Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 510/2024/HS-ST

Ngày 19-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Công Danh;

2. Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 491/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 493/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử ngày 11/9/2024 đối với:

- Bị cáo: Lê Vĩnh H (tên gọi khác: Tý E), sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số D, Tổ D, Khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1 và bà Nguyễn Thị Thanh N; bị cáo có vợ là Nguyễn Vương Kim N1 và 01 con sinh năm 2013.

Nhân thân: tại bản án số 279/2013/HSST ngày 22/5/2023, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt Lê Vĩnh H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền án:

  • Tại bản án số 198/2016/HSST ngày 30/6/2016, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương đã xử phạt Lê Vĩnh H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Tại bản án số 139/2019/HSST ngày 27/3/2019, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã xử phạt Lê Vĩnh H 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/5/2024 theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 872 ngày 06/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

- Người bị hại: Ông Lê Hoàng V, sinh năm 1974

Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1968

Cùng địa chỉ cư trú: A, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt, bị hại vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Lê Vĩnh H là người không có nghề nghiệp và đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Khoảng 09 giờ ngày 23/11/2021 H và Nguyễn Hoàng T1 đến chơi game tại tiệm game bắn cá “Bà T2 ở khu phố D, phường B, thành phố B thì gặp Nguyễn Hữu ANguyễn Thái H2 cũng đang chơi game tại đây. Do muốn có tiền tiêu xài nên H3 rủ T1, Hữu AH2 đi trộm cắp tài sản thì tất cả đồng ý. Hữu A điều khiển xe mô tô biển số 60F2-380.31 chở H2 chạy phía sau còn H điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở T1 dẫn đường và cả nhóm đi đến nhà số A, khu phố A, phường T, thành phố B của ông Lê Hoàng V làm chủ. Khi đến nơi, T1H2 đứng ngoài cảnh giới còn H3Hữu A đột nhập vào phòng ngủ nhà ông V lấy trộm 01 chiếc két sắt kích thước 60x 60x 60 cm đây ra ngoài rồi cả nhóm khiêng chiếc két sắt đặt lên xe mô tô của Hữu A, tiếp đó H2 bắt trộm 01 con chó cảnh trong nhà của ông V rồi cả nhóm đem các tài sản trên về nhà Hữu A tại số A, khu phố N, phường H. Tại đây, cả nhóm dùng 01 cây xà beng phá cửa két sắt và lấy được 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng); 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, 01 lắc tay kim loại màu vàng, 01 đôi bông tai kim loại màu vàng, 01 nhẫn đeo tay kim loại màu vàng, 03 đồng xu kim loại màu vàng (tất cả đều không phải vàng thật); 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 01 thẻ thành viên, 01 hộ chiếu mang tên Đoàn Thị T; 01 giấy phép lái xe, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy khai sinh mang tên Đoàn Thị T3, 03 số bảo hiểm nhân thọ mang tên Đoàn Thị T, Võ Ngọc T4, Võ Thị Hoàng T5; 01 giấy khai sinh và 01 thẻ thành viên mang tên Vô Ngọc T6; 01 giấy khai sinh mang tên Võ Thị Hoàng T5. Sau đó, cả nhóm chia nhau mỗi người 5.000.000₫ (Năm triệu đồng), còn con chó cảnh thì H2 đem đi bán cho 01 người không rõ họ tên, địa chỉ tại khu vực phường T được 1.000.000đ (Một triệu đồng) rồi chia cho mỗi người trong nhóm 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ông Lê Hoàng V đã trình báo Công an phường T hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã bắt giữ Nguyễn Hữu ANguyễn Thái H2 còn Lê Vĩnh HNguyễn Hoàng T1 bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tách hành vi của HT1 để tiếp tục điều tra. Ngày 31/5/2022, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã xét xử vụ án đối với Nguyễn Hữu ANguyễn Thái H2. Đến ngày 06/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã bắt giữ Lê Vĩnh H để điều tra, xử lý.

Lời khai bị can tại các bút lục (83-92); Lời khai người liên quan tại các bút lục (11-24);

Vật chứng của vụ án:

  • 01 xe mô tô biển số 60F2-380.31 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xử lý trong vụ án của Nguyễn Hữu ANguyễn Thái H2.
  • 01 xe mô tô không rõ biển số do Nguyễn Hoàng T1 đưa cho Lê Vĩnh H điều khiển, hiện nay chưa bắt được T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh và xử lý sau.
  • 01 két sắt kích thước 60x 60x 60 cm, 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, 01 lắc tay kim loại màu vàng, 01 đôi bông tai kim loại màu vàng, 01 nhẫn đeo tay kim loại màu vàng, 03 đồng xu kim loại màu vàng; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 01 thẻ thành viên, 01 hộ chiếu mang tên Đoàn Thị T; 01 giấy phép lái xe, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy khai sinh mang tên Đoàn Thị T3, 03 bảo hiểm nhân thọ mang tên Đoàn Thị T, Võ Ngọc T4, Võ Thị Hoàng T5, 01 giấy khai sinh và 01 thẻ thành viên mang tên Võ Ngọc T7; 01 giấy khai sinh mang tên Võ Thị Hoàng T5, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T thu giữ và xử lý trong vụ án của Nguyễn Hữu ANguyễn Thái H2.
  • 01 con chó cảnh do Nguyễn Thái H2 đã đem đi bán cho 01 người không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
  • Số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) các bị can đã chia nhau tiêu xài hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá số 57/KL-HĐĐGTS ngày 16/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: “01 két sắt kích thước 60x60x 60 cm; 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, 01 lắc tay kim loại màu vàng, 01 đôi bông tai kim loại màu vàng, 01 nhẫn đeo tay kim loại màu vàng, 03 đồng xu kim loại màu vàng (tất cả đều không phải vàng thật), 01 con chó cảnh có tổng trị giá là 7.500.000₫ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng)".

2. Về trách nhiệm dân sự:

Nội dung này đã được giải quyết trong vụ án của Nguyễn Hữu ANguyễn Thái H2.

3. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 336/CT-VKSBH ngày 04/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố Lê Vĩnh H về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

+ Áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 173, điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Vĩnh H từ: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.

+ Đề nghị không xem xét về trách nhiệm dân sự do bị hại không yêu cầu.

- Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đông xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Người bị hại vắng mặt tại phiên toà nhưng đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu gì khác; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 23/11/2021, Lê Vĩnh H đã cùng Nguyễn Hữu A, Nguyễn Thái H2Nguyễn Hoàng T1 thực hiện hành vi trộm cắp của ông Lê Hoàng V 01 con chó cảnh và 01 chiếc két sắt kích thước 60x 60x 60 cm bên trong có 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng, 01 lắc tay kim loại màu vàng, 01 đôi bông tai kim loại màu vàng, 01 nhẫn đeo tay kim loại màu vàng, 03 đồng xu kim loại màu vàng (tất cả đều không ' phải vàng thật); 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 01 thẻ thành viên, 01 hộ chiếu mang tên Đoàn Thị T; 01 giấy phép lái xe, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy khai sinh mang tên Đoàn Thị T3, 03 số bảo hiểm nhân thọ mang tên Đoàn Thị T, Võ Ngọc T4, Võ Thị Hoàng T5; 01 giây khai sinh và 01 thẻ thành viên mang tên Võ Ngọc T7; 01 giấy khai sinh mang tên Võ Thị Hoàng T5 tại nhà ông V ở số A, khu P, phường T, thành phố B. Sau đó Nguyễn Hữu ANguyễn Thái H2 đã bị bắt giữ và đưa ra xét xử, còn Lê Vĩnh HNguyễn Hoàng T1 bỏ trốn đến ngày 06/5/2024 thì H bị bắt giữ để điều tra, xử lý.

Tổng giá trị tài sản mà Lê Vĩnh H đã trộm cắp cùng Nguyễn Hữu A, Nguyễn Thái H2Nguyễn Hoàng T1 là 27.500.000đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Bị cáo đã có 02 tiền án về cùng tội danh “trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học răn đe bản thân mà tiếp tục phạm tội nên bị xác định là tái phạm nguy hiểm,

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Lê Vĩnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g Khoản 2, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản Cáo trạng số 486/CT-VKSBH ngày 19/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Vĩnh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Về vai trò của bị cáo: Lê Vĩnh H là người khởi xướng, rủ rê Nguyễn Hữu A, Nguyễn Thái H2Nguyễn Hoàng T1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên đây không phải là vụ án đồng phạm có tổ chức mà chỉ là đồng phạm có tính chất giản đơn, bộc phát.

- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu do đã từng cò hành vi phạm tội, có tiền án chưa xoá án tích.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Khi Toà án đưa vụ án ra xét xử, bị hại tác động người nhà tự nguyện bồi thường cho bị hại 10.000.000đồng (mười triệu đồng), được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Lê Vĩnh H để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, bị áp dụng hình phạt tù nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung.

[3] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:

Người bị hại đã được xử lý thiệt hại dân sự trong bản án số 230/2022/HS-ST ngày 31/5/2022 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà. Trong vụ án này, bị hại đã nhận bồi thường, không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm dân sự của bị cáo H.

[4] Về vật chứng và các vấn đề khác có liên quan vụ án:

- Về vật chứng: đã được Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà giải quyết trong bản án số 230/2022/HS-ST ngày 31/5/2022 nên Hội đồng xem xét.

- Đối với đối tượng Nguyễn Hoàng T1 (tên gọi khác là B) chưa tìm được nên Cơ quan Điều tra Công an thành phố B tiếp tục điểu tra xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do bị xác định là có tội nên buộc bị cáo Lê Vĩnh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:

- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

- Đối với phần trình bày của bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38, 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Về tội danh: xác định bị cáo Lê Vĩnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Lê Vĩnh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2024.

2. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Vĩnh H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Biên Hòa;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan CSĐT, Cơ quan Thi hành án hình sự; Nhà tạm giữ - Công an Tp. Biên Hòa;
  • - Chi Cục THA Dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 510/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 510/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Vĩnh H trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger