|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 511/2023/HS-PT Ngày: 27/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán:
ông Nguyễn Văn Tào
ông Trần Đức Kiên
- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Thanh Yên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 453/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Trung D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023.
-
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trung D, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1990 tại Đà Nẵng; nơi cư trú: tổ A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: lao động phổ thông; con ông (không xác định được) và con bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/6/2022, có mặt tại phiên toà.
-
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung D:
Luật sư Nguyễn Ngọc C - Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 04/06/2022 tại khu vực chân cầu T thuộc phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H, thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Bạch D1 (nhân viên shipper) phát hiện 02 (hai) túi ni lông gồm:
-
- 01 (một) túi xách treo ở tay lái bên trái xe mô tô có 03 (ba) gói bánh phồng tôm, bên trong một gói bánh phông tôm có một gói ni lông kích thước khoảng (7x11,5) cm chứa 30 (ba mươi) viên nén hình tròn, màu xanh và 01 (một) gói ni lông kích thước khoảng (4x7,5)cm chứa tinh thể rắn màu trắng được niêm phong theo quy định (ký hiệu: A). Trong túi xách này có 01 (một) tờ giấy trắng ghi nội dung: “51 Hồ Xuân H1, 0783249048".
-
- 01 (một) túi xách treo ở tay lái bên phải của xe mô tô có 05 (năm) gói mì ăn liền, bên trong một gói mì có một gói ni lông kích thước (7x11,5) cm có 10 (mười) viên nén hình tròn, màu xanh và 02 (hai) gói ni lông kích thước lần lượt khoảng (4x4,5) cm và (4x7,5) cm đều có chứa tinh thể rắn màu trắng. Tất cả được niêm phong theo quy định (ký hiệu: A1). Trong túi xách này có 01 (một) tờ giấy trắng ghi nội dung: “0775435421, K139 Tôn Đản”.
Tiến hành khám xét khẩn cấp đối với địa điểm mà Nguyễn Bạch D1 nhận đơn hàng tại phòng số 02, tầng 02 căn hộ S đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, trong phòng có Nguyễn Trung D thu giữ:
-
+ 22 (hai mươi hai) gói ni lông màu xanh, có chữ CRISPY FRUIT đều có kích thước (10x6) cm, đều chứa chất bột được hàn kín; 02 (hai) gói ni lông màu xanh, có chữ CRISPY FRUIT đều có kích thước (10x6) cm, đều chứa chất bột màu hồng, đã bị xé một góc. Tiến hành niêm phong hai mục trên theo quy định (ký hiệu: A2).
-
+ 05 (năm) gói ni lông đều có kích thước (4x4) cm và 01 (một) gói ni lông kích thước (13,5x8) cm bên trong đều có chứa một ít tinh thể rắn màu trắng. Tiến hành niêm phong theo quy định (ký hiệu: B).
-
- Tại bờ rào lan can trước phòng số 02 có một túi ni lông bên trong có 19 (mười chín) gói ni lông màu xanh, có chữ CRISPY FRUIT đều có kích thước (10x6) cm, đều chứa chất bột được hàn kín. Tiến hành niêm phong theo quy định (ký hiệu: C).
-
+ 06 (sáu) gói ni lông đều có kích thước (4x4) cm và 01 (một) gói ni lông kích thước (3x3) cm bên trong đều có chứa ít tinh thể rắn màu trắng. Tiến hành niêm phong theo quy định (ký hiệu: D).
Lúc 00 giờ 20 phút ngày 05/06/2022 Cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Đà Nẵng thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Trung D về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Lúc 10h00 ngày 06/06/2022 tại Bãi xe cổng số 01 sân vận động C, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Đà Nẵng thi hành Lệnh khám xét Bưu kiện trên xe tải BKS: 92C1-04103 do tài xế là ông Võ Tấn N điều khiển. Đồ vật, tài liệu thu giữ:
-
- 01 (một) thùng giấy kích thước (38x27x22) cm có chữ AQUAFINA được dán kín băng keo màu vàng bên ngoài, một mặt có dán tờ giấy màu trắng có ghi nội dung: "SĐT 0796.654.xxx Chị Ngọc Đà N1 Thuốc Nam”; ngoài ra còn ghi chữ: “LTCC TQ ĐN”. Mở kiện hàng bên trong có 01 (một) gói ni lông kích thước (12x23,5) cm được gói trong một cái quần màu đen, bên trong gói ni lông có chứa 890 (tám trăm chín mươi) viên nén màu xanh, hình tam giác. Được niêm phong theo quy định (ký hiệu: E).
-
* Kết luận giám định số: 772a/KL-KTHS ngày 13/06/2022 của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:
-
- Chất rắn màu trắng dạng tinh thể trong mẫu (ký hiệu A, A1, B và D) gửi giám định đều là ma túy loại Ketamine, khối lượng của từng mẫu: A: 10 gam; A1: 9,79 gam; B: 0,2 gam và D: 0,19 gam. Tổng khối lượng: 20,18 gam.
-
- 30 (ba mươi) viên nén tròn màu xanh trong mẫu A; 10 (mười) viên nén tròn màu xanh trong mẫu A1 và 890 (tám trăm chín mươi) viên nén màu xanh, hình tam giác trong (mẫu E) gửi giám định đều là ma túy loại MDMA; khối lượng mẫu: mẫu A: 10,10 gam; A1: 3,34 gam và E: 331,06 gam. Tổng khối lượng: 344,5 gam.
-
- Chất rắn màu hồng dạng bột trong mẫu A2 (mục 1.6); C; chất rắn màu hồng dạng cục, bột trong mẫu A2 (mục 1.7) gửi giám định đều là ma túy loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine và N2; khối lượng từng mẫu: A2 (mục 1.6): 120,94 gam; A2 (mục 1.7): 4,31 gam; C: 99,19 gam. Hàm lượng của các chất ma túy được thể hiện tại Kết luận Giám định số 772b/KL-KTHS.
-
Theo Kết luận giám định số: 772b/KL-KTHS ngày 15/06/2022 của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng:
Chất rắn màu hồng dạng bột trong phong bì ký hiệu A2 và trong phong bì ký hiệu C; chất rắn màu hồng dạng cục, bột trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định có hàm lượng Methamphetamine, MDMA và Ketamine trung bình như sau:
| Mẫu | Mục 1.6 (ký hiệu A2) | Mục 1.7 (ký hiệu A2) | Mục 1.10 (ký hiệu C) |
|---|---|---|---|
| Hàm lượng (%) | |||
| Methamphetamine | 0,06 | 0,03 | 0,05 |
| MDMA | 2,93 | 1,20 | 3,01 |
| Ketamine | 1,48 | 0,74 | 1,52 |
Qua điều tra xác định:
Từ giữa tháng 4/2022 Nguyễn Trung D và Trương Thị Kim H2 cùng nhau mua bán trái phép chất ma tuy gồm các loại thuốc lắc, Ketamine và nước vui. Nguồn gốc ma túy thuốc lắc và K là do D trực tiếp liên lạc với người tên T (không rõ lai lịch) ở Thành phố Hồ Chí Minh và đã mua được 03 (ba) lần. Còn nguồn ma túy nước vui là do D mua của một người nam thanh niên (không rõ lai lịch) do T giới thiệu cho D và đã mua được 02 (hai) lần.
- Phương thức D mua ma túy thuốc lắc và Ketamine của T:
D dùng số điện thoại 0931.918.xxx gọi cho T để đặt mua ma túy (do D làm mất điện thoại nên không thu được số điện thoại của D và T), rồi cả hai thống nhất số lượng và giá cả. D cho T số điện thoại của H2 0796.654.010 ghi lên gói hàng để nhà xe liên hệ giao hàng. Sau đó, T sẽ chuyển ma túy qua đường xe khách từ TP . đến Đà Nẵng (chọn nhiều nhà xe khác nhau để chuyển). Khi hàng chứa ma túy đến nơi, nhà xe sẽ gọi cho H2, H2 báo lại cho D, D sẽ trực tiếp đến nhận hàng mang về cất giấu tại phòng trọ của H2 thuê ở (tại phòng số 2, tầng B, căn hộ S T, phường H, quận C, TP .). Việc thanh toán tiền mua ma túy thì D sẽ nhờ H2 sử dụng tài khoản T2 số: 19034939962010 của Trương Thị Kim H2 để chuyển tiền qua tài khoản cho Lê Hữu T1 sử dụng số tài khoản 228666688 mở tại Ngân hàng TMCP Á (A). Hình thức chuyển tiền có lúc chuyển trước khi mua ma túy, có lúc bán xong gom tiền mới chuyển sau, cụ thể 03 lần của T1 như sau:
-
Lần thứ nhất: vào giữa tháng 4/2022 D liên hệ với T1 mua 800 (tám trăm) viên thuốc lắc giá 120.000.000 đồng (nột trăm hai mươi triệu) và 200 (hai trăm) gam Ketamine giá 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu). Sau đó, D đã nhờ H2 chuyển tiền 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu) vào tài khoản của Lê Hữu T1 để thanh toán. H2 đã thực hiện tổng 05(năm) lượt chuyển khoản. Số ma túy này D đã bán hết một phần, phần còn lại thì bị thu giữ khi bị bắt giữ.
-
Lần thứ hai: vào khoảng ngày 25/05/2022 D mua 280 (hai trăm tám mươi) viên thuốc lắc với giá 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu). Sau đó, D đã nhờ H2 chuyển khoản thanh toán cho T1 thông qua tài khoản của Lê Hữu T1. H2 đã thực hiện hai lượt chuyển khoản. Số ma túy này D đã bán hết một phần, phần còn lại thì bị thu giữ.
-
Lần thứ ba: ngày 01/06/2022 D liên hệ với T1 để mua 01 (một) thùng ma túy khoảng 1.000 (một nghìn) viên ma túy thuốc lắc với giá 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu). H2 đã chuyển khoản ba lượt để thanh toán cho T1 thông qua tài khoản của Lê Hữu T1. D đã gửi thông tin người nhận là “Chị N3” và số điện thoại của H2 là 0796.654.010 để T1 ghi vào thùng hàng. Sau đó, T1 đi gửi ma túy qua nhà xe Thảo Quyên từ TP . về thành phố Đà Nẵng. Gửi xong, T1 chụp hình phiếu chuyển hàng hóa gửi qua cho D để D mang đi nhận khi gói hàng chứa ma túy đến Đà Nẵng. Đến ngày 06/06/2022 Cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Đà Nẵng ra Lệnh khám xét bưu kiện đối với ông Võ Tấn N thu giữ 890 (tám trăm chín mươi) viên thuốc lắc mà T1 gửi cho D.
- Phương thức D mua ma túy loại nước vui từ người nam thanh niên do T1 giới thiệu:
D dùng số điện thoại 0931.918.xxx gọi cho người nam thanh niên (do D làm mất điện thoại nên không thu được số điện thoại người nam thanh niên) hỏi mua ma túy nước vui thì người này hẹn sẽ giao hàng sau 2-3 ngày. Sau đó, sẽ có một người đàn em của nam thanh niên này gọi cho D và gặp giao dịch trực tiếp với D tại khu vực trên đường B, TP .. Mua xong, D mang ma túy về phòng trọ của H2 tại Phòng số 02, tầng 02, căn hộ S T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng để cất giữ.
Sau khi nhận ma túy về, D phân chia và bán ma túy cho nhiều người không rõ nhân thân lai lịch còn H2 thì phụ giúp D bán ma túy. D đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều người không rõ nhân thân lai lịch. Chỉ nhớ rõ bán cho những người như sau:
Bán cho H3 (không rõ nhân thân lai lịch) là người quen của H2 được 02 (hai) lần:
-
+ Lần 1: vào tối ngày 03/06/2022 H3 sử dụng số điện thoại 0783.249.xxx gọi điện cho H2 hỏi mua 10 (mười) viên thuốc lắc. Sau đó, H2 đưa điện thoại cho D để thỏa thuận và thống nhất giá 270.000 đồng/01 viên thuốc lắc, tổng số tiền là 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn). Hẹn tại khu vực E Hồ X, TP ., rồi D đặt nhân viên giao hàng bằng ứng dụng Heyu đi giao ma túy cho H3.
-
+ Lần 2: khoảng 20 giờ ngày 04/06/2022 H3 sử dụng số điện thoại 0783.249.xxx gọi điện cho H2 hỏi mua 30 (ba mươi) viên ma túy thuốc lắc và 10 (mười) gam Ketamine. Sau đó, H2 đưa điện thoại cho D để thỏa thuận và thống nhất giá 270.000 đồng/01 viên thuốc lắc, 8.500.000 đồng/10 gam Ketamine, tổng số tiền là 16.600.000 đồng (mười sáu triệu sáu trăm nghìn). Hẹn giao tại E Hồ X, thành phố Đà Nẵng.
Cùng khoảng thời gian trên, D nhận được cuộc gọi từ một nam thanh niên tên H4 (không rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0775.435.xxx hỏi mua 10 (mười) viên ma túy thuốc lắc và 10 (mười) gam Ketamine và nói chia Ketamine thành hai gói, giao tại kiệt A T, Đà Nẵng. Cả hai thống nhất với giá 270.000 đồng/01 viên thuốc lắc, 8.500.000 đồng/10 gam Ketamine. Tổng số tiền là 11.200.000 đồng (mười một triệu hai trăm nghìn).
Sau đó, D chuẩn bị số lượng ma túy như trên bỏ vào trong các gói ni lông rồi bỏ vào trong túi bánh phồng tôm gồm (30 viên thuốc lắc và 10 gam Ketamine) và gói mì tôm gồm (10 viên thuốc lắc và 10 gam Ketamine) rồi đóng lại. H2 là người ghi địa chỉ vào mảnh giấy trắng rồi bỏ vào 02 (hai) gói hàng có chứa ma túy. Sau đó, D dùng số điện thoại 0931.918.xxx của D và số điện thoại 0796.654.xxx của H2 tạo 02 (hai) đơn hàng trên ứng dụng giao hàng công nghệ H5 để giao số ma túy. Nguyễn Bạch D1 là người vận chuyển hàng hóa của Công ty H6 nhận vận chuyển hai túi xách thức ăn từ địa chỉ số A đường T lần lượt đến các địa chỉ ghi trên giấy là ở E Hồ X và K139 T, Đà Nẵng. Sau khi nhận hàng xong Nguyễn Bạch D1 mang đi giao và trên đường đi thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật là ma túy.
Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
-
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung D và Trương Thị Kim H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 39 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung D tù “Chung thân”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/6/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt tù đối với bị cáo Trương Thị Kim H2 (bị cáo H2 không kháng cáo, không bị kháng nghị), hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023 bị cáo Nguyễn Trung D kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Trung D trình bày giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu:
Về tố tụng: kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung D là trong thời hạn luật định.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Trung D, Trương Thị Kim H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo H2 không kháng cáo, không bị kháng nghị, do vậy bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo H2. Hành vi phạm tội của bị cáo D là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội và phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo D cung cấp chứng cứ thể hiện đã nộp tiền phạt bổ sung và tiền thu lợi bất chính với số tiền 22.000.000đ. Đây là tình tiết mới. Tuy nhiên, xét thấy tình tiết mới này của bị cáo là không đáng kể so với hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo gây. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh tụng:
Thống nhất về tội danh mà Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo D theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt có phần nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo, cụ thể: bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, từ nhỏ thiếu sự chăm sóc của người cha. Làm ăn thua lỗ nên nợ số tiền lớn nên thiếu suy nghĩ mà phạm tội. Bị cáo nhận thấy tội lỗi của mình nên rất ăn năn, hối cải và tác động gia đình khắc phục tiền phạt bổ sung và tiền thu lợi bất chính là 22.000.000đ. Sau khi phạm tội bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra làm sáng tỏ vụ án. Bị cáo là lao động chính, mẹ bị cáo bị bệnh nặng và là người có công được tặng thưởng nhiều Huân chương. Kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo xuống tù có thời hạn. Bị cáo bổ sung: bị cáo nhận thấy tội lỗi của mình là vi phạm pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
[1] Về tố tụng:
Ngày 28 tháng 8 năm 2023 bị cáo Nguyễn Trung D kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xin giảm nhẹ hình phạt. Như vậy kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung D là trong thời hạn luật định, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.
-
[2] Xét kháng cáo của bị cáo:
-
[2.1] Về hành vi phạm tội:
Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm và tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay, bị cáo bị cáo Nguyễn Trung D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thể hiện:
Từ giữa tháng 4 năm 2022 cho đến khi bị phát hiện bắt giữ ngày 04/6/2022, bị cáo Nguyễn Trung D cùng với bị cáo Trương Thị Kim H2 nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy gồm thuốc lắc, Ketamine và nước vui cho các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Nguồn gốc các chất ma túy bị cáo D trực tiếp liên hệ mua của đối tượng tên T1 và đối tượng nam thanh niên do T1 giới thiệu (đều không rõ lai lịch). Hình thức mua bán giao dịch thông qua điện thoại, thanh toán qua chuyển khoản từ tài khoản của bị cáo H2 và vận chuyển thông qua các nhà xe chạy tuyến thành phố Hồ Chí Minh-Đà Nẵng. Ma túy được cất giấu tại nơi bị cáo H2 thuê là Phòng số 02, tầng 2, căn hộ S T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Các bị cáo D, H2 trực tiếp phân lẻ các loại ma túy để bán nhiều lần cho các đối tượng. Ngày 04/6/2022 các bị cáo H2 và D đã bán cho một đối tượng tên H3 và một nam thanh niên (không rõ lai lịch) 40 (bốn mươi) viên ma túy thuốc lắc và 20 (hai mươi) gam loại ma túy Ketamine với tổng số tiền 27.800.000đ (hai mươi bảy triệu tám trăm ngàn đồng). D và H2 ngụy trang số ma tuý này dưới hình thức 02 (hai) đơn hàng túi xách thức ăn và thuê Nguyễn Bạch D1 là nhân viên vận chuyển hàng hóa của công ty H6 đưa đến điểm giao nhận tại số E đường H, quận N và số K đường T, quận C, thành phố Đà Nẵng thì bị lực lượng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp tại phòng số 02, tầng 02, căn hộ S T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng nơi bị cáo H2 thuê ở và khám xét Bưu kiện thùng giấy trên xe tải BKS 92C1-04.103 do tài xế Võ Tấn N nhận vận chuyển từ Thành phố Hồ Chí Minh về Đà Nẵng do đối tượng tên T1 gửi cho các bị cáo D và H2 đã đặt mua trước đó.
Tại các Kết luận giám định số: 772a/KL-KTHS, 772b/KL-KTHS các ngày 13, 15 tháng 6 năm 2022 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng kết luận tổng khối lượng ma túy thu giữ của các bị cáo Nguyễn Trung D, Trương Thị Kim H2 nhằm mục đích mua bán trái phép gồm: loại MDMA là 344,5 gam; Ketamine là 20,18 gam; ma túy nước vui có thành phần gồm nhiều chất ma túy: Methamphetamine, MDMA, Ketamine và N2 là 224,44 gam.
Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trung D phù hợp với lời khai của bị cáo Trương Thị Kim H2 trong cùng vụ án; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, các Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Nguyễn Trung D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
-
[2.2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Khối lượng các chất ma túy bị cáo Nguyễn Trung D mua bán trái phép là 344,5 gam MDMA; 20,18 gam Ketamine; 224,44 gam ma túy nước vui có thành phần gồm nhiều chất ma túy Methamphetamine, MDMA, Ketamine và N2 nên phạm vào điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định: phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. a)... ; h) có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trung D là đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn. Đã xâm phạm đến chính sách độc quyền thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, trực tiếp là hoạt động mua bán các chất ma túy; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sự phát triển của giống nòi. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định, đánh giá về vai trò, hành vi thực hiện tội phạm, hậu quả, nhân thân và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trung D là đúng pháp luật. Mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo D cung cấp chứng cứ thể hiện đã nộp tiền phạt bổ sung, tiền thu lợi bất chính là 22.000.000₫ theo Biên lai thu tiền số 0000186 ngày 11/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng và là tình tiết mới. Tuy nhiên, xét thấy tình tiết mới này của bị cáo là không đáng kể so với hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Mức hình phạt tù chung thân mà Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D là thỏa đáng. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Trung D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
-
QUYẾT ĐỊNH:
-
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung D,giữ nguyên bản án sơ thẩm.
-
Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt: áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 39 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D tù “Chung thân”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/6/2022.
-
Hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp: áp dụng khoản 5 Điều 251 và Điều 46 Bộ luật Hình sự. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Trung D 10.000.000đ (mười triệu đồng) và buộc bị cáo Nguyễn Trung D nộp số tiền thu lợi bất chính 12.000.000₫ (mười hai triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo Nguyễn Trung D đã thi hành xong hai khoản là 22.000.000₫ (hai mươi hai triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000186 ngày 11/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
-
Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Trung D phải chịu 200.000₫.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Thành viên Hội đồng xét xử (Đã ký) |
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) |
|
|
Nguyễn Văn Tào |
Trần Đức Kiên |
Trần Quốc Cường |
Bản án số 511/2023/HS-PT ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 511/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung D,giữ nguyên bản án sơ thẩm. 2. Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. 3. Về hình phạt: áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 39 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D tù “Chung thân”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/6/2022.
