|
TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 511/2025/HS-PT Ngày: 30 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Duyên
Ông Vũ Đức Toàn
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Văn Khánh, Thư ký Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn N - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 470/2025/TLPT-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo Ngô Quốc V, Tô Mỹ T, Kiều Thị Tố Q, Trần Thị Ngọc Bdo có kháng cáo của các bị cáo trên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2025/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các bị cáo có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:
1. Ngô Quốc V; sinh năm 1977, tại tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký thường trú: Khóm C, Phường G, Thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là phường T, tỉnh Cà Mau); nơi cư trú: Phòng A MB5, Chung cư M, đường số A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: nguyên Phó Tổng Giám đốc Công ty Q1; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn N1 (đã chết) và bà Phùng Kim T1; vợ là: bà Nguyễn Kim N2; con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Tô Mỹ T; sinh năm 1982, tại tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký thường trú: ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau (nay là xã P, tỉnh Cà Mau); nơi cư trú: Khóm A, Phường A, Thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là phường A, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Trưởng phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu Công ty Q1; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc; Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tô Hùng D và bà Trần Thị P; chồng là: ông Hàng Hữu H; con: có 02 người, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
3. Kiều Thị Tố Q; sinh năm 1990, tại tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký thường trú: ấp X, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là xã Đ, tỉnh Cà Mau); nơi cư trú: Số B P, Khóm F, Phường G, Thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là phường T, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: nguyên nhân viên Công ty Q1; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Văn D1 và bà Huỳnh Thị Kim G; chồng là: ông Nguyễn Thanh T2; con: có 01 người, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
4. Trần Thị Ngọc B; sinh năm 1991, tại tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số B, Khóm B, Phường B, Thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường A, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Nguyên nhân viên Công ty Q1, trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Nguyên N3 và bà: Nguyễn Thị Bé T3; chồng là: ông Phan Công N4; con: có 01 người, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Quốc V: Ông Nguyễn Ngọc P1, là Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Ngô Quốc V. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 02/6/2023, Cục Đ3 có Công văn số 592/ĐTCBL-Đ3 ngày 02/6/2023 gửi Cục A1 kinh tế Bộ C2 kiến nghị điều tra, làm rõ hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật của Công ty Q1 trong quá trình vay chiết khấu tại Ngân hàng TMCP Đ4 Chi nhánh Đ5 (B1 Đất Mũi). Đến ngày 17/01/2024, Cục A1 kinh tế Bộ C2 ra Quyết định số 454/QĐ-ANKT-ANDNNNN khởi tố vụ án “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” xảy ra tại Công ty Q1; sau đó, vụ án được chuyển đến Cơ quan ANĐT Bộ C2 để điều tra hành vi phạm tội của các bị can cụ thể như sau:
1. Hành vi làm giả 355 chứng từ “Danh sách Container đủ điều kiện qua khu vực giám sát hải quan” của các bị can Ngô Quốc V, Tô Mỹ T, Kiều Thị Tố Q và Trần Thị Ngọc B: Công ty Q1 được thành lập vào ngày 11/3/1998, do ông Ngô Văn N1 (cha của Ngô Quốc V) làm Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám Đốc, người đại diện theo pháp luật (ông N1 đã chết ngày 30/8/2022). Từ tháng 4/2023 đến tháng 12/2023, Công ty Q1 do ông Ngô Quốc K làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, đại diện theo pháp luật; từ tháng 12/2023 đến nay, do ông Trần Chí T4 làm Tổng Giám đốc, đại diện theo pháp luật. Công ty Q1 hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu thủy sản; trụ sở chính tại: Số D đường L, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Văn phòng đại diện tại B N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (đã tạm dừng hoạt động); vốn điều lệ 2.922.274.810.000 đồng.
Để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty Q1 đã ký Hợp đồng tín dụng số 28/2015/1199590/HĐTD ngày 28/5/2015 với B1; thời hạn 12 tháng kể từ ngày cấp tín dụng; hạn mức 1.200 tỷ đồng, bao gồm: vay ngắn hạn, vay chiết khấu và mở L; trong đó, vay theo hình thức “Chiết khấu hối phiếu đòi nợ”. Để có nguồn vốn chi trả mua tôm nguyên liệu, mua các phụ phẩm chế biến tôm xuất khẩu cho các đối tác nước ngoài, từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/7/2016, Công ty Q1 đã vay chiết khấu tại B1 Đất Mũi với 462 bộ hồ sơ, tổng số 51.081.300 USD (tương đương 1.117.590.407.100 đồng) theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 0028/2015/1199590/HĐTD ngày 28/5/2015; các khoản vay chiết khấu này và hợp đồng tín dụng hạn mức nêu trên đã được tất toán và được Công ty Q1 thay thế bằng Hợp đồng tín dụng hạn mức số 1252/2016/1199590/HĐTD, ngày 28/7/2016 hạn mức 1.200 tỷ đồng. Thời điểm giải quyết cho Công ty Q1 vay chiết khấu, B1 Đất Mũi áp dụng Quy định số 8487/QĐ-PTSPBB ngày 19/12/2014 về chiết khấu Hối phiếu đòi nợ kèm bộ chứng từ xuất khẩu và Công văn số 2621/CV- PTSPBB ngày 25/4/2014 của Hội sở chính B1 để chiết khấu cho Công ty Q1 vay tiền theo cơ chế chiết khấu đặc thù.
Theo đó, bộ hồ sơ B1 chiết khấu cho Công ty Q1 vay tiền bao gồm: Bản gốc Giấy chứng nhận kiêm hợp đồng chiết khấu, hối phiếu, hợp đồng mua bán, hóa đơn, phiếu đóng gói, giấy chứng nhận sức khỏe, giấy chứng nhận,.... bản photo hoặc fax tờ khai hải quan, vận đơn nháp, danh sách container đủ điều kiện qua vực giám sát hải quan của Cục Hải quan Thành phố H (gọi tắt là “Danh sách container"). Do chứng từ “Danh sách container" trong bộ hồ sơ xuất khẩu có xác nhận hải quan thường chậm hơn so với thời điểm lập bộ hồ sơ chiết khấu từ 07-10 ngày, trong khi đó, Công ty Q1 được Hội sở chính B1 áp dụng cơ chế đặc thù, chấp nhận chiết khấu khi bộ hồ sơ có chứng từ “Danh sách container” là bản photo hoặc bản fax nên ông Ngô Văn N1 và bị can Ngô Quốc V đã chỉ đạo bị can Tô Mỹ T làm giả chứng từ “Danh sách container” đối với những lô hàng đang chuẩn bị đóng container xuất khẩu để được chiết khấu sớm tại B1 Đất Mũi từ 07 ngày đến 10 ngày so với thời điểm có chứng từ “Danh sách container” thật. Trong đó, ông Ngô Văn N1 và bị can Ngô Quốc V, Phó Tổng Giám đốc chỉ đạo làm giả chứng từ (bằng cách thức chỉ đạo trực tiếp tại phòng làm việc, gọi điện thoại, gửi email cho bị can Tô Mỹ T). Sau đó, bị can Tô Mỹ T chỉ đạo, hướng dẫn và trực tiếp cùng bị can Trần Thị Ngọc B, Kiều Thị Tố Q làm giả 355 chứng từ “Danh sách container” (Phụ lục 1) bằng hai cách như sau:
Cách thứ nhất: Cắt, dán con dấu, chữ ký của công chức hải quan thuộc Cục Hải quan Thành phố H từ một chứng từ “Danh sách container” thật có sẵn trước đó, sau đó dán vào bản phôi “Danh sách container" giả; in và đóng dấu ngày tháng năm tại mục “xác nhận của bộ phận giám sát công khu vực giám sát” trên bản “Danh sách container" giả.
Cách thứ hai: Scan chữ ký, con dấu của công chức hải quan thuộc Cục Hải Thành phố H vào máy tính; sau đó, sử dụng phần mềm máy tính để cắt, dán con dấu, chữ ký trên vào bản mềm phôi “Danh sách container” giả, in và đóng dấu ngày tháng năm tại mục “xác nhận của bộ phận giám sát công khu vực giám sát” trên bản “Danh sách container" giả.
Sau khi hoàn thành việc làm giả, Tô Mỹ T kiểm tra trước khi B, Q fax chứng từ “Danh sách container” giả này cho B1 Đất Mũi để chiết khấu.
Với cách thức, thủ đoạn nêu trên, từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/7/2016, ông Ngô Văn N1 và bị can Ngô Quốc V đã chỉ đạo bị can Tô Mỹ T, Trần Thị Ngọc B, Kiều Thị Tố Q làm giả tổng cộng 355/462 chứng từ “Danh sách container” với tổng trị giá 37.014.600 USD (tương đương 809.684.684.200 đồng) đề chiết khấu sớm tại B1 Đất Mũi. Trong đó, ông Ngô Văn N1 chỉ đạo làm giả 295/355 chứng từ, bị can Ngô Quốc V chỉ đạo làm giả 60/355 chứng từ; bị can Tô Mỹ T trực tiếp làm giả 41/355 chứng từ và T chỉ đạo bị can Trần Thị Ngọc B làm giả 284/355 chứng từ, bị can Kiều Thị Tố Q làm giả 30/355 chứng từ. Ngày 03/7/2024, các bị can Tô Mỹ T, Trần Thị Ngọc B và Kiều Thị Tố Q đã thực nghiệm điều tra việc làm giả 355 chứng từ “Danh sách container”. Kết quả các bị can đã thực hiện được việc làm giả các chứng từ là phù hợp với lời khai, tài liệu chứng cứ của vụ án.
Quá trình điều tra, bị can Ngô Quốc V khai việc chỉ đạo làm giả chứng từ “Danh sách container” còn có sự tham gia của ông Ngô Quốc K, Phó Tổng Giám đốc. Tuy nhiên, ngoài lời khai của Ngô Quốc V, Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT) Bộ C2 không thu thập thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác.
Do Công văn số 2621/CV-PTSPBB ngày 25/4/2014 của B1 không yêu cầu Công ty Q1 cung cấp bản gốc hoặc đối chiếu với bản gốc chứng từ “Danh sách container" khi chiết khấu, nên khi nhận được bộ hồ sơ chiết khấu, B1, gồm: Bà Trịnh Thị Hồng V1, Giám đốc, ông Trần Minh Đ, Phó Giám đốc, ông Mã Thế P2, Phó Giám đốc và các cán bộ Phòng Khách hàng doanh nghiệp và Phòng Quản trị tín dụng gồm: Bà Võ Thị Xuân Đ1, bà Phạm Thảo N5, ông Đoàn Văn X, ông Nguyễn Thanh T5, ông Quách Hoàng Hải Đ2, bà Lê Thị Hoàng U, ông Vũ Nhật K1, bà Nguyễn Thị Minh C, ông Đoàn Minh C1 Cảnh, bà Nguyễn Thị Ú, ông Ong Đức H1, ông Trần Anh D2, ông Diệp Thanh H2 và ông Nguyễn Văn L1 đã thực hiện chiết khấu cho Công ty Q1 vay tiền. Mặt khác, các cá nhân trong BIDV Đất Mũi không biết việc các bị can nêu trên làm giả chứng từ “Danh sách container” để vay chiết khấu, các bị can và người liên quan trong Công ty Q1 không trao đổi, bàn bạc, thống nhất việc làm giả chứng từ nêu trên với các cá nhân trong BIDV Đất Mũi.
2. Dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc vay vốn và sử dụng vốn vay của Công ty Q1 tại B1 Đất Mũi:
Sau khi tất toán khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 28/2015/1199590/HĐTD ngày 28/5/2015, hạn mức 1.200 tỷ đồng (liên quan đến 355 tài liệu giả nêu trên), Công ty Q1 tiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số 1252/2016/1199590/HĐTD, hạn mức 1.200 tỷ đồng, hợp đồng này cũng đã được tất toán.
Để bổ sung vốn lưu động, Công ty Q1 tiếp tục vay 02 khoản tại B1 (HĐTDHM số 0026/2017/1199590/HĐTD ký ngày 06/9/2017 và HĐTDHM số 0027/2018/1199590/HĐTD ký ngày 05/9/2018), còn dư nợ gốc là 31,4 triệu USD. Kết quả điều tra xác định, đối với 02 khoản vay này, có dấu hiệu lập khống 02 Hợp đồng kinh tế, các hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ kèm theo giữa Công ty Q1 và Công ty P3; dấu hiệu việc làm sai lệch chứng thư thẩm định của V2 tại Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thẩm định tài sản để Công ty Q1 dùng làm tài sản thế chấp tại B1.
Để làm rõ sai phạm, Cơ quan ANĐT Bộ C2 đã ra Quyết định số 641/QĐ-ANĐT-VP.C3 trưng cầu Giám định viên Ngân hàng N6 giám định việc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, phê duyệt cho vay của B1; Yêu cầu số 3037/YC- ANĐT-VP.C3 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Cà Mau định giá tài sản đảm bảo của khoản vay theo 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên. Tuy nhiên, đến nay chưa có kết quả định giá, giám định. Ngoài ra, Công ty Q1 đang dư nợ xấu (nhóm 5) tại V3 là 33,6 triệu USD và 590 tỷ đồng; dư nợ tại P4 là 9,8 triệu USD.
Do hết thời hạn điều tra vụ án mà chưa có kết quả giám định, định giá tài sản nên Cơ quan ANĐT Bộ C2 tách hành vi, tài liệu lập khống hợp đồng kinh tế, hóa đơn giá trị gia tăng với mục đích hợp thức hồ sơ tài sản đảm bảo tại B1 Đất Mũi và dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc thẩm định, phê duyệt cho vay của B1, V3, P4 và việc sử dụng vốn vay của Công ty Q1 để giải quyết theo Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT- VLSNDTC ngày 29/12/2017 để điều tra, xử lý sau.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan ANĐT Bộ C2 xác định việc Hội sở chính B1 ban hành văn bản số 2621/CV-PTSPBB ngày 25/4/2014 áp dụng cơ chế đặc thù, chấp thuận chiết khấu cho Công ty Q1 vay tiền khi bộ chứng từ xuất khẩu có một số chứng từ là bản photo hoặc bản fax, đây là văn bản nội bộ của B1 không có việc thông đồng vu lợi, tạo điều kiện trong quá trình ban hành văn bản nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm.
Tuy nhiên, việc Hội sở chính B1 ban hành văn bản chiết khấu đặc thù cho Công ty Q1 vay tiền khi bộ chứng từ xuất khẩu có một số chứng từ là bản photo hoặc bản fax, đó là nguyên nhân dẫn đến việc Công ty Q1 lợi dụng những sơ hở trên, làm giả chứng từ “Danh sách container” để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Cơ quan ANĐT Bộ C2 kiến nghị B1 rà soát, chấn chỉnh trong việc ban hành văn bản, tránh để tổ chức, cá nhân lợi dụng thực hiện hành vi phạm tội tương tự.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Ngô Quốc V, Tô Mỹ T, Kiều Thị Tố Q và Trần Thị Ngọc B khai nhận hành vi như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác.
Tại bản Cáo trạng số 9417/CT-VKSTC-V1 ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã truy tố các bị cáo Ngô Quốc Việt, Tô Mỹ Thoa, Kiều Thị Tố Quyên và Trần Thị Ngọc B về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2025/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Ngô Quốc V 05 (năm) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Tô Mỹ T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt: bị cáo Kiều Thị Tố Q 02 (hai) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt: bị cáo Trần Thị Ngọc B 02 (hai) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28 tháng 4 năm 2025, các bị cáo Trần Thị Ngọc B, Kiều Thị Tố Q, Tô Mỹ T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Ngày 06 tháng 5 năm 2025, bị cáo Ngô Quốc V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Ngô quốc V và Luật sư Nguyễn Ngọc P1 bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo giữ vai trò cố vấn cho Hội đồng quản trị đưa ra nhưng phương án chính sách, phương án tốt nhất để thúc đẩy kinh doanh, đề xuất Công ty Q1 giữ truyền thống phát huy chính sách an sinh xã hội tại địa phương góp phần giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn tại địa phương được Ủy ban nhân dân phường T gửi thư cảm ơn, có gửi kinh phí xây cầu nông thôn tại ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau tổng giá trị là 410.000.000 đồng cũng như tặng các suất học bổng cho các em có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội, mỗi suất học bổng trị giá 700.000 đồng, hỗ trợ nhiều cho chính quyền địa phương, được Ủy ban nhân dân tỉnh C tặng bằng khen theo Quyết định số 01076 ngày 22/9/2025 về việc có thành tích hỗ trợ kinh phí xây cầu nông thôn, tặng 39 suất học bổng, ngoài ra bị cáo còn là trụ cột chính trong gia đình, phụng dưỡng mẹ già, là lao động chính trong gia đình.
- Bị cáo Tô Mỹ T trình bày: bị cáo lần đầu phạm tội, gia đình bị cáo có công với cách mạng, con còn nhỏ bị bệnh tự kỷ không thể tự chăm sóc bản thân, gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo tham gia đóng góp, ủng hộ vào phong trào thiện nguyện nơi bị cáo ở và được Ủy ban nhân dân phường xác nhận.
- Bị cáo Kiều Thị Tố Q trình bày: bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo tham gia đóng góp, ủng hộ các quỹ thiện nguyện cho xã hội được các phường xác nhận, bị cáo đang có con nhỏ 29 tháng tuổi.
- Bị cáo trần Thị Ngọc B trình bày: bị cáo có con nhỏ hiện tại con bị cáo mới được 05 tuổi. Bị cáo có được Ủy ban tặng bằng khen khi góp gạo và sách vở ủng hộ các quỹ thiện nguyện được Ủy ban ghi nhận, bị cáo có thân nhân tốt, trước đây chưa phạm tội.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.
Về nội dung: Qua đối chiếu hồ sơ vụ án, Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Thị Ngọc B, Kiều Thị Tố Q, Tô Mỹ T và Ngô Quốc V. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được căn cứ, tài liệu, chứng cứ gì mới làm thay đổi nội dung vụ án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Trần Thị Ngọc B, Kiều Thị Tố Q, Tô Mỹ T và Ngô Quốc V có Đơn kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2025/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét Đơn kháng cáo của các bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định nên được xem xét, xét xử theo thủ tục phúc thẩm quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo Trần Thị Ngọc B, Kiều Thị Tố Q, Tô Mỹ T và Ngô Quốc V thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo Ngô Quốc V giữ chức vụ Phó Tổng Giám đốc của Công ty Q1. Công ty Q1 hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu thủy sản. Để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty Q1 đã ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng B1 Đất Mũi để vay theo hình thức “Chiết khấu hối phiếu đòi nợ”. Thời điểm giải quyết cho Công ty Q1 vay chiết khấu, Ngân hàng B1 Đất Mũi áp dụng Quy định số 8487/QĐ-PTSPBB ngày 19/12/2014 về chiết khấu Hối phiếu đòi nợ kèm bộ chứng từ xuất khẩu và Công văn số 2621/CV-PTSPBB ngày 25/4/2014 của Hội sở chính B1 để chiết khấu cho Công ty Q1 vay tiền theo cơ chế chiết khấu đặc thù. Theo đúng quy định thì bộ hồ sơ B1 chiết khấu cho Công ty Q1 vay tiền bao gồm: Bản gốc Giấy chứng nhận kiêm hợp đồng chiết khấu, hối phiếu, hợp đồng mua bán, hóa đơn, phiếu đóng gói, giấy chứng nhận sức khỏe, giấy chứng nhận.... bản photo hoặc fax tờ khai hải quan, vận đơn nháp, danh sách container đủ điều kiện qua khu vực giám sát hải quan của Cục Hải quan Thành phố H.
Tuy nhiên do Công ty Q1 được Hội sở chính B1 áp dụng cơ chế đặc thù, chấp nhận chiết khấu khi bộ hồ sơ có chứng từ “Danh sách container” là bản photo hoặc bản fax, đồng thời do chứng từ “Danh sách container” trong bộ hồ sơ xuất khẩu có xác nhận hải quan bị chậm hơn so với thời điểm lập bộ hồ sơ chiết khấu, nên ông Ngô Văn N1 và bị cáo Ngô Quốc V đã gọi điện thoại, gửi email, chỉ đạo trực tiếp bị cáo Tô Mỹ T tại phòng làm việc, để bị cáo T làm giả chứng từ “Danh sách container” đối với những lô hàng đang chuẩn bị đóng container xuất khẩu, nhằm mục đích được chiết khấu sớm tại Ngân hàng B1 Đất Mũi từ 07 - 10 ngày so với thời điểm có chứng từ “Danh sách container” thật. Trong đó ông Ngô Văn N1 đã chỉ đạo làm giả 295/355 chứng từ, còn bị cáo Ngô Quốc V chỉ đạo làm giả 60/355 chứng từ.
Sau khi nhận chỉ đạo từ bị cáo Ngô Quốc V, bị cáo Tô Mỹ T đã trực tiếp làm giả 41/355 chứng từ “Danh sách container” và chỉ đạo bị cáo Trần Thị Ngọc B làm giả 284/355 chứng từ, bị cáo Kiều Thị Tố Q làm giả 30/355 chứng từ “Danh sách container" bằng cách: Cắt, dán con dấu, chữ ký của công chức hải quan thuộc Cục Hải quan Thành phố H từ một chứng từ “Danh sách container” thật có sẵn trước đó, sau đó dán vào bản phôi “Danh sách container" giả; in và đóng dấu ngày tháng năm tại mục “xác nhận của bộ phận giám sát công khu vực giám sát” trên bản “Danh sách container” giả; hoặc scan chữ ký, con dấu của công chức hải thuộc Cục Hải quan Thành phố H vào máy tính; sau đó, sử dụng phần mềm máy tính để cắt, dán con dấu, chữ ký trên vào bản mềm phôi “Danh sách container" giả, in và đóng dấu ngày tháng năm tại mục “xác nhận của bộ phận giám sát công khu vực giám sát" trên bản “Danh sách container” giả, với mục đích để Công ty Q1 fax cho B1 Đất Mũi cùng bộ hồ sơ để được hưởng chiết khấu với tổng số tiền 809.684.684.200 đồng.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Ngô Quốc V, Tô Mỹ T, Kiều Thị Tố Q và Trần Thị Ngọc B về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, thuộc trường hợp “Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên”, là đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của các bị cáo Ngô Quốc V, Tô Mỹ T, Kiều Thị Tố Qvà Trần Thị Ngọc Blà nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động bình thường của cơ quan tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này, các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm, trong đó bị cáo V tham gia với vai trò chỉ đạo cho bị cáo T làm giả; các bị cáo T, Q và B là đồng phạm giúp sức, bị cáo T trực tiếp làm giả và chỉ đạo tiếp các bị cáo Q và B làm giả các danh sách “Container” với số lượng như cáo trạng đã nêu và các bị cáo đã thừa nhận, do đó khi quyết định hình phạt cần căn cứ vào vai trò, tính chất và mức độ tham gia đồng phạm của các bị cáo nhằm áp dụng mức hình phạt cho phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi làm giả hơn 02 lần và trong thời gian dài, nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp.
Xét kháng cáo của các bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo Ngô Quốc V: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình các chứng cứ về việc có đóng góp cho phong trào thiện nguyện tại địa phương, là trụ cột chính trong gia đình, là lao động chính, phụng dưỡng mẹ già. Tuy nhiên, bị cáo là người có vai trò chủ mưu, cầm đầu, chỉ đạo các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, có lợi ích gắn với việc thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo.
Các bị cáo Tô Mỹ T, Kiều Thị Tố Q và Trần Thị Ngọc B tham gia thực hiện tội phạm từ sự chỉ đạo, sức ép của cấp trên, không vì vụ lợi và chỉ vì mong muốn hoàn thành công việc mà phải làm, có vai trò phụ thuộc, giúp sức trong vụ án. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên nên đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo có thái độ ăn năn, hối cải đối với hành vi của mình, có xuất trình các chứng cứ về việc gia đình có đóng góp, ủng hộ vào phong trào thiện nguyện của địa phương. Bị cáo Tô Mỹ T có con còn nhỏ bị bệnh tự kỷ không thể tự chăm sóc bản thân, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo Kiều Thị Tố Q đang nuôi con nhỏ 29 tháng tuổi. Bị cáo trần Thị Ngọc B có con còn nhỏ, 5 tuổi. Các bị cáo đều không đủ điều kiện hưởng án treo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ giảm một phần hình phạt cho các bị cáo này cũng bảo đảm tính nghiêm minh của hình phạt và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo sớm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Ngô Quốc V không được chấp nhận nên chịu án phí theo quy định. Các bị cáo Tô Mỹ T, Kiều Thị Tố Q và Trần Thị Ngọc B không phải chịu án phí.
[4]. Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Quốc V; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tô Mỹ T, Kiều Thị Tố Q và Trần Thị Ngọc B. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2025/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt của các bị cáo Tô Mỹ T, Kiều Thị Tố Q và Trần Thị Ngọc B.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Quốc V, Trần Thị Ngọc B, Kiều Thị Tố Q, Tô Mỹ T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Ngô Quốc V 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Tô Mỹ T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt: bị cáo Kiều Thị Tố Q 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Xử phạt: bị cáo Trần Thị Ngọc B 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Trần Thị Ngọc B, Kiều Thị Tố Q, Tô Mỹ T không phải chịu án phí phúc thẩm. Bị cáo Ngô Quốc V phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu |
Bản án số 511/2025/HS-PT ngày 30/09/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 511/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo