TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 511/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 8 - 2024
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi
con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Dương Văn Luỹ
- Bà Nguyễn Thị Kim Uyên
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 337/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 369/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Tô Văn N, sinh năm 1984.
- Bị đơn: Bà Ngô Thị Mỹ D, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: số 1878, tổ D, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: tổ B, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
( ông N và bà D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 17/5/2024 bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn ông Tô Văn N trình bày:
Qua mai mối ông N và bà D sau thời gian tìm hiểu nhau, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, thành phố C, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 49, ngày 13/11/2019. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau, chủ yếu về việc tiền bạc, kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung và bà D bỏ đi, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, không hàn gắn; hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với bà Ngô Thị Mỹ D.
Về con chung: ông N và bà D có 01 con chung tên Tô Hoài N1, sinh ngày 10/10/2012 hiện đang sống với ông N; yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không có ý kiến nào khác.
Bị đơn bà Ngô Thị Mỹ D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Hôn nhân của ông N, bà D được xác lập trên cơ sở tự tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hàn gắn được sau thời gian dài ly thân, mục đích hôn nhân không đạt được nay yêu cầu ly hôn với bà D nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: ông N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà D và yêu cầu nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: bà Ngô Thị Mỹ D là bị đơn có nơi cư trú tại ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Ông N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà D đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: ông N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà D. Xét chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện, hôn nhân của ông, bà được xác lập năm 2019 trên cơ sở tự tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng đã ly thân từ 2022 đến nay, không hàn gắn được tình cảm vợ chồng sau thời gian dài ly thân mà ông bà mỗi người sinh sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, từ đó tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, ông N yêu cầu ly hôn là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: ông bà có 01 con chung tên Tô Hoài N1, sinh ngày 10/10/2012, hiện do anh N nuôi dưỡng. Xét, từ khi ly thân đến nay cháu N1 do ông N trực tiếp chăm sóc, giáo dục, đảm bảo phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và cháu có nguyện vọng sống với cha; nên căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần giao con chung cho ông N tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến thành niên hoặc tự lập được, bà D không phải cấp dưỡng cho con. Ông N phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi bà D đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.
Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Mặt khác, nếu có căn cứ cho rằng, ông N không còn đảm bảo các điều kiện nuôi dạy con hoặc có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con thì bà D có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Ghi nhận lời trình bày của đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì ông, bà phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: ông N phải chịu án phí theo qui định pháp luật. Bà D không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tô Văn N.
- Về hôn nhân: ông Tô Văn N được ly hôn với bà Ngô Thị Mỹ D.
- Về con chung: Giao cho ông Tô Văn N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Tô Hoài N1, sinh ngày 10/10/2012 đến thành niên hoặc tự lập được; bà Ngô Thị Mỹ D không phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Tô Văn N phải chịu án phí hôn nhân, gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006640 ngày 17/5/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (đã nộp đủ). Bà Ngô Thị Mỹ D không phải chịu án phí.
Ông Tô Văn N phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi bà D đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.
Đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Bích Tuyền |
Bản án số 511/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn và nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 511/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông Tô Văn N được ly hôn với bà Ngô Thị Mỹ D.
