|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 511/2024/DS-PT
Ngày: 05-12-2024
V/v: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và
tài sản gắn liền với đất (nhà), chia thừa kế tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Quyến |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Hoàng Dũng |
| Bà Võ Bích Hải |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 258/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc "Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà), tranh chấp di sản thừa kế".
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2024/DS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 404/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn E, sinh năm 1950; Địa chỉ: Số B, ấp N, xã N, huyện P, thành phố C mặt
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn Đ – Công ty L– Đoàn Luật sư thành phố C
-
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số B, ấp N, xã N, huyện P, thành phố C mặt
- Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Minh Q, sinh năm 1969; Địa chỉ: A Hẻm A, đường N, phường H, quận N, thành phố C quyền ngày 12/01/2024). Có mặt
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố C mặt
- Bà Nguyễn Thanh D, sinh năm 1976; Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố C mặt
- Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số C tổ E, khu V, phường A, quận N, thành phố C mặt
- Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố C mặt
- Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ
- Bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố C mặt
- Bà Nguyễn Kiều O, sinh năm 1975. Xin xét xử vắng mặt
- Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1996. Có mặt
- Ông Nguyễn Ngọc K1, sinh năm 2001. Xin xét xử vắng mặt
- Bà Lê Thị Cẩm T2, sinh năm 1997. Xin xét xử vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ
-
- Người làm chứng:
- Bà Cao Thị H, sinh năm 1957. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ
- Ông Cao Văn A, sinh năm 1948. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ
- Ông Nguyễn Ngọc Q1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ
- Ông Lý Văn Đ1, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ
- Ông Nguyễn Thành H1, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ
- Ông Cao Văn Út E1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ
- Ông Nguyễn Ngọc X, sinh năm 1953; địa chỉ thường trú: USA; địa chỉ liên hệ: Số B, ấp N, xã N, huyện P, thành phố C mặt
- - Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Ngọc K2 có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kiều O1 N1 bà Lê Thị Cẩm T2
- - Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn văn E2 bày:
Ông và bà Cao Thị C1(sinh năm 1952, chết năm 2020). Trong thời gian chung sống có tất cả 07 người con chung gồm: Nguyễn Ngọc KNguyễn T4 TNguyễn T4 DNguyễn Thị D1Nguyễn Thị Kiều ONguyễn Hữu BNguyễn Thị Ngọc CLúc sinh thời, ông và bà C1có tạo lập được thửa đất số 2590 (số cũ 370), diện tích 998,8m² (trong đó có 200m² đất ONT còn lại đất CLN), tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện P, thành phố C gốc thửa đất này là do ông nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị M năm 2010, giá trị chuyển nhượng là 350.000.000 đồng. Trong lúc các bên thỏa thuận mua bán có sự chứng kiến của ông Nguyễn Thành H1(con rể bà M1 đích chuyển nhượng thửa đất trên là để dùng làm di sản thờ cúng, việc làm di sản thờ cúng được anh em ông và các con thống nhất. Trong đó, có anh ruột ông là ông Nguyễn Ngọc X1 góp tiền vào mua đất khoảng 200 triệu đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng năm 2014, ông đã xây căn nhà cấp 4 kiên cố để làm nhà thờ họ, diện tích khoảng 480m² (ngang 12m x dài 40m) còn lại làm sân trước, sân sau. Để xây dựng nhà ông đã thuê ông Lý Văn Đ2 xây dựng và mua vật tư xây dựng tai Công ty TNHH T9 hơn 1 tỷ đồng. Do ông và bà Clđã lớn tuổi, sau khi ông và bà C1trăm tuổi già phải làm thủ tục chuyển nhượng lại cho người thừa kế sẽ phiền phức nên ông và bà C1cùng các con trong gia đình thống nhất để ông Nguyễn Ngọc K3 con trai lớn đứng tên hộ, đồng thời ông K9 nghĩa vụ chăm sóc ông và bà C1cho đến trăm tuổi già và có nghĩa vụ chăm lo thờ cúng ông bà. Sau này ông K4 tròn bổn phận thì ông và bà C1sẽ tặng cho tài sản trên cho ông KHiện nay, ông K5 làm tròn đạo hiếu: không chăm sóc nuôi dưỡng ông, không lo cơm nước cho ông và có lời lẽ không đúng đạo hiếu.
Nay, ông yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Ngọc K6 nhà và đất.
Ngày 22/01/2024 ông Nguyễn Văn E3 đơn khởi kiện bổ sung thêm nội dung:
- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01672 do Ủy ban nhân dân huyện P ngày 07/10/2014 cho ông Nguyễn Ngọc K7 đất số 2590, tờ bản đồ số 06, diện tích 998.8m².
- Ông Nguyễn Văn E4 ý chia thừa kế theo pháp luật di sản của bà Cao Thị C2 lại cho ông Nguyễn Ngọc K3 62.4m² (trong đó 49.9m² đất CLN và 12.5m² đất ONT) tương đương 187.312.500 đồng.
- Ngày 07/5/2024 ông Nguyễn Văn E3 đơn yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong đó có nội dung đồng ý chia thừa kế thêm cho ông Nguyễn Ngọc K8 trị căn nhà tương đương 75.000.000 đồng.
* Đại diện bị đơn là ông Đỗ Quang M2 bày:
Năm 2010, ông Nguyễn Ngọc K9 nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị M3 đất có diện tích 989 m², loại đất CLN. Trước khi ông K10 bà M4 hợp đồng chuyển nhượng phần đất trên, hai bên có yêu cầu cơ quan chức năng vào đo đạc xác nhận diện tích đất và ranh đất với các hộ giáp ranh xung quanh. Cụ thể phía giáp ranh đất với ông Nguyễn Văn E3 đại diện là bà Cao Thị C1(Là vợ ông E5 xác nhận giáp ranh với phần đất ông nhận chuyển nhượng của bà M
Ngày 10/6/2010, Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện P trích đo địa chính xác nhận phần đất đo đạc mà bà M5 nhượng cho ông K
Ngày 07/7/2010, ông K10 bà M6 Ủy ban nhân dân xã N, thành phố C ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân xã Nxác nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên.
Đến ngày 04/8/2010, ông K11 Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00245, thửa đất 2590, diện tích 989 m², loại đất CLN, đây là phần đất ông K12 chuyển nhượng của bà M
Tháng 7/2013, ông K13 chuyển mục đích một phần đất của thửa đất trên thành đất ở nông thôn (ONT), diện tích 200m² và được Ủy ban nhân dân huyện P nên diện tích trên giấy chứng nhận là 989m², trong đó 200m² đất ONT và 789m² đất CLN.
Ngày 18/02/2014 ông K11 Ủy ban nhân dân huyện P giấy phép xây dựng số 03/GPXD trong đó ông K11 cấp giấy phép xây dựng phần diện tích 179.1m² trong quyền sử dụng đất số CH00245 do UBND huyện P ngày 04/8/2010.
Từ lúc nhận chuyển nhượng của bà M6 nay, ông Ksử dụng ổn định, liên tục trên phần đất nhận chuyển nhượng, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định.
Ngày 17/01/2024 ông Nguyễn Ngọc K9 đơn phản tố có nội dung:
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn E6 nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Ngọc K
- Buộc ông Nguyễn Văn E7 tháo dỡ, di dời toàn bộ phần nhà, vật liệu, vật dụng ... đang tọa lạc trên phần đất tại vị trí B, diện tích 27.8m², loại đất CLN Theo bản Trích đo địa chính số 1473/TTKTTNMT ngày 14/12/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C trả đất cho ông Nguyễn Ngọc K14 phần đất này thuộc thửa đất số 2590, tờ bản đồ số 06 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01672 do Ủy ban nhân dân huyện P ngày 07/10/2014 cho ông Nguyễn Ngọc K
- Buộc ông Nguyễn Văn E7 tự di dời, dọn đi tìm chỗ ở mới nơi khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thanh Thà Nguyễn Thanh D2 Nguyễn Thị D1bà Nguyễn Thị Kiều Oông Nguyễn Hữu B1 Nguyễn Thị Ngọc C3 bày: Các ông bà là con của ông Nguyễn Văn E8 bà Cao Thị C1 (chết năm 2020). Lúc sinh thời, ông E8 bà C1có tạo lập được thửa đất số 2590. Nguồn gốc thửa đất này là do ông Nguyễn Văn E9 chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị M năm 2010, giá trị chuyển nhượng là 350.000.000 đồng. Trong đó có 200.000.000 đồng là của ông Nguyễn Ngọc X2 cho ông E8 tiền vay Ngân hàng. Mục đích mua đất và cất nhà là dùng làm di sản thờ cúng cho cha mẹ. Do cha mẹ các ông bà đã lớn tuổi nên để ông Nguyễn Ngọc K15 tên dùm trên thửa đất, ông K5 góp tiền mua đất và xây nhà chỉ đứng tên dùm.
Ngày 21/3/2024 bà Nguyễn Thanh Thà Nguyễn Thanh D2 Nguyễn Thị D1bà Nguyễn Thị Kiều Oông Nguyễn Hữu B1 Nguyễn Thị Ngọc C4 đơn yêu cầu độc lập có nội dung yêu cầu:
- Chia thừa kế theo pháp luật phần di sản của bà Cao Thị C2 lại là ½ nhà và đất của thửa đất số 2590.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kiều Oông Nguyễn N K1có bản tự khai trình bày; ông Nguyễn Ngọc T5 bày: Các ông bà thống nhất với phần trình bày của ông Nguyễn Ngọc K16 đất và nhà ông K10 các ông bà đang sử dụng là do ông K12 chuyển nhượng của bà M năm 2010 đã xây nhà trên đất và sử dụng ổn định cho đến nay. Các ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn E
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C5 T2có bản tự khai trình bày: Bà thống nhất với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Ngọc K16 đất và nhà ông K17 sử dụng là do ông K12 chuyển nhượng của bà M năm 2010 đã xây nhà trên đất và sử dụng ổn định cho đến nay. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn E10 cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Ngọc K
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn E11.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Ngọc K18.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thanh T8, bà Nguyễn Thanh D3, bà Nguyễn Thị D4, bà Nguyễn Thị Kiều O2, ông Nguyễn Hữu B2, bà Nguyễn Ngọc Thị C6, mỗi ông bà được hưởng một kỳ phần thừa kế từ ½ di sản của bà Cao Thị C7 là 230.128.652 đồng (Hai trăm ba mươi triệu một trăm hai mươi tám ngàn sáu trăm năm mươi hai đồng). Tuy nhiên, toàn bộ kỳ phần này các ông bà giao lại cho ông Nguyễn Văn E11 được hưởng. Tổng số tiền ông Nguyễn Văn E11 được hưởng từ 06 kỳ phần thừa kế là 1.380.771.912 đồng (Một tỷ ba trăm tám mươi triệu bảy trăm bảy mươi mốt ngàn chín trăm mười hai đồng).
Buộc ông Nguyễn Ngọc K18 và các thành viên trong gia đình (bà Nguyễn Kiều O2, ông Nguyễn Ngọc T6, ông Nguyễn Ngọc K19, bà Lê Thị Cẩm T7) di dời và giao trả nhà và đất tại thửa số 2590, tờ bản đồ số 06, diện tích 998.8m² (trong đó có 200m² đất ONT còn lại đất CLN), tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ cho ông Nguyễn Văn E11, khi án có hiệu lực pháp luật.
(Đính kèm Bản Trích đo địa chính số 1473/TTKTTNMT ngày 14/12/2023 của Trung tâm K).
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01672 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 07/10/2014 cho ông Nguyễn Ngọc K18 thửa đất số 2590, tờ bản đồ số 06, để cấp lại Giấy chứng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn E11 theo diện tích đo thực tế là 998.8m² (trong đó có 200m² đất ONT còn lại đất CLN).
Ông Nguyễn Văn E11 có trách nhiệm trả 01 kỳ phần thừa kế là giá trị nhà và đất cho ông Nguyễn Ngọc K18 số tiền là 230.128.652 đồng.
Ông Nguyễn Văn E11 có trách nhiệm trả giá trị cây trồng cho ông Nguyễn Ngọc K18 số tiền là 2.540.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn E11 có trách nhiệm trả lại tiền mua vật tư xây dựng cho ông Nguyễn Ngọc K18 số tiền là 384.800.970 đồng.
Tổng cộng số tiền ông Nguyễn Văn E11 phải trả cho ông Nguyễn Ngọc K18 là 617.469.622 đồng (Sáu trăm mười bảy triệu bốn trăm sáu mươi chín ngàn sáu trăm hai mươi hai đồng).
Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Văn E11 về chi phí hỗ trợ, di dời cho ông Nguyễn Ngọc K18 số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn Nguyễn Ngọc K18, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kiều O2, ông Nguyễn Ngọc K19, ông Nguyễn Ngọc T6 và bà Lê Thị Cẩm T7 kháng cáo đề nghị hủy án sơ thẩm.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ kháng nghị đề nghị hủy án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay:
- - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị dơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập, người kháng cáo vẫn giữ yêu cầu kháng cáo.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Đại diện bị đơn đề nghị hủy án sơ thẩm do có vi phạm tố tụng.
- - Ông X3 xác định không có liên quan đến nhà đất tranh chấp. Về số tiền ông cho ông E11 mượn, ông không yêu cầu tòa án giải quyết.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa đã đánh giá, phát biểu quan điểm về vụ án cho rằng, việc chứng minh và thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ ( như nhà tranh chấp có một phần năm trên đất người khác nhưng chưa làm rõ, chưa làm rõ công sức cải tạo làm tăng giá trị đất, nhà của ông K18, cần xác minh thêm giá đất chuyển nhượng tại địa phương thời điểm năm 2010...) mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, đề nghị hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Phong Điền để giải quyết lại vụ án. Tại phiên tòa, ông X3 khai không có liên quan đến nhà, đất tranh chấp nên không cần thiết đưa ông X3 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Viện kiểm sát rút lại phần này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà) và tranh chấp thừa kế. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Người kháng cáo nộp tạm ứng án phí trong hạn luật định, kháng nghị của Viện kiểm sát trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của phía bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ.
[2.1] Nguyên đơn ông E11 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông K18 giao trả lại nhà và đất tại thửa 2590, diện tích 998,8m², vì cho rằng nguồn gốc đất này là do vợ chồng nguyên đơn nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị M8 từ năm 2010, giá trị chuyển nhượng là 350.000.000 đồng, sau khi nhận chuyển nhượng thì năm 2014, vợ chồng nguyên đơn ông E11, bà C7 cất nhà kiên cố để làm nhà thờ họ. Do ông và bà C7 đã lớn tuổi, sau khi ông và bà C7 trăm tuổi già phải làm thủ tục chuyển nhượng lại cho người thừa kế sẽ phiền phức nên ông và bà C7 cùng các con trong gia đình thống nhất để ông Nguyễn Ngọc K18 là con trai lớn đứng tên hộ, đồng thời ông K18 có nghĩa vụ chăm sóc ông và bà C7 cho đến trăm tuổi già và có nghĩa vụ chăm lo thờ cúng ông bà. Sau này ông K18 làm tròn bổn phận thì ông và bà C7 sẽ tặng cho tài sản trên cho ông K18. Hiện nay, ông K18 không làm tròn đạo hiếu: không chăm sóc nuôi dưỡng ông, không lo cơm nước cho ông và có lời lẽ không đúng đạo hiếu.
Do nhà và đất là của ông E11 và bà C7 nên các người thừa kế khác của bà C7 yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của bà C7 (bà C7 chết năm 2020).
Bị đơn ông K18 thì cho rằng, thửa đất 2590 ông là người trực tiếp mua của bà M8 với giá 100.000.000đ, ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó ông xin chuyển mục đích 200m² đất CLN lên 200m² đất ONT và bỏ tiền ra cất nhà nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập các đồng thừa kế khác.
[2.1] Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông K18 khai căn nhà cấp sơ thẩm buộc ông giao trả cho ông E11 có một phần cất trên thửa đất liên kể của ông tiếp giáp với thửa đất 2590, lời khai của ông K20 phù hợp với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31/10/2023, Bản trích đo địa chính số 1473 ngày 14/12/2023 của Trung tâm K. Cấp sơ thẩm chưa làm rõ phần diện tích căn nhà tranh chấp nằm trên phần đất khác là bao nhiêu, ai là chủ sử dụng hợp pháp phần diện tích đất này? Nhưng buộc bị đơn giao trả toàn bộ căn nhà làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ sở dụng hợp pháp thửa đất liền kề.
Quá trình thụ lý phúc thẩm và tại phiên tòa, bị đơn cung cấp thông báo nộp tiền lệ phí trước bạ nhà đất, giấy nộp tiền vào Ngân sách nhà nước (tiền chuyển mục đích sử dụng đất), cuôn số có ghi chép tiền chủ Chính Điều nhận (bị đơn khai ông Đ3 ký nhận tiền công xây dựng nhà)... những vấn đề này cũng cần phải làm rõ để xác định công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất, chi phí xây dựng nhà cho ông K18.
Ngoài ra, cũng cần làm rõ phần đất tranh chấp tại thời điểm chuyển nhượng năm 2010 giá thực tế tại địa phương khoảng bao nhiêu, để làm căn cứ đánh giá phù hợp với lời khai của ông E11 hay ông K18.
Từ những tình tiết phát sinh nêu trên, thấy rằng việc chứng minh và thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, C8 hủy bản án sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ để giải quyết lại vụ án.
[2.3] Đối với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát về việc cấp sơ thẩm không đưa ông X3 (người nước ngoài) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa, ông X3 có mặt và xác định số tiền 200.000.000₫ là cho ông E11 mượn, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông cũng không liên quan đến nhà đất tranh chấp nên không cần thiết đưa ông X3 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện Viện kiểm sát rút lại phần này.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ;
- Về án phí phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Ngọc K18 được nhận lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006361 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- Bà Nguyễn Kiều O2 được nhận lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006362 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- Ông Nguyễn Ngọc T6 được nhận lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006363 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- Ông Nguyễn Ngọc K19 được nhận lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006365 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- Bà Lê Thị Cẩm T7 được nhận lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006364 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc K18, các người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kiều O2, ông Nguyễn Ngọc K19, ông Nguyễn Ngọc T6 và bà Lê Thị Cẩm T7;
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ để giải quyết lại vụ án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quyến |
Bản án số 511/2024/DS-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà), chia thừa kế tài sản
- Số bản án: 511/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (nhà), chia thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy án sơ thẩm
