Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31 – 05 – 2024

“Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trí.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thông Phi.

2. Bà Huỳnh Thị Yến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 485/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 05 năm 2024.

- Nguyên đơn: Anh Đặng Triệu M, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn S, xã L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Chị Phan Thị Ánh H, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn D, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Đặng Triệu M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Triệu M và chị Phan Thị Ánh H tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2020, đến tháng 06/2023 mới tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Ban đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vả. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề của cuộc sống nên dẫn đến thường xuyên xích mích, bất hòa và cải vả. Các bên và gia đình đã nhiều lần hàn gắn, hòa giải để vợ chồng tìm được tiếng nói chung nhưng không có kết quả gì. Do không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa, đến tháng 09/2023 thì anh M, chị H đã ly thân. Thời gian ly thân, các bên không còn liên lạc, quan tăm, chăm sóc cho nhau nữa, phận ai người đó sống. Hiện nay, anh M xác định không còn yêu thương dành cho chị H nên anh M khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị H.

Về con chung: Anh M và chị H có 01 người con chung tên là Đặng Minh T, sinh ngày 03/4/2021. Sau khi ly thân thì con chung đang ở với anh M, do anh M trông nom, chăm sóc. Khi ly hôn anh M yêu cầu Tòa án giao 01 người con chung cho anh M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi thành niên, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôn con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Theo biên bản lấy lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, bị đơn chị Phan Thị Ánh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Ánh H và anh Đặng Triệu M tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2020, đến tháng 06/2023 mới tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Ban đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vả. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống. Do không thể chung sống với nhau nên đến tháng 09/2023 thì anh M, chị H đã ly thân. Thời gian ly thân, các bên không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc cho nhau. Nay anh M yêu cầu ly hôn chị H xác định không còn tình cảm yêu thương dành cho anh M nên chị H đồng ý ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị H và anh M có 01 người con chung tên là Đặng Minh T, sinh ngày 03/4/2021 hiện nay đang ở với anh M. Khi ly hôn chị H đồng ý giao con cho anh M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận kết hôn số 40 của UBND xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh số 72 của UBND xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 bản sao có chứng thực Căn cước công dân của chị Phan Thị Ánh H; 01 bản sao Căn cước công dân của anh Đặng Triệu M.

Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương xã G về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị H, anh M và lập biên bản xác minh ngày 22/04/2024 (Bút số 27).

[4]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòa bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Triệu M; xử cho anh Đặng Triệu M được ly hôn với chị Phan Thị Ánh H; về con chung: giao cho anh Đặng Triệu M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung tên Đặng Minh T, sinh ngày 03/4/2021 cho đến khi thành niên; Về án phí: buộc anh M phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe các đương sự trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Đặng Triệu M và bị đơn chị Phan Thị Ánh H đều vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh M, chị H là phù hợp quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn anh Đặng Triệu M, yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.

Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1] Về yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn anh Đặng Triệu M, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận kết hôn số 40 của UBND xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận (Bút lục số 03) mà nguyên đơn anh Đặng Triệu M đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn và bị đơn; có đủ cơ sở xác định: Anh Đặng Triệu M và chị Phan Thị Ánh H tự nguyện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh M và chị H là hợp pháp. Vì vậy, anh M có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quá trình tố tụng nguyên đơn anh Đặng Triệu M và bị đơn chị Phan Thị Ánh H đều thừa nhận: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vả. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề của cuộc sống nên dẫn đến thường xuyên xích mích, cải vả. Mặc dù mâu thuẫn giữa anh M và chị H đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không mang lại kết quả. Kể từ tháng 09/2023 thì anh M, chị H đã ly thân. Thời gian ly thân, các bên không còn liên lạc, quan tăm, chăm sóc cho nhau nữa, phận ai người đó sống.

Tại biên bản xác minh lập ngày 22/04/2024 (Bút số 27), địa phương xã G cũng đã cung cấp thông tin: Anh M và chị H xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên xích mích cải vả do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cả hai tự sống ly thân nhau. Ngoài ra, Sau khi thụ lý Tòa án đã tiến hành phiên hòa giải đoàn tụ giữa anh M, chị H nhưng anh M không có nguyên vọng tiếp tục chung sống với chị H, có đơn đề nghị không tiến hành phiên hòa giải; chị H đồng ý ly hôn với anh M, đồng thời cả hai anh chị đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định được: Vợ chồng anh M và chị H đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh M yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận, xử cho anh M được ly hôn với chị H.

[3.2]. Về con chung:

Căn cứ vào bản sao có chứng thực Giấy khai sinh số 72 của UBND xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn anh Đặng Triệu M đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn anh M và bị đơn chị H; có đủ cơ sở xác định được: Anh M và chị H có 01 người con chung tên là Đặng Minh T, sinh ngày 03/4/2021;

Căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn và bị đơn có đủ cơ sở xác định được: Khi ly thân thì anh M là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Khi ly hôn anh M có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, chị H cũng đồng ý giao cháu T cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Anh M có đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu T phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, yêu cầu của anh M việc nuôi con là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung chưa thành niên, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận; xử giao cho anh Đặng Triệu M có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Đặng Minh T, sinh ngày 03/4/2021 cho đến khi thành niên; chị Phan Thị Ánh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

[3.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh M không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3.4.] Về tài sản chung và nợ chung: Anh M và chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4]. Về án phí: Cần căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử buộc anh Đặng Triệu M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5]. Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144, các Điều điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 338' Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Triệu M.

Về việc ly hôn: Anh Đặng Triệu M được ly hôn với chị Phan Thị Ánh H.

Về việc nuôi con: Giao cho anh Đặng Triệu M có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên là Đặng Minh T, sinh ngày 03/4/2021 cho đến khi thành niên;

Chị Phan Thị Ánh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[2]. Về án phí: Buộc anh Đặng Triệu M phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005515 ngày 27/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, anh Đặng Triệu M đã nộp đủ tiền án phí.

[3]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Gia Huynh;
  • - CC THADS h.Tánh Linh;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger