án: Bị cáo không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo được chấp nhận kháng cáo sẽ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c, khoản 1, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P về việc giảm nhẹ hình phạt. Sửa quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 249/2025/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Thanh P như sau:
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 20 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; 09 (chín) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội là 29 (hai mươi chín) năm tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 02/7/2024.
-
Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T. Giữ nguyên quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 249/2025/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Đình T như sau:
Căn cứ điểm h, khoản 4, Điều 250; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 20 (hai mươi) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2024.
-
Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm e, khoản 1, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị C về việc được hưởng án treo. Sửa quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 249/2025/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Lê Thị C như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 390, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị C 12 (mười hai) tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/11/2025). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Lê Thị C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp bị cáo phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
-
Bị cáo Nguyễn Thanh P và Lê Thị C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
-
Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thanh P đã nộp 20.000.000 (Hai mươi triệu đồng) tiền phạt bổ sung theo biên lai thu tiền số 0000658 ngày 11/9/2025 và 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0000628 ngày 09/9/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng (bà Vũ Thị H1 mẹ bị cáo P nộp thay).
-
Ghi nhận bị cáo Lê Thị C đã nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0000660 ngày 11/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hải Thanh |
Bản án số 511/2025/HS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA PHÚC THẨM TAND TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về vận chuyển trái phép chất ma tuý, tàng trữ trái phép chất ma tuý, không tố giác tội phạm
- Số bản án: 511/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma tuý, Tàng trữ trái phép chất ma tuý, Không tố giác tội phạm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TAND TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vận chuyển trái phép chất ma tuý
