|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
|
Bản án số: 510/2024/DS-PT Ngày 05-9-2024 “V/v Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;
Các Thẩm phán: Ông Lê Hồng Nước;
Ông Nguyễn Chí Dũng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Trần Thị Ngọc Quý - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 371/2024/TLPT-DS ngày 17/7/2024, về việc “Tranh chấp dân sự về thừa kế quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 538/2024/QĐ-PT ngày 08/8/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Lê Phát T, sinh năm: 1954;
Địa chỉ: Số I, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Tạm trú: Số A, đường L, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Lê Thanh V, sinh năm: 1967;
Địa chỉ: Số C, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Lê Vinh H (chết năm 1985);
- Lê Quang V1, sinh năm 1967;
- Lê Quan S, sinh năm 1970;
- Lê Trần Gia C, sinh năm 1980;
- Lê Trần Sao L, sinh năm 1978;
- Lê Ngọc A, sinh năm 1951;
- Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1951;
- Anh Lê Quốc T1, sinh năm 1983;
- Chị Nguyễn Thị Thu B, sinh năm 1986;
- Lê Kim T2, sinh năm 1954 (chết ngày 16/4/2022);
- Trần Thị T3, sinh năm 1980;
- Trần Công D, sinh năm 1987;
- Lê Kim P, sinh năm 1960;
- Lê Thị Thanh N, sinh năm 1964;
- Lê Thị Thanh T4, sinh năm 1969;
- Anh Lê Hoàng Duy L1, sinh năm 1990 (con ông V);
- Chị Lê Hoàng Ngọc L2, sinh năm 1992 (con ông V);
- Bà Nguyễn Ngọc L3, sinh năm 1962 (vợ ông V);
- Anh Lê Hoàng Quốc L4, sinh năm 1998 (con ông V);
- Chị Lê Hoàng Dạ L5, sinh năm 1987 (con ông V);
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H:
Địa chỉ: Số A, đường L, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số A, đường N, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số C, đường T, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số A, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Số I, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T2:
Địa chỉ: Số D, Khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số A, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của anh D: Ông Lê Phát T, sinh năm 1954;
Địa chỉ: Số I, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Tạm trú: Số A, đường L, khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số I, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số H, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số C, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Số C, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Số I, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Ông Lê Thanh V là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn Lê Phát T trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của mẹ là cụ Nguyễn Thị Kim D1 để lại (chết năm 2007, không có di chúc), cha tên Lê Văn A1 (chết năm 1999, không để lại di chúc), gồm 08 người con: Lê Phát T, Lê Kim T2 (chết năm 2022), Lê Kim P, Lê Thanh V, Lê Thị Thanh N, Lê Thị Thanh T4, Lê Vinh H (chết năm 1985), Lê Ngọc A. Lúc còn sống, cụ D1 có được cấp quyền sử dụng đất gồm: thửa 492, tờ bản đồ số 5, diện tích 210m² đất HG/dbn; thửa 493a, tờ bản đồ số 5, diện tích 5.398m² đất 2L, được UBND huyện T cấp ngày 11/5/1992, đất tọa lạc xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Ông T trình bày do ông V không thực hiện việc giao tiền như đã thỏa thuận, dẫn đến bà T2 không có tiền trị bệnh nên chết. Do đó, nay ông T không đồng ý thực hiện theo tờ thỏa thuận ngày 07/11/2019 mà yêu cầu nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493a và 492, trong phạm vi các mốc A, M4, M3, D, C về A. Ông T thống nhất kết quả đo đạc, định giá của Tòa án.
- Bị đơn ông Lê Thanh V trình bày:
Cha mẹ chết đều có để lại di chúc. Khi ông T khởi kiện, ông V muốn giải quyết cho xong nên ông Vũ 1 tờ thỏa thuận ngày 07/11/2019. Do phía ông T không cho ông V biết việc ký thủ tục sang tên nên ông V chưa giao tiền. Nay ông V yêu cầu thực hiện theo tờ thỏa thuận ngày 07/11/2019. Ông V thống nhất kết quả đo đạc, định giá của Tòa án. Trường hợp không giải quyết theo tờ thỏa thuận thì đề nghị đo lại để trừ ra phần của ông V2, ông Tô Văn Ú.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Kim P trình bày:
Bà P yêu cầu thực hiện theo tờ thỏa thuận ngày 07/11/2019. Bà P thống nhất kết quả đo đạc, định giá của Tòa án. Yêu cầu thực hiện theo tờ thỏa thuận ngày 07/11/2019.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do ông Lê Phú T5 đại diện cho con bà Kim T2 là chị Trần Thị T3 trình bày:
Yêu cầu nhận hiện vật có diện tích 1.126,8m² thuộc một phần của thửa 493A và 492, trong phạm vi các mốc F, M2, M1, L, K, H về F.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thanh N trình bày:
Bà N không đồng ý thực hiện theo thỏa thuận ngày 07/11/2019 mà yêu cầu nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493A và 492, trong phạm vi các mốc D, F, H, K, C về D, bà N thống nhất kết quả đo đạc, định giá của Tòa án.
Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2024/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của
Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 612, 613, 620, 623, 649, 650, 651, 652, 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 12, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Lê Phát T.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thị Thanh N.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Kim P.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Trần Thị T3 và anh Trần Công D.
- Ông Lê Phát T được nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493a và 492, trong phạm vi các mốc A, M4, M3, D, C về A, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Lấp V3) cấp cho bà Nguyễn Thị Kim D1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 11/5/1992. Đất tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Lê Thanh V được nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493a và 492, trong phạm vi các mốc A, B, M8, M5 về A, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Lấp V3) cấp cho bà Nguyễn Thị Kim D1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 11/5/1992. Đất tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Lê Thị Thanh N được nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493a và 492, trong phạm vi các mốc D, F, H, K, C về D, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Lấp V3) cấp cho bà Nguyễn Thị Kim D1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 11/5/1992. Đất tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Chị Trần Thị T3 và anh Trần Công D được nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493a và 492, trong phạm vi các mốc D, F, M2, M1, L, K, H về F, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Lấp V3) cấp cho bà Nguyễn Thị Kim D1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 11/5/1992. Đất tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Lê Kim P được nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493a và 492, trong phạm vi các mốc B, C, K, L, M8 về B, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Lấp V3) cấp cho bà Nguyễn Thị Kim D1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 11/5/1992. Đất tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Các đương sự được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục để được cấp quyền sử dụng đất theo Bản án của Tòa án.
(Có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án và sơ đồ đo đạc thực tế phần đất tranh chấp ngày 25/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L kèm theo)
5. Về án phí:
- Ông Lê Phát T6, bà Lê Thị Thanh N, bà Lê Kim P được miễn án phí.
- Buộc ông Lê Thanh V phải nộp 4.507.200 đồng án phí sơ thẩm dân sự.
- Buộc chị Trần Thị T3 và anh Trần Công D phải nộp 4.507.200 đồng án phí sơ thẩm dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.878.000 đồng theo biên lai số 0003631 ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò. Anh D và chị T3 phải nộp thêm 2.629.200 đồng.
6. Về chi phí đo đạc, định giá:
Tổng cộng là 2.200.000 đồng. số tiền này ông T đã nộp đủ, chi xong, nên buộc bà Lê Thị Thanh N, bà Lê Kim P, chị Trần Thị T3 và anh Trần Công D mỗi người phải trả lại cho ông T là 440.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, Ông Lê Thanh V kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm giao cho Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò với thành phần xét xử khác xét xử lại theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt ông T, ông V, anh S, anh T1, bà T3, bà P, bà N. Các đương sự khẳng định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án. Ông V thay đổi yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình.
Ông V trình bày: Thực hiện theo thỏa thuận trước đây. Ông V sẽ trả tiền giá trị đất để giữ đất sử dụng.
Ông T trình bày: Không đồng ý thực hiện theo thỏa thuận vì ông V không thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận.
Bà P trình bày: Thống nhất theo tờ thỏa thuận ngày 07/11/2019 và yêu cầu thực hiện theo tờ thỏa thuận.
Bà N, chị T3 trình bày: Không đồng ý thực hiện theo tờ thỏa thuận ngày 07/11/2019.
Anh T1, anh S trình bày: Thống nhất không có phát sinh tranh chấp yêu cầu chia thừa kế gì trong vụ án nên không có ý kiến.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Thanh V. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa quyết định: Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật. Ông V có đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu chia tài sản cho ông V theo tờ di chúc. Xét yêu cầu này là yêu cầu phản bác, không phải yêu cầu phản tố.
[2.1] Xét tờ thuận ngày 07/11/2019 ông V và các đương sự xác định bà D1 chết không để lại di chúc. Ông V yêu cầu giải quyết theo thỏa thuận. Tuy nhiên, ông T và bà N không đồng ý, do đây chỉ là sự thỏa thuận nên Tòa án không căn cứ để buộc thực hiện.
[2.2] Xét di chúc mà phía bị đơn cung cấp:
Ông V xác định chữ ký trong di chúc là của cụ D1, yêu cầu ngừng phiên tòa để giám định chữ ký của cụ D1. Tuy nhiên ông T không yêu cầu giám định, do đó, do đó Tòa án không chấp nhận yêu cầu ngừng phiên tòa để thực hiện việc giám định, vì nghĩa vụ chứng minh là của ông T.
Xét tờ di chúc do ông V cung cấp: tờ di chúc không đúng tên bà D1, không có năm sinh, không có thông tin thửa đất. Theo bà P là người trực tiếp viết nội dung di chúc cho cụ D1 ký tên. Sau đó vài ngày gặp bà T7 và ông N1 đi chợ nhờ ghé ký tên. Tại Điều 631 của Bộ luật dân sự quy định về nội dung của di chúc và Điều 634 của Bộ luật dân sự quy định về di chúc bằng văn bản có người làm chứng. Căn cứ những quy định tại các điều luật trên thì tờ di chúc mà ông V đưa ra là chưa đủ cơ sở để xác định di chúc là hợp pháp. Do di chúc của bà D1 không hợp pháp nên sẽ chia theo pháp luật.
[2.3] Về di sản:
- Người để lại di sản: là của cụ Lê Văn A1 chết năm 1999, cụ Nguyễn Thị Kim D1 chết năm 2007.
- Hàng thừa kế thứ 1 gồm: gồm 08 người con: Lê Phát T, Lê Kim T2 (chết năm 2022), Lê Kim P, Lê Thanh V, Lê Thị Thanh N, Lê Thị Thanh T4, Lê Vinh H (chết năm 1985), Lê Ngọc A.
- Tài sản cụ D1 để lại: gồm 4 thửa đất, cụ thể:
1. Lê Vinh H (chết năm 1985). Các con gồm: Lê Quang V1, Lê Quan S, Lê Trần Gia C, Lê Trần Sao L, Lê Kim T2.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T2 gồm có Trần Thị T3, Trần Công D và chồng của bà T2 đã chết năm 2023.
Thửa 492, diện tích theo giấy là 210m², đất Hg/dbn;
Thửa 493a, diện tích theo giấy 5.398m2, đất 2L, cùng tờ bản đồ số 5;
Thửa 76a, diện tích 275m2 đất LNK và thửa 76b, diện tích 250 mà đất T, không ghi tờ bản đồ,
Cùng được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Lấp V3) cấp cho bà Nguyễn Thị Kim D1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 11/5/1992.
Trong đó: phần các đương sự yêu cầu là thửa 492 và 493a.
Đối với thửa 76a và 76b do các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Xét thửa 492 và 493a:có giấy chứng nhận do cụ D1 đứng tên. Do hiện trạng hiện nay là phần đất ông Vũ t lúa, không có vị trí phân biệt ranh giới, do đó, không xác định được ranh đất của 02 thửa nên tiến hành đo chung diện tích thể hiện 02 thửa này là 5.910,10m².
Ông V cho rằng vị trí ranh giáp ông Hứa Quang V4 là từ hàng rào ông V4 trở về đất tranh chấp là 02m và giáp ông Ú là trở vô 1,2m, yêu cầu cầu đo đạc lại để trừ vô phần đất của bà D1 để lại. Tuy nhiên lời trình bày của ông V cho rằng không có giấy tờ thỏa thuận này, mà chỉ có ông V ký tên vào biên bản ký giáp ranh cho ông V4 và ông Ú làm giấy tờ đất, do đó, không có căn cứ để tiến hành đo lại.
Đối với ranh đất giáp bà N2, ông B1,Ủy ban nhân dân xã M xác định đất do bà D1 đứng tên nên ông V không có quyền kiện tranh chấp ranh, hiện nay qua khảo sát thực tế đã có trụ đá làm ranh, phần đất ông V làm lúa nên mặt bằng thấp, còn phía đtấ bà N2 và ông B1 trồng cây ăn trái nên lên bờ capo, phân biệt ranh giới rõ ràng theo trụ đá, đồng thời bà N2 và ông B1 khẳng định ông V sử dụng cũng không lấn chiếm gì, do đó, phần ranh đất này sau khi giải quyết phần đất thừa kế xong, nếu các đương sự có tranh chấp ranh thì yêu cầu giải quyết thành vụ kiện khác.
Do 02 thửa 492 và 493a không phân biệt được ranh giới nên xác định phần diện tích tranh chấp được đo thực tế là 5.910,10m² để chia là phù hợp.
[2.4] Về giá đất: Theo biên bản định gía tài sản ngày 01/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện L. Trong đó:
- Thửa đất số 492: Loại đất Hg/dbn theo quy định không có loại đất này nên không định giá. là 2.000.000 đồng/m². Loại đất LNK là 100.000 đồng/m².
- Thửa đất số 493a: Loại đất lúa là 80.000 đồng/m².
Do đất HG/dbn hiện nay không quy định mục đích sử dụng loại đất này, mà hiện trạng đang trồng lúa nên xem xét giải quyết và công nhận mục đích sử dụng là đất lúa.
Do bà T4, hàng thừa kế của ông H2, ông A không yêu cầu và có đơn từ chối hưởng di sản thừa kế nên Tòa án không xem xét. Phần còn lại chia đều thành 05 phần cho ông T, ông V, bà V5, bà N và hàng thừa kế của bà T2.
Tuy nhiên, hiện nay do ông T và bà P cùng yêu cầu được nhận cùng 1 vị trí; xét thấy:
Phần đất phía sau liền kề phần đất tranh chấp do bà P trực tiếp sử dụng từ trước đến nay, khi Tòa án giải quyết thì cấp cho hộ Lê Phát T, chung hộ có bà P. Do đó, đấy là phần đất khác Tòa án không xem xét nhưng hiện nay ông T không trực tiếp sử dụng, bà P cũng không yêu cầu được giao phần đất tiếp giáp phần đất này. Do đó, Toà án không xem xét mà cần chấp nhận theo yêu cầu của ông T để việc canh tác được thuận lợi, có đường nước là phù hợp.
[3] Đối với các đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[4] Đồng thời căn cứ vào nội dung quyết định các đương sự phải chịu tiền án phí, chi phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Sau khi xét xử sơ thẩm thì ông V kháng cáo; tại phiên tòa ông V yêu cầu sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, kháng cáo yêu cầu được trả giá trị đất thực hiện theo tờ thỏa thuận trước đây và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chia đất. Ông V không cung cấp thêm chứng cứ gì mới.
[6] Tại các phiên tòa phúc thẩm, các đương sự xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự không còn chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy ngoài nhận định Tòa án cấp sơ thẩm ra các đương sự thống nhất đất của ông A, bà D1 để lại. Ông V cũng đồng ý chia thừa kế như Tòa án cấp sơ thẩm phân chia nhưng ông không đồng ý giao đất mà trả giá trị đất theo tờ thỏa thuận. Nhưng các đương sự không thống nhất thỏa thuận được việc trả giá trị. Đối với việc sử dụng đường nước theo trình bày của ông V thì ông V sử dụng thuận tiện, của các đương sự khác thì không thuận tiện, xét đây chỉ là ý kiến của ông V. Các đương sự khác không có ý kiến gì về việc không thuận tiện sử dụng đất nên không xem xét ý kiến này của ông V. Ranh đất thì giữa đất tranh chấp với bà Á chỉ là hai phần đất liền nhau đất tranh chấp đất ruộng, đất bà Á là đất vườn, các đương sự đồng thừa kế thống nhất ranh. Do đó thống nhất giữ nguyên nhận định của bản án sơ thẩm do tờ thỏa thuận không có giá trị thực hiện, thừa nhận bà D1 chết không có để lại di chúc. Vì vậy không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Thanh V là đúng theo quy định pháp luật.
[7] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông V; giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên ông Lê Thanh V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Thanh V.
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Lê Phát T.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thị Thanh N.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Kim P.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Trần Thị T3 và anh Trần Công D.
- Ông Lê Phát T được nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493a và 492, trong phạm vi các mốc A, M4, M3, D, C về A, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Lấp V3) cấp cho bà Nguyễn Thị Kim D1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 11/5/1992. Đất tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Lê Thanh V được nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493a và 492, trong phạm vi các mốc A, B, M8, M5 về A, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Lấp V3) cấp cho bà Nguyễn Thị Kim D1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 11/5/1992. Đất tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Lê Thị Thanh N được nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493a và 492, trong phạm vi các mốc D, F, H, K, C về D, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Lấp V3) cấp cho bà Nguyễn Thị Kim D1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 11/5/1992. Đất tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Chị Trần Thị T3 và anh Trần Công D được nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493a và 492, trong phạm vi các mốc D, F, M2, M1, L, K, H về F, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Lấp V3) cấp cho bà Nguyễn Thị Kim D1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 11/5/1992. Đất tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Lê Kim P được nhận hiện vật là diện tích 1.126,8m², thuộc một phần của thửa 493a và 492, trong phạm vi các mốc B, C, K, L, M8 về B, được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Lấp V3) cấp cho bà Nguyễn Thị Kim D1 đứng tên quyền sử dụng đất ngày 11/5/1992. Đất tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Các đương sự được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục để được cấp quyền sử dụng đất theo Bản án của Tòa án.
(Có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án và sơ đồ đo đạc thực tế phần đất tranh chấp ngày 25/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L kèm theo)
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lê Phát T, bà Lê Thị Thanh N, bà Lê Kim P được miễn án phí.
- Buộc ông Lê Thanh V phải nộp 4.507.200 đồng án phí sơ thẩm dân sự.
- Buộc chị Trần Thị T3 và anh Trần Công D phải nộp 4.507.200 đồng án phí sơ thẩm dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.878.000 đồng theo biên lai số 0003631 ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò. Anh D và chị T3 phải nộp thêm 2.629.200 đồng.
6. Về chi phí đo đạc, định giá:
Tổng cộng là 2.200.000 đồng. số tiền này ông T đã nộp đủ, chi xong, nên buộc bà Lê Thị Thanh N, bà Lê Kim P, chị Trần Thị T3 và anh Trần Công D mỗi người phải trả lại cho ông T là 440.000 đồng.
7. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Lê Thanh V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007499 ngày 14/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò. Ông V không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |
Bản án số 510/2024/DS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Số bản án: 510/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Lê Phát Triển BĐ: Lê Thanh Vũ
