|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 510/2024/DS-PT Ngày: 10-7-2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn An
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Lê Công Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 281/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày: 16-01-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2066/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Võ Văn T (Vo T), sinh năm 1956 (vắng mặt).
Địa chỉ: A Eagle Ridge St N, MN 55060-6304.
Tạm trú: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An. - Ông Võ Thanh T1, sinh năm 1953 (có mặt).
Địa chỉ: Số F ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo uỷ quyền của các nguyên đơn: Ông Phan Bá T2, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Số A Tổ A, Khu H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị Mộng Q – Công ty L2 – Chi nhánh S2(có mặt).
· Bị đơn:
- Bà Đặng Thị Tuyết M, sinh năm 1947 (vắng mặt).
- Ông Võ Phi H, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số B ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An. - Bà Võ Thị Thanh L, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B T, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. - Ông Võ Duy T3, sinh năm 1976 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số G (số C) C, Phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của các bị đơn: Bà Võ Thị Thanh L, sinh năm 1967 (có mặt).
Địa chỉ: Số B T, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Thị T4, sinh năm 1949. Địa chỉ: Số A khu phố Ô, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Chỗ ở hiện nay: 1515 Eagle Ridge St N, MN 55060-6304 (vắng mặt).
- Bà Lại Thị T5, sinh năm 1978 (vắng mặt).
- Ông Lưu Hồng H1, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
Cùng tạm trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. - Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Số B (số C) đường N, Khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hoài T6 – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1955. Địa chỉ: Số A N, Khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).
- Bà Võ Thị Xuân L1, sinh năm 1994 (vắng mặt).
- Bà Võ Thị Tú U, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
- Người có kháng cáo: Bị đơn bà Võ Thị Thanh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
· Nguyên đơn ông Võ Văn T và ông Võ Thanh T1, trình bày:
Cha mẹ của ông T và ông T1 là cụ Võ Văn N (cụ N chết năm 1998) và cụ Trang Thị B (cụ B chết năm 1999), 02 cụ có 08 người con, gồm: Ông Võ Duy N1, ông Võ Duy T7 (là Liệt sỹ), bà Võ Thị T4, bà Võ Thị T8, ông Võ Thanh T1, ông Võ Văn T, bà Võ Thị N2, ông Võ Văn C.
Năm 1996, ông T và ông T1 bàn bạc với nhau mua đất để xây dựng lăng mộ cho cha mẹ và làm nhà thờ tự ông bà, cha mẹ và anh chị em đã chết và làm nơi để anh em trong gia đình tụ họp lại với nhau vào ngày giỗ và lễ tết.
Ông C đã tìm được diện tích 625m2 loại đất trồng lúa (hiện nay, sau khi trừ đi diện tích đất nhà nước thu hồi còn lại 426,3m2), thửa đất số 2997, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An của ông Bùi Ngọc S có nhu cầu bán. Sau đó ông C dẫn ông T và ông T1 đến gặp trực tiếp ông S để thỏa thuận. Ông T và ông T1 trực tiếp giao dịch và thống nhất với ông S với giá chuyển nhượng là 13 chỉ 5 phân vàng 24K, trong đó ông T bỏ ra 10 chỉ vàng 24K, còn ông Võ Thanh T1 bỏ ra 3 chỉ 5 phân vàng 24K để mua thửa đất trên, hai bên không lập hợp đồng chuyển nhượng bằng văn bản mà chỉ thỏa thuận bằng miệng. Ông T và ông T1 cầm vàng trả trực tiếp cho ông Bùi Ngọc S trước sự chứng kiến của ông Võ Duy N1, ông Võ Văn C và ông Bùi Ngọc H2 (con trai của ông Bùi Ngọc S). Ông T, ông T1 nhờ anh trai trưởng là ông N1 đứng tên giùm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhờ em trai út là ông C là người quản lý trông coi.
Ông N1 đã đi kê khai, ngày 18/02/2002 ông N1 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt: GCNQSDĐ) số U 841933, số vào sổ 1086 QSDĐ.
Đến năm 2008, bà Võ Thị T4 (chị gái của ông T và ông T1) đã bỏ chi phí ra xây dựng hàng rào bao quanh thửa đất và xây dựng 01 căn nhà cấp 4 có chiều ngang 5m, chiều dài 12m, diện tích 60m2 để làm nhà thờ cúng ông bà cha mẹ, anh em đã mất. Ông T bỏ chi phí ra xây dựng nhà mồ cho cha mẹ trên thửa đất. Anh em trong gia đình giao cho ông C có trách nhiệm quản lý và lo việc nhang khói.
Đến năm 2013, ông N1 chết không để lại di chúc, thửa đất mồ mả, nhà thờ tự ông bà, cha mẹ thì anh em còn sống tiếp tục giao cho ông C quản lý và nhang khói.
Năm 2014, ông T và ông T1 báo với vợ con của ông N1 là bà Đặng Thị Tuyết M, anh Võ Phi H, chị Võ Thị Thanh L và anh Võ Duy T3 làm thủ tục chuyển quyền GCNQSDĐ cho ông C đứng tên nhưng bà M, anh H, chị L và anh T3 không đồng ý.
Đến năm 2019, ông C chết, anh em trong nhà giao cho ông T1 quản lý và nhang khói.
Đến tháng 06/2022, ông T và ông T1 tiếp tục yêu cầu bà M, anh H, chị L và anh T3 làm thủ tục chuyển quyền GCNQSDĐ cho ông T1 đứng tên nhưng bà M, anh H, chị L và anh T3 không đồng ý.
Do đó, ông Võ Văn T và ông Võ Thanh T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:
- Huỷ Quyết định số 366/QĐUB ngày 18/02/2002 của Ủy ban nhân dân huyện C “V/v cấp giấy chứng nhận QSDĐ mẫu TW” đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 841933, số vào sổ 1086 QSDĐ ngày 18/02/2002 cho ông Võ Duy N1.
- Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 841933, số vào sổ 1086 QSDĐ ngày 18/02/2002 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Võ Duy N1 đứng tên đối với thửa đất số 2997, tờ bản đồ số 4, diện tích 625m2, loại đất lúa, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
- Công nhận cho ông Võ Văn T và ông Võ Thanh T1 có toàn quyền sử dụng đối với thửa đất số 2997, tờ bản đồ số 4, diện tích 625m2 (qua đo đạc có diện tích 426,3m2), loại đất lúa, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
- Bị đơn bà Đặng Thị Tuyết M, ông Võ Duy T3, ông Võ Phi Hvà bà Võ Thị Thanh L, trình bày:
Thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc: Vào khoảng năm 1996 – 1997, ông Võ Duy N1 và vợ là bà Đặng Thị Tuyết M mua của ông Sáu Đ (ông Bùi Ngọc S) để làm nhà thờ cúng ông bà, cha mẹ. Sau đó, ông N1 đã kê khai, ngày 18/02/2002 ông N1 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp GCNQSDĐ số U 841933, số vào sổ 1086 QSDĐ.
Năm 2013, ông N1 chết không để lại di chúc.
Sau khi ông N1 chết, ông C có ở trên phần đất trên để quản lý mồ mả, nhà thờ tự được khoảng 01 năm, đến tháng 6/2019 thì ông C chết.
Các bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các bị đơn yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án buộc ông Võ Thanh T1, bà Lại Thị T5 và ông Lưu Hồng H1 là những người đang quản lý phải trả lại cho các bị đơn đất, nhà đang tranh chấp.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lưu Hồng H1 và bà Lại Thị T5 trình bày: Vợ chồng ông, bà là chỗ quen biết với ông Võ Thanh T1 nên vợ chồng ông, bà thấy ông T1 có căn nhà cấp 4 và căn nhà tạm cất trên thửa đất số 2997, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. Ông T1 đang quản lý và sử dụng thì vợ chồng ông, bà hỏi ông T1 cho thuê mặt bằng bán nước giải khát được ông T1 đồng ý. Vợ chồng ông, bà ở phía bên nhà tạm để điều trị bệnh và buôn bán kiếm thêm thu nhập trang trải cuộc sống hàng ngày.
Còn căn nhà cấp 4 làm nhà thờ tự thì ông T1 vẫn ở để trông coi, và nhang khói cho ông bà, cha mẹ bề trên của ông T1. Mỗi khi ông T1 không có ở đó, vợ chồng ông, bà qua căn nhà thờ đốt nhang dùm cho ông T1. Ông T1 cho vợ chồng ông, bà ở và không có lấy tiền thuê.
Nay hai bên có tranh chấp, vợ chồng ông bà không có tranh chấp gì. Tòa án quyết định như thế nào ông bà xin chấp hành.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc D, trình bày: Bà và ông Võ Văn T là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh L vào ngày 06/02/2004, số vào số đăng ký kết hôn số 59, quyền số 01.
Đối với thửa đất số 2997, tờ bản đồ số 4, loại đất lúa, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An, hiện đang tranh chấp là tài sản riêng của ông Võ Văn T có trước khi đăng ký kết hôn, nên không phải tài sản chung của vợ chồng nên bà không có tranh chấp gì. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt bà.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị T4 trình bày: Bà là chị gái của ông T, ông T1 nên bà biết rõ vào năm 1996, ông T và ông T1 có nhờ em trai là ông Võ Văn C tìm mua cho ông T và ông T1 thửa đất để làm nơi chôn cất cho cha mẹ và xây dựng căn nhà thờ để thờ cúng cha mẹ và ông bà bề trên, cũng để anh em trong gia đình tụ họp lại với nhau vào ngày giỗ và lễ tết. Sau đó ông C dẫn ông T và ông T1 đến gặp ông Bùi Ngọc S thỏa thuận giá và thống nhất với giá là 13 chỉ 5 phân vàng 24K, ông T bỏ ra 10 chỉ vàng 24K, ông T1 bỏ ra 3 chỉ 5 phân vàng 24K mua thửa đất trên. Sau khi thỏa thuận việc mua bán xong thì anh em thoả thuận thống nhất để cho ông N1 đứng tên giùm GCNQSDĐ.
Đến năm 2008, bà có bỏ tiền ra san lấp mặt bằng xây dựng hàng rào bao quanh thửa đất và xây dựng căn nhà cấp 4 có chiều ngang 5,6m, chiều dài 12,2m, diện tích 67,9m² để làm nhà thờ cúng cha mẹ và ông bà bề trên. Còn ông T thì bỏ tiền ra xây dựng nhà mồ cho cha mẹ rồi giao cho ông C có trách nhiệm quản lý sử dụng lo việc nhang khói. Đến năm 2019, ông C chết thì giao lại thửa đất và tài sản trên đất cho ông T1 thay thế quản lý sử dụng thờ cúng cha mẹ và ông bà bề trên cho đến nay.
Nay bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông T và ông T1. Trong trường hợp được Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và ông T1 thì bà đồng ý giao căn nhà cất trên đất cho ông T1 tiếp tục quản lý sử dụng để thờ cúng cha mẹ và ông bà bề trên. Bà đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án các cấp giải quyết vụ án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C, trình bày: Về nguồn gốc phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 2997 như theo Công văn số 1046/CV-UBND ngày 06/12/2023 của UBND xã Đ. Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận thì qua quá trình sao lục kiểm tra hồ sơ địa chính, hồ sơ biến động và hồ sơ lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không có lưu hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, UBND huyện không đủ cơ sở để có ý kiến về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X, chị Võ Thị Xuân L1, chị Võ Thị Tú U, trình bày: Ông Võ Văn C là chồng của bà X và là cha của chị L1, chị U. Năm 2000, ông C thuê ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1948, địa chỉ: ấp C, xã L, huyện C Long An đổ đất trên phần đất ruộng tại phần đất tranh chấp để làm nhà thờ tự ông bà, cha mẹ. Bà X, chị L1, chị U thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông T và ông T1. Đồng thời, đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án các cấp giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày: 16-01-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, đã tuyên:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Võ Văn T (Vo T), ông Võ Thanh T1.
- Huỷ một phần Quyết định số 366/QĐUB ngày 18/02/2002 của Ủy ban nhân dân huyện C "V/v cấp giấy chứng nhận QSDĐ mẫu TW” đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 841933, số vào số 1086 QSDĐ ngày 18/02/2002 cho ông Võ Duy N1.
- Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 841933, số vào số 1086 QSDĐ ngày 18/02/2002 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Võ Duy N1 đứng tên đối với thửa đất số 2997, tờ bản đồ số 4, diện tích 625m2 (qua đo đạc có diện tích 426,3m2), loại đất lúa, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
- Công nhận cho ông Võ Thanh T1 có toàn quyền theo quy định của pháp luật đất đai đối với thửa đất số 2997, tờ bản đồ số 4, diện tích 625m2 (qua đo đạc có diện tích 426,3m2), loại đất lúa, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Võ Thanh T1 được quyền sở hữu nhà tạm, mái che, nhà chính, nhà vệ sinh có kết cấu như Chứng thư thẩm định giá số 2023098.IVC-CT ngày 07/11/2023 của Công ty cổ phần Đ1.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị Tuyết M, ông Võ Phi H, bà Võ Thị Thanh L, ông Võ Duy T3 đối với yêu cầu ông Võ Thanh T1 trả lại phần đất có tranh chấp.
- Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 17/01/2024, bị đơn bà Võ Thị Thanh L kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Võ Thị Thanh L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn, đề nghị: Xem xét về nguồn gốc đất tranh chấp là năm 1996, ông T và ông T1 mua của ông Bùi Ngọc S với giá 13,5 chỉ vàng để làm nơi chôn cất cha mẹ và làm nhà thợ tự ông bà, cha mẹ. Ông T bỏ ra 10 chỉ, ông T1 bỏ ra 3,5 chỉ và trực tiếp trả tiền cho ông S, trước sự chứng kiến của ông Võ Duy N1, ông Võ Văn C và ông Bùi Ngọc H2 (con của ông Bùi Ngọc S). Hiện nay, ông H2 khẳng định rằng ông T và ông T1 là người đứng ra giao dịch và thanh toán vàng cho cha ông (ông S). Ông Võ Duy N1 chỉ là người đứng tên giúp trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau khi mua đất, ông T1 xây dựng nhà mồ cho cha mẹ, bà T4 bỏ tiền ra xây nhà thờ tự và hàng rào. Tất cả tài sản trên do ông C quản lý, sử dụng từ năm 2008, đến năm 2019 thì ông C chết. Sau đó ông T1 tiếp quản cho đến nay, ông N1 và vợ con ông N1 không sử dụng. Tại phiên Tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Võ Văn T9 và người đại diện được ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan Bá T2 đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn, để lại toàn bộ tài sản đang tranh chấp làm nơi chôn cất cha mẹ và thờ cúng ông bà, cha mẹ, giao cho ông T9 đứng tên GCNQSDĐ và quản lý nhà đất, nhưng không được quyền sang nhượng, thế chấp, tặng cho...
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, đề nghị: Ông Võ Duy N3 là cha của bà L người được nhà nước cấp GCNQSDĐ hợp pháp. Khi nhà nước giải tỏa một phần diện tích đất, ông N1 nhận tiền bồi thường, các anh chị em của ông N1 không có ý kiến tranh chấp gì, điều này thể hiện đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông N1. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo về yêu cầu phản tố của bị đơn. Chấp nhận đề nghị của nguyên đơn đưa tài sản tranh chấp làm tài sản dùng vào việc thờ cúng, sửa một phần bản án ghi nhận sự tự nguyện nêu trên của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến tranh luận của các luật sư và ý kiến đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa. Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Thanh L, Hội đồng xét xử nhận định:
- * Về tố tụng:
[1]. Đơn kháng các của bà Võ Thị Thanh L là hợp lệ, trong hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- * Về nội dung:
[2]. Xét nguồn gốc diện tích 625m2 (diện tích đo đạc thực tế hiện nay còn lại 426,3m2) đất trồng lúa, thửa đất số 2997, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An, có nguồn gốc là của ông Bùi Ngọc S. Căn cứ vào lời trình bày của người làm chứng ông Bùi Ngọc H2 (con trai của ông S) xác định: Vào năm 1996 cha ông có nhu cầu chuyển nhượng thửa đất trên, thì ông Võ Văn C là em ruột của ông Võ Thanh T1 và ông Võ Văn T có hỏi cha ông mua thửa đất trên cho ông Võ Thanh T1 và ông Võ Văn T để làm nơi chôn cất cha mẹ và làm nhà thờ cúng cha mẹ. Cha ông là người trực tiếp thỏa thuận việc mua bán đất với ông Võ Thanh T1 và ông Võ Văn T và bán thửa đất trên với giá 13 chỉ 5 phân vàng 24K, ông T1 và ông T là người cầm vàng trả trực tiếp cho cha ông với sự chứng kiến của ông H2. Lời trình bày của ông H2 là phù hợp với lời trình bày của các nguyên đơn là ông T và ông T1 cũng như lời trình bày của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị T4. Mặt khác, nguyên đơn chứng minh được, sau khi nhận chuyển nhượng các anh em trong gia đình ông T, ông T1 đã thống nhất để ông T bỏ chi phí xây nhà mồ sẵn cho cha mẹ, sau khi cụ N và cụ B chết đã được các con an táng tại nhà mồ đã xây dựng nêu trên. Đến năm 2008, các anh chị em trong gia đình đã thống nhất để ông C bỏ chi phí ra để đổ đất san lấp, bà T4 bỏ chi phí ra xây nhà thờ tự và hàng rào xung quanh.
[3]. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công nhận diện đất đo đạc thực tế 426,3m2 đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của các nguyên đơn và huỷ một phần Quyết định số 366/QĐUB ngày 18/02/2002 của Ủy ban nhân dân huyện C V/v cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Võ Duy N1; Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 841933, số vào số 1086 QSDĐ ngày 18/02/2002 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Võ Duy N1 là có căn cứ.
[4]. Bị đơn bà Võ Thị Thanh L kháng cáo đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, nhưng không có chứng cứ chứng minh nào mới nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Tuy diện tích đất 426,3m2 đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn ông T và ông T1, nhưng tại phiên Tòa phúc thẩm nguyên đơn ông T1 và người đại diện được ủy quyền của nguyên đơn là ông Phan Bá T2 tự nguyện để 426,3m2 nêu trên làm nơi chôn cất, mồ mả cho cha mẹ và để căn nhà cấp 4 trên đất dùng để làm nơi thờ cúng ông bà, cha mẹ và anh em đã chết (trong đó có liệt sỹ Võ Duy T7); Giao cho ông T1 đứng tên GCNQSDĐ và quản lý nhà đất dùng vào việc thờ cúng, nhưng ông T1 không được quyền chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn ..v.v... Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là sự tự nguyện định đoạt tài sản của ông T1, ông T, phù hợp với nguyện vọng của bà T4 (là chủ sở hữu căn nhà trên đất) là dùng để làm nhà thờ tự, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức, văn hóa truyền thống nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị Thanh L, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần này.
[6]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát và của luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn đề nghị không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tự nguyện đưa tài sản tranh chấp dùng vào việc thờ cúng, là có căn cứ chấp nhận.
[7]. Quan điểm của người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.
[8]. Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa một phần bản án sơ thẩm nên bị đơn bà L không phải chịu án phí phúc thẩm.
[9]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bởi các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị Thanh L.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày: 16-01-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Căn cứ vào các Điều: 158, 159, 163, 164, 168, 189, 190, 192, 218 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 2 Luật Đất đai năm 1993; Các Điều: 5, 17, 100, 166, 170 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T (Vo T) và ông Võ Thanh T1.
- - Ghi nhận sự tự nguyện của ông Võ Văn T (Vo T) và ông Võ Thanh T1 để diện tích 426,3m2, loại đất trồng lúa, thửa đất số 2997, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An làm nơi chôn cất, mồ mả cho cha mẹ và để căn nhà cấp 4 và các công trình kiến trúc trên đất để làm nơi thờ cúng ông bà, cha mẹ và anh em trong gia đình đã chết. (Theo Mảnh trích đo địa chính số 274-2023 do Công ty TNHH Đ2 lập ngày 27/9/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C duyệt ngày 29/9/2023). Giao cho ông Võ Thanh T1 được quyền quản lý nhà đất dùng vào việc thờ cúng nêu trên và ông Võ Thanh T1 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Võ Thanh T1 không được quyền chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn ..v.v...
- - Huỷ một phần Quyết định số 366/QĐUB ngày 18/02/2002 của Ủy ban nhân dân huyện C “V/v cấp giấy chứng nhận QSDĐ mẫu TW” đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 841933, số vào sổ 1086 QSDĐ ngày 18/02/2002 cho ông Võ Duy N1.
- - Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: U841933, số vào số 1086 QSDĐ ngày 18/02/2002 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Võ Duy N1.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị Tuyết M, ông Võ Phi H, bà Võ Thị Thanh L, ông Võ Duy T3 về yêu cầu buộc ông Võ Thanh T1, bà Lại Thị T5 và ông Lưu Hồng H1 là những người đang quản lý phải trả lại diện tích 426,3m2, thửa đất số 2997, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Thị Thanh L không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà L 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000153 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 510/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt
- Số bản án: 510/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Võ Văn T và ông Võ Thanh T kiện bà Đặng Thị Tuyết M, ông Võ Phi H, bà Võ Thị Thanh L và ông Võ Duy T V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt”.
