Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 510/2024/DS-PT

Ngày 01/11/2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng

đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.

Các thẩm phán:

  1. Ông Trần Tuấn Vũ;
  2. Ông Nguyễn Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 390/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 122/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 455/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Tổ H, ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt;
  3. Chị Võ Kim P, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;

    Anh Võ Văn B, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt;

    Anh Võ Văn M1, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt;

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị G, sinh năm 1964; Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1964; Cùng cư trú: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  5. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim M là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Trần Văn K trình bày:

Phần đất ông đang sử dụng giáp ranh đất bà M, tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, có nguồn gốc của bà ngoại ông là cụ Võ Thị G1 tặng cho. Năm 1993, ông kê khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân Huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25-3-1993, gồm các thửa 1046, 1092, 1093, 1174, 1173, 1172, 1171, tờ bản đồ số 01, diện tích 10.505 m².

Phần đất bà G, ông S và gia đình bà M đang quản lý, sử dụng có nguồn gốc cũng của cụ G1 tặng cho ông Võ Văn M2. Ông M2 sau đó cắt chia cho các con là ông Võ Văn C và ông Võ Minh D (chồng bà M), trong đó ông D được chia 20 mét ngang, giáp ranh với đất của ông, còn phần đất hiện vợ chồng ông S đang sử dụng được chia cho ông C. Tuy nhiên, đất ông D không đủ diện tích tách thửa nên để ông C kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng nhận toàn bộ đất. Ông C bán đất cho người khác (không biết rõ họ tên) sau đó bà G, ông S mua lại. Hiện ông S, bà G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất giáp ranh với đất ông, nhưng thực tế thì bà M đang quản lý, sử dụng phần đất này và lấn sang đất của ông khoảng 4,0 m x 41m. Ranh giới giữa đất ông và đất bà M trước đây có mương nước được đào trong phạm vi đất của ông, nhưng thời gian không ai sử dụng nên đã bị vùi lấp.

Do ông S, bà G đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông khởi kiện bà G, ông S, nhưng thực tế người quản lý sử dụng và lấn chiếm đất của ông là bà Nguyễn Thị Kim M. Sau khi Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ xác định được đất tranh chấp có 01 phần thuộc đường đi công cộng là 44,3 m², phần diện tích bà M lấn sang đất của ông là 45,7 m². Nay ông đồng ý giữ nguyên hiện trạng đường đi công cộng, phần diện tích còn lại là 45,7 m² ông yêu cầu bà M và các con bà M trả lại cho ông.

Ông thống nhất xác định vị trí đất tranh chấp là loại đất trồng cây lâu năm, thống nhất giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp là 809.000 đồng x 45,7 m² = 36.971.300 đồng.

Bị đơn, bà Nguyễn Thị Kim M trình bày:

Chồng bà tên Võ Minh D chết ngày 06/5/2022. Vợ chồng bà có tất cả 03 người con là Võ Thị Kim P, Võ Văn B và Võ Văn M1. Các con hiện đang sống chung với bà tại ấp T, xã T. Phần đất gia đình bà và gia đình ông K đang sử dụng có nguồn gốc là của ông bà nội chồng chia cho cha chồng tên Võ Văn M2 và mẹ của ông K (không biết họ gì), do ông M2 và mẹ ông K là anh em ruột. Phần đất bên ông K thì bà không biết rõ. Còn đất ông M2 sau đó chia cho các con hết, trong đó chồng bà được chia 20 mét ngang, hiện gia đình bà đang cất nhà để sử dụng, ngoài 20 m này, vẫn còn đường mương nước khoảng 4,0 m ngang nằm giáp ranh với đất nhà ông K. Ranh giới, mốc giới giữa đất của gia đình bà và đất ông K ngoài đường mương nước ra, thì không có cột mốc, cũng như bờ ranh gì. Thời gian lâu ngày, do không ai sử dụng nên mương nước bị vùi lấp một phần, sau đó không biết là ai đã san lấp dẫn đến ranh giới đất gia đình bà và ông K không rõ ràng như hiện nay. Mặt dù, đất của vợ chồng bà nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do em chồng bà là ông Võ Minh C1 đứng tên, do đất không đủ diện tích tách thửa. Sau này ông C1 bán cho bà H, bà H tiếp tục bán đất lại cho vợ chồng ông S. Trong quá trình làm giấy đất đều sang tên toàn bộ diện tích đất, trong đó có 20 m ngang của gia đình bà cho người mua. Hiện phần đất của gia đình bà vẫn do vợ chồng ông S đứng tên. Khi chuyển nhượng người mua đều xác định 20 m đất là của gia đình bà, người ta chỉ đứng tên dùm. Trong quá trình sử dụng đất, ông D cắt bán thêm cho cho ông S, bà G 4,0 m ngang, trừ 4,0 m mương nước thì hiện gia đình bà vẫn còn khoảng 16 m ngang. Phần đất của gia đình bà hiện nay vẫn do ông S, bà G đứng tên vì không đủ diện tích tách thửa. Nay với yêu cầu khởi kiện của ông K, bà không đồng ý. Do bà bận đi làm nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.

Anh Võ Văn M1 có cùng ý kiến và yêu cầu với bà Nguyễn Thị Kim M.

Bà Hồ Thị G và ông Nguyễn Văn S trình bày: Phần đất ông bà đang quản lý, sử dụng có nguồn gốc là của ông M2, cha chồng bà M. Ông M2 cho vợ chồng bà Mai M3 phần đất, không biết là bao nhiêu mét, liền kề với đất của vợ chồng bà và đất ông K, nhưng đất không tách thửa được nên khi ông M2 bán đất cho bà H, sau đó bà H bán lại cho vợ chồng ông S thì trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn thể hiện cả phần đất của vợ chồng bà M, nhưng thực tế đất của bà và đất bà M có ranh giới, mốc giới rõ ràng. Năm 2021, ông D bệnh không có tiền điều trị nên có thỏa thuận bán cho vợ chồng bà 4,0 m ngang với số tiền 40.000.000 đồng/mét. Do đất ông bà đã đứng tên giấy chứng nhận nên khi bán hai bên chỉ thỏa thuận dời trụ ranh qua 4,0 m, phần đất còn lại giáp ranh với đất ông K vẫn là của vợ chồng bà M, bà và ông S chỉ đứng tên dùm. Nay ông K khởi kiện, vợ chồng bà không có ý kiến, vì phần giáp ranh với đất ông K thực tế là đất của bà M, do đó bà M quyết định.

Tại phiên tòa, ông Trần Văn K xác định phần đất tranh chấp 45,7 m² hiện không ai quản lý, sử dụng, nhưng khi ông làm hàng rào để sử dụng đất thì bà M và các con ngăn cản, do đó ông yêu cầu Tòa án giải quyết xác định phần đất diện tích 45,7 m² là thuộc quyền sử dụng của ông và yêu cầu bà M và các con bà M chấm dứt các hành vi cản trở ông và gia đình thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với phần đất này. Do hoàn cảnh của gia đình bà M khó khăn nên ông tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản với số tiền là 36.000.000 đồng. Ông không yêu cầu bà M và các con bà M thanh toán lại cho ông số tiền này.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 122/2024/DS-ST ngày 23/8/2024, của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, quyết định. Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 176, Điều 177 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 166 Luật Đất đai 2013; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K về tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị Kim M, chị Võ Kim P, anh Võ Văn B và anh Võ Văn M1.

Ông Trần Văn K được quyền sử dụng phần đất có diện tích 45,7 m², thuộc một phần thửa 1046, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299), tương ứng với một phần của thửa 32, tờ bản đồ số 07 (bản đồ 2010), tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Đất có tứ cận, hướng đông giáp đường đất BĐĐC dài 2,22 m; hướng tây giáp thửa 32 dài 2,29m; hướng nam giáp phần còn lại của thửa 32 dài 20,40 m; hướng bắc giáp thửa 27, dài 38,65m (có sơ đồ kèm theo).

Buộc bà Nguyễn Thị Kim M, chị Võ Kim P, anh Võ Văn B và anh Võ Văn M1 phải chấm dứt các hành vi gây cản trở ông Trần Văn K thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, đối với phần đất có diện tích 45,7 m², thuộc một phần thửa 1046, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299), tương ứng với một phần của thửa 32, tờ bản đồ số 07 (bản đồ 2010), tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 12/9/2024, bà M có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm bà cho rằng bà không có lấn đất của ông K.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim M. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Tố tụng dân sự. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 122/2024/DS-ST ngày 23-8-2024, của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Ngày 23/8/2024, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án, ngày 12/9/2024, bị đơn bà M có đơn kháng cáo. Kháng cáo của bà M còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Xét kháng cáo của bà M thấy rằng:

[2.1] Nguồn gốc các thửa đất 27, tờ bản đồ số 07, diện tích 655,1 m² (gia đình bà M đang sử dụng) và thửa đất liền kề số 32, tờ bản đồ số 07, diện tích 662,4 m² (gia đình ông K đang sử dụng), tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh là của cụ Võ Thị G1 (bà ngoại ông K và là bà nội ông Võ Văn V chồng bà M). Cụ G1 tặng cho ông Võ Văn M2 phần đất diện tích 25.506 m² và tặng cho ông K phần đất liền kề có diện tích 10.505 m². Ông M2 kê khai, đăng ký ngày 06/9/1998, còn ông K kê khai, đăng ký ngày 25/6/1992 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00347 QSDĐ ngày 25/3/1993. Ông K quản lý, sử dụng đất từ khi được tặng cho đến nay. Đối với ông M2 cắt chia cho các con, trong đó 20 mét ngang đất liền kề (giáp ranh) với đất ông K, ông M2 tặng cho ông Võ Minh D (chồng bà M). Tuy nhiên, phần đất này thuộc đất trồng cây hàng năm khác và không đủ diện tích tách thửa nên các bên thống nhất để em ông D là ông Võ Minh C1 kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2.2] Ngày 26/3/2012, ông C1 ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ các thửa đất gồm 1040, 1041, 1043, 1045 và 1044, tờ bản đồ 01 (theo bản đồ 299), diện tích 5.431 m² cho bà Phan Thị H, trong đó có 20 mét đất ông M2 tặng cho ông D. Năm 03/01/2013, bà H làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chuyển sang bản đồ đo lưới, thành các thửa 367, 20, 31, 27 và 368, tờ bản đồ số 07, diện tích tăng lên thành 6.058,60 m². Ngày 25/3/2013, bà H ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ các thửa đất trên cho ông S, bà G. Đến ngày 06/5/2013, ông S, bà G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH03315. Tuy nhiên thực tế, thửa đất số 27 vẫn do ông D, bà M trực tiếp quản lý, sử dụng từ khi được tặng cho đến nay. Năm 2021, ông D cần tiền chữa bệnh nên thỏa thuận chuyển nhượng cho ông S, bà G 04 mét ngang, trong 20 mét được tặng cho từ ông M2 (thuộc thửa đất số 27), do đất vợ chồng ông S đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên các bên chỉ làm thủ tục xác định lại ranh đất mà không lập hợp đồng.

[2.3] Ông K, bà M đều thừa nhận, phần đất tranh chấp diện tích 45,7 m² trước đây là mương nước. Tuy nhiên, nguyên đơn thì cho rằng con mương này được đào trong phần đất thuộc quyền sử dụng của ông K, bà M lại cho rằng mương nước được đào trong diện tích đất ông M2 tặng cho ông D. Tuy nhiên, bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

[2.4] Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và “Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất”, thì diện tích đất tranh chấp 45,7 m², thuộc một phần của thửa 32, tờ bản đồ số 07 (bản đồ 2010) và thuộc một phần của thửa 1046, tờ bản đồ số 01, do ông Trần Văn K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00347 QSDĐ ngày 25/3/1993. Mặt khác, bà M cũng thừa nhận ông M2 cho ông D 20 mét ngang đất và ông D đã bán cho ông S, bà G 04 mét ngang, như vậy phần đất gia đình bà M còn lại là 16 mét. Nhưng thực tế trừ diện tích đất tranh chấp ra thì gia đình bà M hiện vẫn đang sử dụng phần đất có mặt tiền là 17,25 mét và mặt hậu là 16,65 mét. Nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K xác định phần đất có diện tích 45,7 m², thuộc một phần của thửa 32 là của ông K là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Bà M kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận.

[3] Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim M. Chấp nhận đề nghị của viện kiểm sát. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 122/2024/DS-ST ngày 23/8/2024, của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và căn cứ vào khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà M kháng cáo không được chấp nhận nên bà M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật Dân sự và Điều 166 Luật Đất đai 2013; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim M.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số122/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K về tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị Kim M, chị Võ Kim P, anh Võ Văn B và anh Võ Văn M1.
  4. Ông Trần Văn K được quyền sử dụng phần đất có diện tích 45,7 m², thuộc một phần thửa 1046, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299), tương ứng với một phần của thửa 32, tờ bản đồ số 07 (bản đồ 2010), tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Đất có tứ cận, hướng đông giáp đường đất BĐĐC dài 2,22 m; hướng tây giáp thửa 32 dài 2,29m; hướng nam giáp phần còn lại của thửa 32 dài 20,40 m; hướng bắc giáp thửa 27, dài 38,65m (có sơ đồ kèm theo).

    Buộc bà Nguyễn Thị Kim M, chị Võ Kim P, anh Võ Văn B và anh Võ Văn M1 phải chấm dứt các hành vi gây cản trở ông Trần Văn K thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, đối với phần đất có diện tích 45,7 m², thuộc một phần thửa 1046, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299), tương ứng với một phần của thửa 32, tờ bản đồ số 07 (bản đồ 2010), tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

  5. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí phúc thẩm dân sự nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí kháng cáo 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0008020 ngày 12/9/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND huyện DMC
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 510/2024/DS-PT ngày 01/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 510/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger