|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 510/2025/HS-PT Ngày: 10- 6- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lê Na
Các Thẩm phán: 1. Ông Trương Thành Trung
2. Ông Nguyễn Ngọc Huân
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 334/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Phùng Thị Thu H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HSST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phùng Thị Thu H, tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1982; Nơi sinh: thị xã S, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: thôn C, xã C (nay là L), huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Bố đẻ: Phùng Văn L (đã chết); Mẹ đẻ: Phạm Thị H1 - sinh năm 1954; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ ba; Chồng: Đỗ D - sinh năm: 1979; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2005;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/5/2024, tạm giam từ ngày 05/6/2024 đến ngày 26/8/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Vắng mặt.
Trong vụ án còn có các bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Thị Thu H, sinh năm 1982, HKTT: Thôn C, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội hiện đang làm nghề kinh doanh cửa hàng bán quần áo và bán đồ ăn tại thôn B, xã C (nay là L), huyện T, thành phố Hà Nội. Ngoài việc kinh doanh buôn bán, H còn tổ chức đánh bạc dưới hình thức ghi bán số lô, đề cho một số đối tượng trên địa bàn xã C nhằm thu lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 5/2024 đến ngày 26/5/2024, H đã nhiều lần bán số lô đề cho nhiều đối tượng đánh bạc:
Khi bán số lô số đề cho các đối tượng đánh bạc, H sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S21 màu vàng đồng, bên trong lắp 01 sim số 0968001282, sử dụng tài khoản Zalo có tên hiển thị là “P” đăng ký bằng số điện thoại trên của H để nhắn tin trao đổi mua bán số lô, số đề với các đối tượng đánh bạc. Bị cáo H sử dụng các tài khoản gồm: Tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V; Tài khoản số 0330119828888 mở tại ngân hàng M1; Tài khoản số 2214198256789 mở tại ngân hàng A đều mang tên chủ tài khoản là Phùng Thị Thu H để nhận tiền mua số lô đề của các đối tượng đánh bạc và thanh toán tiền thắng thua với các đối tượng đánh bạc.
H và các đối tượng đánh bạc thỏa thuận với với nhau về số tiền cược và thắng như sau: Đối với số lô H bán với giá 22.500 đồng/01 điểm, nếu thắng sẽ được trả 80.000 đồng/01 điểm; số đề là 10.000 đồng/01 điểm, nếu thắng sẽ được trả 700.000 đồng/01 điểm (Khi thu tiền đánh đề của các đối tượng đánh bạc, H sẽ “giảm” 10%); số lô xiên 3 với giá 10.000 đồng/01 điểm, nếu thắng sẽ được trả 400.000 đồng/01 điểm.
Bị cáo H đã bán số lô, số đề cho các đối tượng đánh bạc cụ thể như sau:
Hành vi mua bán số lô, số đề của bị cáo Phùng Thị Thu H và bị cáo Nguyễn Văn N:
Quá trình đánh bạc bị cáo Nguyễn Văn N sử dụng tài khoản Zalo có tên “Anh N” đăng ký từ số điện thoại 0915.185.xxx của N để nhắn tin đến tài khoản Zalo được đăng ký bằng số điện thoại của 0968.001.xxx của bị cáo H để mua số lô số đề:
- Ngày 12/5/2024: Bi cáo N mua của bị cáo H các số đề A: 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 04, 14, 24, 34, 44, 54, 64, 74, 84, 94 mỗi số 1.000.000 đồng, các số đề B: 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 04, 14, 24, 34, 44, 54, 64, 74, 84, 94 mỗi số 1.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo N mua số đề của bị cáo H vào ngày 12/5/2024 là 40.000.000 đồng (khi trả tiền mua số đề N được H giảm 10% tiền mua số đề). Kết quả sau mở thưởng bị cáo N đã trúng đề A số 54 và được bị cáo H trả thưởng 70.000.000 đồng.
Tổng số tiền bị cáo N và bị cáo H đánh bạc ngày 12/5/2024 là 110.000.000 đồng. Bị cáo N và bị cáo H đã thanh toán tiền mua số lô, đề và trả thưởng cho nhau.
Số tiền bị cáo N thu lời bất chính là: 34.000.000 đồng.
- Ngày 15/5/2024: Bị cáo N mua của bị cáo H các số đề A: 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39 mỗi số 2.000.000 đồng; các số đề a: 03, 13, 23, 33, 43, 53, 63, 73, 83, 93 mỗi số 2.000.000 đồng; các số đề B: 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39 mỗi số 2.000.000 đồng; các số đề b: 03, 13, 23, 33, 43, 53, 63, 73, 83, 93 mỗi số 2.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo N mua số đề của bị cáo H vào ngày 15/5/2024 là 80.000.000 đồng (khi trả tiền mua số đề N được H giảm 10% tiền mua số đề). Kết quả sau mở thưởng bị cáo N không trúng số đề nào.
Tổng số tiền bị cáo N và bị cáo H đánh bạc ngày 15/5/2024 là 80.000.000 đồng. Bị cáo N đã thanh toán tiền mua số lô đề cho bị can H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 72.000.000 đồng.
- Ngày 25/5/2024: Bị cáo N mua của bị cáo H: số đề A các số: 50, 51, 52, 53, 55, 58, 59 mỗi số 500.000 đồng tổng là 3.500.000 đồng; các số đề B: 54, 56, 57 mỗi số 1.000.000 đồng tổng là 3.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo N mua số đề của bị cáo H vào ngày 25/5/2024 là: 7.500.000 đồng (khi trả tiền mua số đề N được H giảm 10% tiền mua số đề). Kết quả sau mở thưởng bị cáo N không trúng các số đề trên.
Tổng số tiền bị cáo N và bị cáo H đánh bạc với nhau ngày 25/5/2024 là 7.500.000 đồng. Bị cáo N đã thanh toán tiền mua số lô đề cho bị cáo H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 7.500.000 đồng.
- Ngày 26/5/2024: Bị cáo N mua của bị cáo H: số lô B 96 số lượng 200 điểm tương đương số tiền 4.500.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng bị cáo N không trúng số lô trên.
Tổng số tiền bị cáo N và bị cáo H đánh bạc với nhau ngày 26/5/2024 là 4.500.000 đồng. Bị cáo N đã thanh toán tiền mua số lô đề cho bị cáo H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 4.500.000 đồng.
Tổng số lần đánh bạc giữa bị cáo N và bị cáo H là 04 (bốn) lần gồm 03 (ba) lần số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng/lần trở lên và 01 lần đánh bạc dưới 5.000.000 đồng/lần. Trong 03 lần đánh bạc với số tiền từ 5.000.000 đồng/lần trở lên thì có 02 (hai) lần đánh bạc trên 50.000.000 đồng/lần (năm mươi triệu đồng).
Hành vi mua bán số lô, số đề của bị cáo Phùng Thị Thu H và bị cáo Đỗ D:
Quá trình đánh bạc bị cáo Đỗ D sử dụng tài khoản Zalo có tên “Đỗ Dung” được đăng ký bằng số điện thoại 0904.595.xxx của bị cáo D nhắn tin đến tài khoản Zalo “Phùng Hà” được đăng ký bằng số điện thoại 0968.001.xxx của bị cáo H để mua số lô, số đề. Cụ thể:
- Ngày 11/5/2024: Bị cáo D mua của bị cáo H: đề B số 66 số tiền 500.000 đồng, các số đề B số: 65, 67, 68, 69, 64, 62 mỗi số 100.000 đồng, tổng là 600.000 đồng; lô B số 37 số lượng 300 điểm tương đương số tiền 6.750.000 đồng; lô B số 26 số lượng 100 điểm tương đương 2.250.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo D mua số lô, số đề của bị cáo H ngày 11/5/2024 là 10.100.000 đồng (D được H giảm 10% tiền đề là 100.000 đồng). Sau khi có kết quả mở thưởng D thắng số lô 26 số lượng 100 điểm tương đương số tiền là 8.000.000 đồng.
Tổng số tiền D và H đánh bạc vào ngày 11/5/2024 là 18.100.000 đồng. Bị cáo H và bị cáo D đã thanh toán tiền mua lô đề và trúng thưởng.
Số tiền H thu lời bất chính là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
- Ngày 12/5/2024: Bị cáo D mua của bị can H: đề B các số 67, 64, 63, 62 mỗi số 100.000 đồng tổng là 400.000 đồng; đề B số 69 số tiền 200.000 đồng; đề B 65 số tiền 500.000 đồng; lô B 37 số lượng 300 điểm tương đương 6.750.000 đồng; lô xiên 3 A các số 82 - 69 - 00 số lượng 25 điểm tương đương số tiền 250.000 đồng; đề A số 68 và 80 mỗi số 150.000 đồng tổng là 300.000 đồng, đề B số 13, 68, 14, 74 mỗi số 200.000 đồng tổng là 800.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo D mua số lô, số đề của bị cáo H ngày 12/5/2024 là 9.200.000 đồng (D được H giảm 10% tiền đề là 200.000 đồng). Sau khi có kết quả mở thưởng ngày 12/5/2024, D không trúng số lô số đề nào.
Tổng số tiền bị cáo D và bị cáo H đánh bạc vào ngày 12/5/2024 là 9.200.000 đồng. Bị cáo D đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị cáo H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).
- Ngày 13/5/2024: Bị cáo D mua của bị cáo H số đề B 55 số tiền 500.000 đồng; số đề B 56, 59, 50 mỗi số 200.000 đồng tổng là 600.000 đồng; số lô B 74 số lượng 200 điểm tương đương 4.500.000 đồng. Tổng số tiền D mua số lô, số đề của H vào ngày 13/5/2024 là 5.600.000 đồng (D được H giảm 10% tiền đề là 100.000 đồng). Sau khi có kết quả mở thưởng D không trúng thưởng số lô, số đề nào.
Tổng số tiền bị cáo D và bị cáo H đánh bạc vào ngày 13/5/2024 là 5.600.000 đồng. Bị cáo D đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị cáo H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 5.500.000 đồng.
- Ngày 14/5/2024: Bị cáo D mua của bị cáo H: Đề B 66 số tiền 550.000 đồng; lô B số 56 số lượng 150 điểm tương đương 3.375.000 đồng; lô B các số 84, 46, 64 mỗi số 50 điểm tương đương 3.375.000 đồng; lô xiên 3B: 56 - 84 - 34 số lượng 25 điểm tương đương 250.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo D mua số lô, số đề của bị cáo H ngày 14/5/2024 là 7.550.000 đồng (D được H giảm 10% tiền đề là 50.000 đồng). Kết quả sau khi mở thưởng D không trúng thưởng số lô, số đề nào.
Tổng số tiền D và H đánh bạc vào ngày 14/5/2024 là 7.550.000 đồng. Bị cáo D đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị cáo H.
Số tiền H thu lời bất chính là: 7.500.000 đồng.
- Ngày 15/5/2024: Bị cáo D mua của bị cáo H: Đề B số 00 số tiền 250.000 đồng; đề B các số 01, 02, 03 mỗi số 100.000 đồng tổng là 300.000 đồng; lô B số 76 số lượng 200 điểm tương đương 4.500.000 đồng; lô B con số 27, 72 mỗi con 20 điểm, tổng là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng); Đề A con số 88 đánh 350.000 đồng; đề B con số 03 đánh 200.000 đồng. Tổng số tiền D mua số lô số đề của H ngày 15/5/2024 là 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn) và đã thanh toán cho H 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Kết quả sau mở thưởng D không trúng các số lô đề nào.
Tổng số tiền đánh bạc giữa D và H ngày 15/5/2024 là 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Bị cáo D đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị cáo H.
Bị cáo H thu lời bất chính là 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
- Ngày 25/5/2024: Bị cáo D mua của bị cáo H: đề B 83 số tiền 220.000 đồng; số đề B 87 số tiền 330.000 đồng; số lô B 87 số lượng 40 điểm tương đương 900.000 đồng; số lô B 59 số lượng 60 điểm tương đương 1.350.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo D mua số lô đề của bị cáo H vào ngày 25/5/2024: 2.800.000 đồng (D không được Hà trừ 10%). Kết quả sau khi mở thưởng bị cáo D không trúng thưởng số lô đề nào.
Tổng số tiền bị cáo D và bị cáo H đánh bạc vào ngày 25/5/2024 là 2.800.000 đồng. Bị cáo D đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị cáo H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 2.800.000 đồng.
- Ngày 26/5/2024: Bị cáo D mua của bị cáo H: đề B 37 số tiền 330.000 đồng; lô B 37 số lượng 70 điểm tương đương 1.575.000 đồng; lô xiên 3B các số 37 - 86 - 59 số lượng 23 điểm tương đương 230.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo D mua số lô đề của bị cáo H vào ngày 26/5/2024: 2.135.000 đồng (D không được Hà trừ 10%). Kết quả sau mở thưởng bị cáo D không trúng các số lô đề đã mua trên.
Tổng số tiền bị cáo D và bị cáo H đánh bạc với nhau ngày 26/5/2024 là 2.135.000 đồng. Bị cáo D đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị cáo H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 2.135.000 đồng.
Tổng số lần đánh bạc giữa bị cáo D và bị cáo H là 07 (bảy) lần. Trong đó, có 05 (năm) lần số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng/lần trở lên, 02 lần đánh bạc dưới 5.000.000 đồng/lần, không có lần nào trên 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Hành vi mua bán số lô, số đề của bị cáo Phùng Thị Thu H và bị cáo Nguyễn Lương M từ ngày 14/5/2024 đến ngày 26/5/2024:
Quá trình đánh bạc bị cáo Nguyễn Lương M sử dụng tài khoản Zalo có tên “Lương Mạnh” đăng ký bằng số điện thoại “08071104xxx” của M để nhắn tin đến tài khoản Z “Phùng Hà” được đăng ký bằng số điện thoại của “0968.001.xxx” của bị cáo H để mua số lô, số đề. Cụ thể:
- Ngày 14/5/2024: Bị cáo M mua của bị cáo H: số lô B 59, 95 mỗi số 50 điểm tổng 100 điểm tương đương 2.250.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo M mua số lô đề của bị cáo H vào ngày 14/5/2024 là 2.250.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng bị cáo M không trúng số lô nào.
Tổng số tiền bị cáo H và bị cáo M đánh bạc ngày 14/5/2023 là 2.250.000 đồng. Bị cáo M đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị cáo H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 2.250.000 đồng.
- Ngày 15/5/2024: Bị cáo M mua của bị cáo H: số lô B 52 số lượng 50 điểm tương đương 1.125.000 đồng; số lô B 27 số lượng 50 điểm tương đương 1.125.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo M mua số lô đề của bị cáo H vào ngày 14/5/2024 là 2.250.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng, bị cáo M trúng 02 nháy (lần) số lô 52 tương đương 100 điểm, được H trả thưởng 8.000.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc của M và H ngày 15/5/2024 là 10.250.000 đồng. Bị cáo M và bị cáo H đã thanh toán tiền mua lô đề và trả thưởng cho nhau.
Số tiền bị cáo M thu lời bất chính là 5.750.000 đồng.
- Ngày 17/5/2024: Bị cáo M mua của bị cáo H: số lô B 28 số lượng 50 điểm tương đương 1.125.000 đồng; số lô B 97 số lượng 50 điểm tương đương 1.125.000 đồng. Tổng số tiền M mua số lô đề của H vào ngày 14/5/2024 là 2.250.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng M không trúng số lô nào.
Tổng số tiền H và M đánh bạc ngày 14/5/2023 là 2.250.000 đồng. Bị cáo M đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị cáo H.
Số tiền H thu lời bất chính là: 2.250.000 đồng.
- Ngày 18/5/2024: Bị cáo M mua của bị cáo H: số lô B 28 số lượng 65 điểm tương đương 1.462.500 đồng; số lô B 97 số lượng 65 điểm tương đương 1.462.500 đồng. Tổng số tiền bị cáo M mua số lô, số đề của H vào ngày 18/5/2024 là 2.925.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng bị can M không trúng số lô nào.
Tổng số tiền bị cáo H và bị cáo M đánh bạc ngày 18/5/2023 là 2.925.000 đồng. Bị cáo M đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị cáo H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 2.925.000 đồng.
- Ngày 19/5/2024: Bị cáo M mua của bị cáo H: số lô B 23 số lượng 70 điểm tương 1.575.000 đồng, số lô B 32 số lượng 70 điểm tương đương 1.575.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo M mua số lô đề của bị cáo H vào ngày 19/5/2024 là 3.150.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng bị cáo M không trúng số lô đề đã mua trên.
Tổng số tiền bị cáo H và bị cáo M đánh bạc ngày 19/5/2023 là 3.150.000 đồng. Bị cáo M đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị cáo H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 3.150.000 đồng.
- Ngày 20/5/2024: Bị cáo M mua của bị cáo H, đề A 09 số tiền 220.000 đồng; đề B 09 số tiền 220.000 đồng (số tiền mua số đề được giảm 10 %); lô B 60 số lượng 50 điểm tương đương 1.125.000 đồng; số lô B 52 số lượng 50 điểm tương đương 1.125.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo M mua số lô đề của bị cáo H vào ngày 20/5/2024 là 2.650.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng bị cáo M trúng 03 nháy (lần) số lô B 52 tương đương 150 điểm lô, được H trả thưởng 12.000.000 đồng.
Tổng số tiền M và bị cáo H đánh bạc với nhau ngày 20/5/2024 là 14.650.000 đồng. Bị cáo M và bị cáo H đã thanh toán tiền mua lô đề và trả thưởng cho nhau.
Tổng số tiền M thu lời bất chính là: 9.350.000 đồng.
- Ngày 21/5/2024: Bị cáo M mua của bị cáo H các số lô B 06 số lượng 100 điểm tương đương 2.250.000 đồng; số lô B 60 số lượng 100 điểm tương đương 2.250.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo M mua số lô đề của bị cáo H vào ngày 21/5/2024 là 4.500.000 đồng. Kết quả sau khi mở thưởng, bị cáo M trúng lô B 06 số lượng 100 điểm, được H trả thưởng 8.000.000 đồng.
Tổng số tiền bị cáo M và bị cáo H đánh bạc với nhau ngày 21/5/2024 là 12.500.000 đồng. M và H đã thanh toán tiền mua lô đề và trả thưởng cho nhau.
Tổng số tiền bị cáo M thu lời bất chính là: 3.500.000 đồng.
- Ngày 22/5/2024: Bị cáo M mua của H: số lô B 22 số lượng 100 điểm tương đương 2.250.000 đồng; số lô B 77 số lượng 100 điểm tương đương 2.250.000 đồng; Tổng số tiền bị cáo M mua số lô đề của bị cáo H vào ngày 22/5/2024 là 4.500.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng, bị cáo M trúng số lô 22 số lượng 100 điểm, được bị can H trả thưởng 8.000.000 đồng.
Tổng số tiền M và H đánh bạc với nhau ngày 21/5/2024 là 12.500.000 đồng. Bị cáo M và bị cáo H đã thanh toán tiền mua lô đề và trả thưởng cho nhau.
Tổng số tiền tiền bị cáo M thu lời bất chính là: 3.500.000 đồng.
- Ngày 23/5/2024: Bị cáo M mua của bị cáo H, số lô B 25 số lượng 100 điểm tương đương 2.250.000 đồng; số lô B 52 số lượng 100 điểm tương đương 2.250.000 đồng; Tổng số tiền bị cáo M mua số lô đề của bị cáo H vào ngày 23/5/2024 là 4.500.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng bị cáo M không trúng số lô nào.
Tổng số tiền bị can H và bị can M đánh bạc ngày 23/5/2024 là 4.500.000 đồng. Bị cáo M đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị cáo H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 4.500.000 đồng
- Ngày 25/5/2024: Bị cáo M mua của bị cáo H, lô B 45 số lượng 60 điểm tương đương 1.350.000 đồng; số lô B 54 số lượng 60 điểm tương đương 1.350.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo M mua số lô đề của bị cáo H vào ngày 25/5/2024 là 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Kết quả sau mở thưởng M không trúng số lô đề đã mua.
Tổng số tiền bị cáo H và bị cáo M đánh bạc ngày 25/5/2024 là 2.700.000 đồng. Bị cáo M đã thanh toán tiền mua lô đề cho bị can H.
Số tiền bị cáo H thu lời bất chính là: 2.700.000 đồng.
- Ngày 26/5/2024: Bị cáo M mua của bị cáo H: lô B 00 số lượng 50 điểm tương đương 1.125.000 đồng. Kết quả mở thưởng bị cáo M không trúng thưởng.
Tổng số tiền bị cáo M và bị cáo H đánh bạc với nhau ngày 26/5/2024 là 1.125.000 đồng. M chưa thanh toán tiền mua số lô cho H.
Tổng số lần đánh bạc giữa bị cáo M và bị cáo H là 11 (mười một) lần. Trong đó, có 04 (bốn) lần số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng/lần trở lên, 07 lần đánh bạc dưới 5.000.000 đồng/lần, không có lần nào trên 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Hành vi mua bán số lô, số đề của bị cáo Phùng Thị Thu H và bị cáo Nguyễn Đức L1:
Quá trình đánh bạc bị cáo Nguyễn Đức L1 sử dụng tài khoản Zalo có tên “Đồ Gỗ Đức Lực” được đăng ký bằng số điện thoại 0974.735.xxx của L1 để nhắn tin đến tài khoản Zalo được đăng ký bằng số điện thoại của 0968.001.xxx của bị cáo H để mua số lô số đề:
- Ngày 03/5/2024, L1 mua của H: số lô A 57 số lượng 50 điểm tương đương 1.125.000 đồng, số lô B 57 số lượng 50 điểm tương đương 1.125.000 đồng; số lô A 75 số lượng 50 điểm tương đương 1.125.000 đồng; số lô A 75 số lượng 50 điểm tương đương 1.125.000 đồng. Tổng số tiền L1 mua số lô của H vào ngày 03/5/2024 là 4.500.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng L1 trúng số lô 57 số lượng 03 lần (nháy) tương đương là 150 điểm và được H trả thưởng 12.000.000 đồng.
Tổng số tiền L1 và H đánh bạc với nhau ngày 03/5/2024 là 16.500.000 đồng. Bị cáo L1 và bị cáo H đã thanh toán tiền mua số lô đề và trả thưởng với nhau.
Số tiền L1 thu lời bất chính là: 7.500.000 đồng.
- Ngày 24/5/2024, L1 mua của H: số lô B 66 số lượng 50 điểm tương đương số tiền là 1.125.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng L1 không trúng số lô trên.
Tổng số tiền L1 và H đánh bạc với nhau ngày 24/5/2024 là 1.125.000 đồng. Bị cáo L1 đã thanh toán tiền mua số lô đề cho bị cáo H.
Số tiền H thu lời bất chính là: 1.125.000 đồng.
Tổng số lần đánh bạc giữa bị cáo L1 và bị can H là 02 (hai) lần. Trong đó, có 01 (một) lần số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng/lần trở lên, 01 lần đánh bạc dưới 5.000.000 đồng/lần và không lần nào trên 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Hành vi mua bán số lô, số đề của bị cáo Phùng Thị Thu H và bị cáo Nguyễn Đăng K:
Bị cáo Nguyễn Đăng K sử dụng tài khoản Zalo có tên “Nguyễn Đăng K” được đăng ký bằng số điện thoại 0523.598.xxx của K để nhắn tin đến tài khoản Zalo được đăng ký bằng số điện thoại của 0968.001.xxx của bị cáo H để mua số lô:
- Ngày 26/5/2024, K mua của H, số lô 88 số lượng 25 điểm tương đương 562.500 đồng; số lô 92 số lượng 25 điểm tương đương 562.500 đồng. Tổng số tiền K mua số lô của H vào ngày 26/5/2024 là 1.125.000 đồng. Kết quả sau mở thưởng Khiêu trúng cả 02 số lô trên tổng là 50 điểm được H trả thưởng 4.000.000 đồng
Tổng số tiền K và H đánh bạc với nhau ngày 26/5/2024 là 5.125.000 đồng. Bị cáo K đã thanh toán tiền mua số lô đề cho bị cáo H nhưng bị cáo H chưa thanh toán tiền thắng cho K.
Số tiền bị cáo H thu lời 1.125.000 đồng.
Tổng số lần đánh bạc giữa bị cáo K và bị cáo H là 01 (một) lần. Trong đó, có 01 (một) lần số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng/lần trở lên và không lần nào trên 50.000.000 đồng/lần (năm mươi triệu đồng).
Tài liệu giám định:
Cơ quan CSĐT - Công an huyện T - Bộ C tiến hành khôi phục dữ liệu 04 (bốn) chiếc điện thoại của Phùng Thị Thu H, Đỗ D, Nguyễn Lương M, Nguyễn Văn N. Kết quả được lưu trong đĩa DVD. cụ thể:
- Đối với điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S21+5G màu vàng đồng đã qua sử dụng, số IMEI 1: 352603062337782, số IMEI 2: 3528169023337784 của Phùng Thị Thu H (Ký hiệu: A1):
Tại bản kết luận số 7181/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của V1 Bộ C kết luận: Tìm thấy 179197 tin nhắn Zalo. Chi tiết được thể hiện trong thư mục “Dulieu” lưu trữ trong 01 đĩa DVD-R kèm theo.
- Đối với 03 chiếc điện thoại gồm:
+ Điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 PRO MAX, dung lượng 64GB, màu hồng đã qua sử dụng, số Imeil: 352843111888803 của Nguyễn Văn N. (Ký hiệu: A1); Điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno6Z5G màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI 1: 869904052181412; IMEI 2: 869904052181404 của Đỗ Dung . (Ký hiệu: A2); Điện thoại nhãn hiệu nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX màu xanh đã qua sử dụng, số IMEI 1: 356721114406433, IMEI 2: IMEI 2: 356721114165633 của Nguyễn Lương M. (Ký hiệu: A3):
Tại bản kết luận số 4661/KL-KTHS ngày 17/7/2024 của của V1 Bộ C kết luận:
- - Tìm thấy 12168 tin nhắn Zalo. Chi tiết được thể hiện trong thư mục “A1”.
- - Tìm thấy 1856 tin nhắn Zalo. Chi tiết được thể hiện trong thư mục “A2
- - Tìm thấy 7144 tin nhắn Zalo. Chi tiết được thể hiện trong thư mục “A3”.
Toàn bộ dữ liệu điện tử của 03 máy điện thoại này được lưu giữ trong 01 đĩa DVD.
Quá trình kiểm tra xác định: Ngoài những tin nhắn zalo đã thu giữ trong quá trình điều tra thì không thu thập được thêm tài liệu nào khác liên quan đến vụ án.
- Bị cáo Phùng Thị Thu H có hành vi bớt “10%” số tiền mua số đề cho các con bạc nhằm thu hút các con bạc. Tuy nhiên, Căn cứ Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Toà án nhân dân tối cao xác định:
“Số tiền bỏ ra ghi lô đề không chỉ là số tiền thực tế họ đưa cho người ghi đề, ghi cá độ mà phải là số tiền ghi trên tờ phơi hoặc giấy tờ chứng minh việc đánh bạc trái phép”. Do đó, số tiền đánh bạc trong trường hợp này chính là số tiền các con bạc thoả thuận mua số đề của H.
- Đối với đối tượng Nguyễn Đức T: Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập T nhiều lần. Tuy nhiên, hiện T không có mặt tại địa phương, gia đình T không biết T đi đâu, làm gì. Ngoài lời khai của Phùng Thị Thu H về việc có bán số lô, số đề cho T thì không có người biết việc này hay tài liệu nào khác. Do đó, chưa đủ căn cứ để xử lý đối với T trong vụ án này.
Ngày 28/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành tách phần nội dung liên quan đến Nguyễn Đức T để tiếp tục xác minh, xử lý sau.
- Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã triệu tập đối tượng Đỗ Khắc Đ, sinh năm 1977; trú tại: thôn C, C, T, Hà Nội làm việc. Đối tượng Đ khai nhận không liên quan đến hành vi đánh bạc của H. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành cho đối chất giữa Đ và H nhưng không giải quyết được mâu thuẫn. Ngoài lời khai của Phùng Thị Thu H về việc chuyển các số lô, số đề cho Đ để hưởng “hoa hồng” thì không còn tài liệu nào khác xác định có việc chuyển số lô, số đề và xác định được các số lô, số đề chuyển giữa H và Đ.
Căn cứ Công văn số 2160/VKSTC-V14 ngày 05/6/2023 của VKSNDTC về việc Giải đáp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của BLHS, BLTTHS quy định: Việc xác định cụ thể số lô, số đề là cơ sở để xác định số tiền dùng để đánh bạc của người chơi lô đề, chủ đề; có ý nghĩa nhằm làm rõ ý thức, mục đích, hành vi của người chơi đề cũng như tình tiết của vụ án; là cơ sở để đánh giá chứng cứ. Do đó, cần thiết phải xác định cụ thể số lô, số đề đã ghi trong vụ án về tội Đánh bạc quy định tại điều 321 BLHS. Do đó, không có căn cứ để xem xét xử lý đối với Đỗ Khắc Đ trong vụ án này.
Tang vật thu giữ:
- - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy S21+5G màu vàng đồng, số IMEI 1: 352603062337782, số IMEI 2: 3528169023337784. Bên trong lắp sim số 0968001282. Thu giữ của Phùng Thị Thu H.
- - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX màu xanh số IMEI 356721114406433, IMEI 2: 356721114165633. Thu giữ của Nguyễn Lương M.
- - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno6Z5G màu xanh, số IMEI 1: 869904052181412; IMEI 2: 869904052181404. Bên trong có sim 1 số 0904595731, sim 2 số 0917566186. Thu giữ của Đỗ Dung .
- - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 PRO MAX, dung lượng 64GB, màu hồng, số Imeil: 352843111888803, bên trong lắp sim thuê bao số 0915185158. Thu giữ của Nguyễn Văn N.
- - Số tiền 94.220.000 đồng (chín mươi tư triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng) tiền mặt thu giữ trên người H và trong két sắt nằm ở góc trong cùng bên trái gần cửa thoát hiểm tại cửa hàng của H ở thôn C, C, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Đối với đối tượng Nguyễn Huy L2, Cơ quan điều tra đã làm rõ từ ngày 16/5/2024 đến ngày 23/5/2024, Nguyễn Huy L2 đã có hành vi đánh bạc với bị cáo Phùng Thị Thu H bằng hình thức mua số lô của bị cáo H là 03 lần, tổng số tiền đánh bạc 2.100.000 đồng. Trong đó không có lần nào đánh bạc trên 5.000.000 đồng. Do vậy, không đủ căn cứ xác định Nguyễn Huy L2 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321-BLHS mà chỉ vi phạm hành chính hành vi: “Đánh bạc trái phép” quy định tại khoản 1, Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ – CP”. Mức phạt 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng). Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
- Đối với đối tượng Đặng Thị H2, Cơ quan điều tra đã làm rõ từ ngày 25/5/2024 đến ngày 26/5/2024, Đặng Thị H2 đã có hành vi đánh bạc với bị cáo Phùng Thị Thu H bằng hình thức mua số lô của bị cáo H với tổng là 02 lần, tổng số tiền đánh bạc là 6.925.000 đồng. Trong đó không có lần nào đánh bạc trên 5.000.000 đồng. Do vậy, không đủ căn cứ xác định Đặng Thị H2 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 - BLHS mà chỉ vi phạm hành chính hành vi: “Đánh bạc trái phép” quy định tại khoản 1, Điều 28 Nghị định 144/2021/ NĐ – CP”. Mức phạt 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng). Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Không.
- Đối với đối tượng Cao Thị Đ1, Cơ quan điều tra đã làm rõ ngày 29/4/2024, Cao Thị Đ1 đã có hành vi đánh bạc với bị cáo Phùng Thị Thu H bằng hình thức mua số lô của bị cáo H với tổng là 01 lần, tổng số tiền đánh bạc là 3.600.000 đồng. Do vậy, không đủ căn cứ xác định Cao Thị Đ1 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321- BLHS mà vi phạm hành chính hành vi: “Đánh bạc trái phép” quy định tại khoản 1, Điều 28 Nghị định 144/2021/ NĐ - CP”. Mức phạt 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng). Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Không.
- Đối với đối tượng Nguyễn Duy H3, Cơ quan điều tra đã làm rõ ngày 19/7/2023, Nguyễn Duy H3 đã có hành vi đánh bạc với bị cáo Phùng Thị Thu H bằng hình thức mua số lô của bị cáo H với tổng là 01 lần, tổng số tiền đánh bạc là 325.000 đồng. Do vậy, không đủ căn cứ xác định Nguyễn Duy H3 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321-BLHS mà chỉ vi phạm hành vi: “Đánh bạc trái phép” quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ – CP. Tuy nhiên, hành vi vi phạm hành chính của H3 đã hết thời hiệu xử lý từ ngày 19/7/2024.
- Đối với đối tượng Nguyễn Đức P, Cơ quan điều tra đã làm rõ từ ngày 29/4/2024 đến ngày 24/5/2024, Nguyễn Đức P đã có hành vi đánh bạc với bị cáo Phùng Thị Thu H bằng hình thức mua số lô của bị cáo H với tổng là 02 lần, tổng số tiền đánh bạc là 874.000 đồng trong đó không có lần nào đánh bạc trên 5.000.000 đồng. Do vậy, không đủ căn cứ xác định Nguyễn Đức P phạm tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321-BLHS mà vi phạm hành chính hành vi: “Đánh bạc trái phép” quy định tại khoản 1, Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ - CP”. Mức phạt 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng). Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số tiền thu lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm là 10.000 đồng (mười nghìn đồng).
Các đối tượng Đặng Thị H2, Nguyễn Đức P, Nguyễn Huy L2, Cao Thị Đ1, Cơ quan CSĐT ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” quy định tại khoản 1, Điều 28 Nghị định 144/2021/ NĐ - CP” với mức xử phạt và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
- Đối với đối tượng Nguyễn Duy H3: đã hết thời hiệu xử phạt hành chính, do đó không đề xuất xử phạt hành chính là có căn cứ.
Cáo trạng số 02/CT-VKSTT ngày 25/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất truy tố bị cáo Phùng Thị Thu H về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại khoản 2 Điều 322 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Nguyễn Văn N, Đỗ D, Nguyễn Lương M, Nguyễn Đức L1 và Nguyễn Đăng K về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Bản án Hình sự sơ thẩm số 11/2025/HSST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 322; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phùng Thị Thu H.
Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Thu H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”;
Xử phạt: Bị cáo Phùng Thị Thu H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ số ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2024 đến ngày 26/8/2024.
Ngoài ra bản án còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 05/02/2025, bị cáo Phùng Thị Thu H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phùng Thị Thu H vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Thị Thu H; Giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm số 11/2025/HSST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Bị cáo Phùng Thị Thu H được triệu tập đến phiên tòa hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Ngày 09/6/2025, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận được đơn xin hoãn phiên tòa lần 3 của bị cáo H với lý do bị cáo không đủ sức khỏe để tham gia phiên tòa. Tài liệu kèm theo gồm có phiếu khám vào viện và phiếu thu tạm ứng của bệnh viện Đ2. Tuy nhiên các tài liệu này đều là bản chụp được in ra nên Hội đồng xét xử không đánh giá được tính xác thực của các tài liệu kèm theo.
Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Phùng Thị Thu H đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhiều lần nhưng đều có đơn xin hoãn phiên tòa. Xét thấy việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giải quyết vụ án vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phùng Thị Thu H vắng mặt. Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, đủ cơ sở kết luận:
Từ ngày 19/7/2023 đến ngày 26/5/2024, bị cáo Phùng Thị Thu H đã có hành vi “Tổ chức đánh bạc” cho các bị cáo Đỗ D, Nguyễn Lương M, Nguyễn Văn N, Nguyễn Đức L1, Nguyễn Đăng K bằng hình thức bán số lô, số đề nhằm thu lợi bất chính.
Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo H và các bị cáo từ 5.000.000 đồng/ 01 lần trở lên là 315.975.000 đồng. Bị cáo H thu lời bất chính số tiền là 46.775.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc giữa bị cáo H với các bị cáo và các đối tượng khác với số tiền dưới 5.000.000 đồng /01 lần là 43.284.000 đồng. Bị cáo H thu lời bất chính số tiền là 31.999.000 đồng.
Trong các lần bị cáo H bán số lô, đề có 10 lần đánh bạc từ 5.000.000 đồng/01 lần trở lên và 07 lần đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng/01 lần, 02 lần bán số lô số đề với số tiền từ 20.000.000 đồng.
Ngày 15/5/2024, bị cáo H và các bị cáo đã đánh bạc với tổng số tiền là 96.750.000 đồng và bị cáo H thu lời 72.750.000 đồng.
Với hành vi như trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử hành vi của bị cáo Phùng Thị Thu H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 322 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Phùng Thị Thu H, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi của bị cáo Phùng Thị Thu H là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tổ chức đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Bị cáo Phùng Thị Thu H là bị cáo có vai trò cao nhất trong vụ án, tổ chức đánh bạc nhiều lần. Trong đó có 10 lần đánh bạc từ 5.000.000 đồng/01 lần trở lên và 07 lần đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng/01 lần, 02 lần bán số lô số đề với số tiền từ 20.000.000 đồng trở lên. Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo như yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Thị Thu H, giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm số 11/2025/HSST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Phùng Thị Thu H được chấp nhận nên bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Thị Thu H, giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm số 11/2025/HSST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Thu H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”;
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 322; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phùng Thị Thu H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2024 đến ngày 26/8/2024.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phùng Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lê Na |
Bản án số 510/2025/HS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm về tội tổ chức đánh bạc
- Số bản án: 510/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
