TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 30 tháng 7 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;
Bà Nguyễn Thu Hằng.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 với các bị cáo:
- Họ tên: Hà Văn D; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Hà Văn N (đã chết); mẹ đẻ: Dương Thị H - SN: 1969; anh, chị em ruột: Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
- - Nhân thân:
- + Bản án số 24/2011/HSST ngày 28/6/2011, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt D 01 năm 06 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản (tài sản trộm cắp trị giá 9.000.000₫). Bị cáo đã chấp hành án, ra trại vào ngày 26/6/2012; nộp án phí vào ngày 01/11/2011;
- + Bản án số 60/2013/HSST ngày 16/4/2013, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt D 02 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản (tổng tài sản trộm cắp trị giá 7.200.000đ) và phải nộp số tiền 1.400.000đ truy thu sung quỹ Nhà nước, án phí 200.000đ. Bị cáo đã chấp hành án, ra trại vào ngày 09/7/2015; bị cáo đã nộp án phí và tiền sung quỹ Nhà nước 250.000đ vào ngày 26/8/2015, số tiền sung quỹ Nhà nước còn lại là 1.350.000₫ được TAND huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái ra Quyết định số 08/2019/QĐ-MTHA ngày 26/8/2019 miễn thi hành án số tiền này cho D;
- + Bản án số 30/2016/HSST ngày 16/4/2015, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt D 04 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản (tổng tài sản trộm cắp trị giá 30.000.000đ) và phải nộp số tiền 32.000.000đ bồi thường cho bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan; án phí HSST 200.000đ, án phí dân sự 1.600.000đ. Bị cáo đã chấp hành án, ra trại vào ngày 21/5/2020; ngày 15/6/2020, D được TAND huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái miễn thi hành án số tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự; còn lại số tiền bồi thường cho các bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan thì Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Chấn không nhận được đơn yêu cầu bồi thường (hết thời hiệu yêu cầu thi hành án).
- Bị cáo bị bắt từ ngày 01/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo D: Luật sư Chu Văn Q - Công ty L1 - Đoàn luật sư tỉnh P
- Địa chỉ: Số A, đường M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Họ tên: Trần Thị H1; tên gọi khác: không; giới tính: Nữ; sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khu V, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Trần Văn Đ - sinh năm 1952; mẹ đẻ: Hoàng Thị H2 - sinh năm: 1954; anh, chị em ruột: Gia đình có 6 anh em, bị cáo là con thứ năm; Chồng: Không; Con: Có 03 con. Lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2018;
- Bị cáo bị bắt từ ngày 29/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.
- Người bào chữa cho bị cáo H1: Bà Phạm Thị T - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Doãn Thị T1, sinh năm 1991
TT: Khu V, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
(Bị cáo D, bị cáo H1, ông Q, bà T, chị T1 có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12h35 ngày 29/10/2023, tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh P đang làm nhiệm vụ tại tại đoạn đường thuộc khu C, xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ, phát hiện một nam thanh niên ngồi ở ven đường có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai nhận tên là Cù Xe T2 – sinh năm 1985, nơi ở hiện tại: Khu A, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Tăng mua ma tuý của Trần Thị H1 – sinh năm 1980, nơi thường trú: khu V, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ và vừa sử dụng xong thì bị phát hiện; T2 giao nộp: 01 mảnh giấy hai mặt màu trắng bạc, một mặt bám dính chất màu đen; 01 mảnh ni lon màu đỏ. Tổ công tác đã lập Biên bản vi phạm hành chính đối với Cù Xe T2 và niêm phong vật chứng là mảnh giấy bạc gửi giám định.
Căn cứ lời khai của T2, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở và Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Thị H1. Khi phát hiện thấy Cơ quan điều tra, H1 đã chạy ra phía sau nhà sang nhà anh Trần Văn T3 và chị Doãn Thị T1 (là em trai và em dâu H1) ở giáp nhà H1. H1 vứt 01 lọ nhựa màu trắng ở góc tường giáp phía trong nhà anh T3, sau đó chạy vào trốn trong tủ quần áo ở buồng ngủ nhà anh T3. Tổ công tác đã yêu cầu H1 ra làm việc và chứng kiến việc thu giữ:
- - 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng có nắp vặn, bên trong có 22 gói (02 gói được bọc bằng ni lon màu đen, 10 gói được bọc bằng giấy bạc, 03 gói bọc bằng ni lon màu đỏ, 07 gói được bọc bằng giấy trắng có chữ in màu đen) đều được gói bằng giấy màu trắng có chữ in màu đen, bên trong đều có chứa chất bột. cục màu trắng (thu giữ tại góc tường giáp phía trong nhà anh T3, nơi H1 vứt lúc chạy trốn);
- - 01 gói ni lon màu trắng, bên trong có 02 gói ni lon màu trắng, đều chứa chất dẻo màu đen (thu giữ trong cánh tủ lạnh ở bếp nhà H1).
Ngoài ra, còn thu giữ của H1: 01 căn cước công dân mang tên Trần Thị H1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu đen, kèm theo 01 thẻ sim có số thuê bao: 0356101538 và 0976810755; 01 camera nhựa màu trắng nhãn hiệu Viettel, bên trong có 01 thẻ nhớ màu đen loại 64GB và 205.000đ.
Số tiền 200.000đ H1 giấu trong tủ quần áo của gia đình anh T3, chị T1; đã được chị T1 giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Cơ quan điều tra đã niêm phong vật chứng thu giữ của H1 gửi giám định và ra Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Thị H1.
Tại Kết luận giám định số 1399/KL-KTHS ngày 01/11/2023, phòng K Công an tỉnh P kết luận: Mẫu vật thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trần Thị H1 gửi đến giám định, gồm:
- Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 22 gói là ma tuý, có khối lượng là 2,491 gam, loại Heroine; có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
- Chất dẻo màu đen chứa bên trong 02 gói ni lon, có khối lượng là 1,678 gam, loại thuốc phiện.
Thuốc phiện và các chế phẩm từ thuốc phiện là chất ma tuý nằm trong Danh mục ID, số thứ tự 3, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
Căn cứ Kết luận giám định, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh P đã Quyết định chuyển hồ sơ vụ vi phạm hành chính có dấu hiệu tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị H1.
H1 khai nhận, đã bán trái phép chất ma tuý cho Cù Xe Tăng vào thời gian sáng ngày 29/10/2023; nguồn ma tuý bán cho Cù Xe T2 và ma tuý (H3) thu giữ tại nhà H1 là mua của Hà Văn D – sinh năm 1992, nơi thường trú: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái.
Căn cứ lời khai của H1, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của D và đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, kèm theo 01 sim có số thuê bao: 0962890732, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen xám, kèm theo 02 sim có số thuê bao: 0899100731 và 0342232351, 01 thẻ ngân hàng H5 và 01 thẻ căn cước công dân đều mang tên Hà Văn D, 3.300.000đ.
Tại Cơ quan điều tra H1 và D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Bản thân H1 và D là người sử dụng trái phép chất ma tuý, nên để có tiền mua ma tuý sử dụng, H1 đã liên hệ với Hà Văn D để mua trái phép chất ma tuý, loại H3 về sử dụng và bán trái phép cho nhiều người, H1 và D đã thống nhất, D bán cho H1 với giá 5.000.000đ/chỉ và 500.000/ phân H3, mỗi lần muốn mua ma tuý, H1 đều gọi trước cho D để nói số tiền, D sẽ tính trước số lượng ma tuý Heroin mà H1 cần mua theo giá đã quy ước, sau đó H1 chuyển tiền từ tài khoản số 0976810755 mang tên Trần Thị H1 mở tại Ngân hàng M đến số tài khoản số 03401010886883 mang tên Hà Văn D mở tại Ngân hàng H5 (M1), sau khi nhận được tiền, D đi mua ma tuý rồi hẹn H1 đến đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái để giao dịch mua bán trái phép chất ma tuý.
Trong khoảng thời gian từ ngày 21/8/2023 đến ngày 25/10/2023, Hà Văn D đã bán cho H1 11 lần = 9,1 chỉ Heroin = 45.500.000đ. Cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 9h 30' ngày 21/8/2023, H1 sử dụng số điện thoại 0356.101.xxx gọi đến số điện thoại 0962.890.xxx cho D hỏi mua 04 phân Heroin, D đồng ý nói giá 500.000đ/phân, tổng số tiền là 2.000.000đ và bảo H1 chuyển tiền vào tài khoản cho D; sau đó H1 đã sử dụng dịch vụ chuyển tiền chuyển 2.000.000₫ từ tài khoản số 0976810755 mang tên Trần Thị H1 mở tại Ngân hàng M đến số tài khoản số 03401010886883 mang tên Hà Văn D mở tại Ngân hàng H5 (M1). Sau khi nhận được tiền, D đã đi mua ma tuý của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại khu vực ngã ba K, thuộc huyện V, tỉnh Yên Bái 04 phân H với giá 400.000đ/phân = 1.600.000đ; sau đó D gọi điện cho H1 hẹn địa điểm giao dịch tại đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái. Khoảng 11h cùng ngày, tại địa điểm hẹn, D đã bán cho H1 04 phân Heroin với số tiền 2.000.000đ. D hưởng lợi 400.000đ;
Lần 2: Khoảng 11h30' ngày 05/9/2023, (với diễn biến, phương thức giao dịch, thanh toán tương tự lần 1) H1 gọi điện cho D hỏi mua 2.000.000đ = 04 phân H3 và chuyển 2.000.000đ vào tài khoản cho D; D đã đi mua 04 phân Heroin với số tiền 1.600.000đ rồi gọi cho H1 hẹn địa điểm giao dịch. Sau đó, tại đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái, D đã bán cho H1 04 phân Heroin với số tiền 2.000.000đ. D hưởng lợi 400.000đ;
Lần 3: Khoảng 7h30' ngày 08/9/2023, (với diễn biến, phương thức giao dịch, thanh toán tương tự lần 1), H1 gọi điện cho D hỏi mua 5.000.000đ = 01 chỉ H3 và chuyển tiền vào tài khoản cho D; D đã đi mua 01 chỉ Heroin với số tiền 4.000.000₫ rồi gọi cho H1 hẹn địa điểm giao dịch tại đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái, D đã bán cho H1 01 chỉ Heroin với số tiền 5.000.000đ. D hưởng lợi 1.000.000đ;
Lần 4: Khoảng 11h ngày 12/9/2023, (với diễn biến, phương thức giao dịch, thanh toán tương tự lần 1), H1 gọi điện cho D hỏi mua 5.000.000đ = 01 chỉ H3 và chuyển tiền vào tài khoản cho D; sau đó,D đã đi mua 01 chỉ Heroin với số tiền 4.000.000đ rồi mang bán cho H1 01 chỉ Heroin với số tiền 5.000.000đ tại đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái.. D hưởng lợi 1.000.000đ;
Lần 5: Khoảng 9h30 ngày 18/9/2023,(với diễn biến, phương thức giao dịch, thanh toán tương tự lần 1), H1 gọi điện cho D hỏi mua 3.500.000đ = 07 phân H3 và chuyển tiền vào tài khoản cho D; D đã đi mua 07 phân Heroin Heroin với số tiền 2.800.000đ rồi gọi cho H1 hẹn địa điểm giao dịch tại đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái bán cho H1 07 phân Heroin với số tiền 3.500.000đ. D hưởng lợi 700.000đ;
Lần 6: Khoảng 7h30' ngày 19/9/2023, (với diễn biến, phương thức giao dịch, thanh toán tương tự lần 1), H1 gọi điện cho D hỏi mua 1.000.000đ = 02 phân H, sau khi nhận được tiền do H1 chuyển vào tài khoản cho D, D đã đi mua 02 phân Heroin với số tiền 800.000đ và bán cho H1 với số tiền 1.000.000đ tại đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái. D hưởng lợi 200.000đ;
Lần 7: Khoảng 17h00' ngày 28/9/2023, (với diễn biến, phương thức giao dịch, thanh toán tương tự lần 1), H1 gọi điện cho D hỏi mua 2.500.000đ = 05 phân H3 và chuyển tiền vào tài khoản cho D số tiền 2.500.000đ; sau đó Dũng đã đi mua 05 phân Heroin với số tiền 2.000.000đ rồi mang bán cho H1 05 phân Heroin với số tiền 2.500.000đ tại đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái, D. D hưởng lợi 500.000₫;
Lần 8: Khoảng 8h30' ngày 05/10/2023, (với diễn biến, phương thức giao dịch, thanh toán tương tự lần 1), H1 gọi điện cho D hỏi mua 5.000.000đ = 01 chỉ H3 và chuyển tiền vào tài khoản cho D, D đã đi mua 01 chỉ Heroin với số tiền 4.000.000đ rồi hẹn H1 địa điểm giao dịch tại đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái, D đã bán cho H1 01 chỉ Heroin với số tiền 5.000.000đ. D hưởng lợi 1.000.000đ;
Lần 9: Khoảng 12h20' ngày 10/10/2023, (với diễn biến, phương thức giao dịch, thanh toán tương tự lần 1), H1 gọi điện cho D hỏi mua 10.000.000đ = 02 chỉ H3 và chuyển tiền vào tài khoản cho D 02 lần, (lần thứ nhất 9.000.000đ, lần thứ hai 1.000.000₫); D đã đi mua 02 chỉ Heroin với giá 8.000.000đ và hẹn H1 địa điểm giao dịch tại đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái, D đã bán cho H1 02 chỉ Heroin với số tiền 10.000.000đ. D hưởng lợi 2.000.000đ;
Lần 10: Khoảng 12h00' ngày 16/10/2023, (với diễn biến, phương thức giao dịch, thanh toán tương tự lần 1), H1 gọi điện cho D hỏi mua 5.5000.000₫ H3 và chuyển tiền vào tài khoản cho D 02 lần, (lần thứ nhất 5.000.000đ, lần thứ hai 500.000₫); D đã đi mua 01 chỉ 01 phân Heroin với giá 4.400.000đ và sau đó tại đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái, D đã bán cho H1 01 chỉ 01 phân Heroin với số tiền 5.500.000đ. D hưởng lợi 1.100.000đ;
Lần 11: Khoảng 12h20' ngày 25/10/2023, (với diễn biến, phương thức giao dịch, thanh toán tương tự lần 1), H1 gọi điện cho D hỏi mua 4.000.000đ = 08 phân H3 và chuyển tiền vào tài khoản cho D 02 lần, (lần thứ nhất 1.000.000đ, lần thứ hai 3.000.000₫); D đã đi mua 08 phân Heroin với giá 3.200.000đ và sau đó tại đoạn đường cầu sắt thuộc xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái; D đã bán cho H1 08 phân Heroin với số tiền 4.000.000đ. D hưởng lợi 800.000đ.
Ngoài ra, D còn bán trái phép chất ma tuý cho Đinh Văn L – Sinh năm 1962, nơi thường trú: Khu T, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ và Phùng Văn T4 – sinh năm 1971, nơi thường trú: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ 02 lần như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 20h ngày 30/8/2023, L rủ T4 góp mỗi người 250.000₫ để mua ma tuý cùng sử dụng, T4 đồng ý. Sau đó T4 gọi điện cho D hỏi mua 500.000₫ H, D đồng ý rồi đi mua 500.000đ ma tuý của người đàn ông không biết tên, địa chỉ ở ngã ba K, thuộc huyện V, tỉnh Yên Bái. Trên đường về, D sẻ bớt một ít ra để sử dụng, phần còn lại D gói lại và gọi cho T4 hẹn địa điểm giao dịch mua bán ma tuý tại cầu M thuộc xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Khi L chở T4 đến địa điểm hẹn, L đưa cho D 500.000đ, D cầm tiền rồi đưa cho L 01 gói Heroin được đựng trong túi ni lon màu trắng có khuy bấm. D không hưởng lợi mà chỉ được ma tuý sử dụng;
Lần thứ hai: Khoảng 10h30' ngày 14/9/2023, (tương tự lần thứ nhất), L và T4 góp mỗi người 500.000đ để mua ma tuý cùng sử dụng. T4 gọi điện cho D hỏi mua 1.000.000₫ H, D đồng ý và hẹn địa điểm giao dịch mua bán ma tuý tại cầu M thuộc xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái rồi đi mua 1.000.000đ ma tuý, D sẻ ra một phần để sử dụng, phần còn lại khi L đưa cho D 1.000.000đ, D đã bán cho L 01 gói Heroin với số tiền 1.000.000đ được đựng trong túi ni lon màu trắng có khuy bấm. D không hưởng lợi mà chỉ được ma tuý sử dụng;
Lần thứ ba: Khoảng 11h ngày 11/10/2023, L và T4 góp mỗi người 150.000₫ để mua ma tuý cùng sử dụng. T4 gọi điện cho D hỏi mua 300.000₫ H, D đồng ý hẹn T4 địa điểm hẹn tại cầu M thuộc xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. D đi mua 300.000đ Heroin và sẻ bớt một ít sử dụng, phần còn lại, khi L đưa cho D 300.000₫, D cầm tiền rồi bán cho L 01 gói Heroin được đựng trong túi ni lon màu trắng có khuy bấm.D không hưởng lợi mà chỉ được ma tuý sử dụng;
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã có đủ cơ sở chứng minh Hà Văn D đã có hành vi bán trái phép tổng số 11 lần = 9,1 chỉ Heroin cho Trần Thị H1; D còn bán 03 lần = 03 gói Heroin (không xác định được khối lượng) với tổng số tiền 1.800.000đ cho Đinh Văn L và Phùng Văn T4. Như vậy, Hà Văn D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán trái phép chất ma tuý với tổng khối lượng là 9,1 chỉ Heroin = 34,125 gam Heroin và bán trái phép chất ma tuý (Heroin) từ 02 lần trở lên. D hưởng lợi 9.100.000đ.
Nguồn ma tuý bán cho H1, lúc đầu D khai mua của Hoàng Thị T5 – sinh năm 1987, nơi thường trú: Bản K, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Căn cứ lời khai của D, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T5 nhưng không phát hiện thấy có ma tuý. Sau đó D khai nhận, D mua ma tuý của T5 không phải bán cho H1 mà mua về sử dụng; nhưng lời khai của T5 và đối chất với D, T5 không thừa nhận đã bán trái phép chất ma tuý cho D như D đã khai; mặt khác, việc mua bán trái phép chất ma tuý chỉ có D và T5, nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để khẳng định về hành vi bán trái phép chất ma tuý cho D của T5.
Nguồn ma tuý bán cho H1, T4 và L, D khai mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại khu vực ngã ba K, thuộc huyện V, tỉnh Yên Bái; nhưng D không biết họ tên và địa chỉ cụ thể của người này, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để làm rõ về người đã bán trái phép chất ma tuý cho D.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu xanh, không nhớ biển kiểm soát, Hà Văn D đã sử dụng làm phương tiện để đi mua bán trái phép chất ma tuý. Qua xác minh chiếc xe trên là của bà Dương Thị H – sinh năm 1969, nơi thường trú: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái (là mẹ đẻ của D), khi cho D mượn để làm phương tiện đi lại, bà H không biết D dùng để đi mua bán trái phép chất ma tuý, chiếc xe này bà đã bán cho người không quen biết, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Sau khi mua được Heroin của D, Trần Thị H1 mang về nhà sẻ ra thành nhiều gói nhỏ để bán nhưng không dùng dụng cụ để cân, mà chỉ ước lượng, nên không xác định được khối lượng. H1 đã sử dụng và bán cho nhiều người nhưng không nhớ tên, địa chỉ, H1 chỉ nhớ được bán cho những người sau:
Bán cho Đỗ Đức Đ1 – Sinh năm 1980, nơi thường trú: Khu B, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ: Trong thời gian từ ngày 16/10/2023 đến ngày 27/10/2023, H1 đã bán cho Đ1 02 lần = 02 gói Heroin với số tiền 300.000đ. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 12h ngày 16/10/2023, Đ1 đến nhà H1 hỏi có H3 không bán cho 100.000đ, H1 bảo có; Đ1 đưa cho H1 100.000đ, H1 cầm tiền rồi bán cho Đ1 01 gói Heroin được gói trong giấy bạc màu trắng với giá 100.000đ;
Lần thứ hai: Khoảng 7h ngày 27/10/2023, Đ1 đến nhà H1 hỏi mua 100.000₫ H3, H1 đồng ý cầm tiền rồi bán cho Đ1 01 gói Heroin được gói trong giấy bạc màu trắng với giá 200.000đ.
Bán cho Cù Xe T2 - sinh năm 1985, nơi ở hiện tại: Khu A, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ: Từ ngày 20/10/2023 đến ngày 29/10/2023, H1 đã bán cho T2 03 lần = 03 gói Heroin với số tiền 700.000đ. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 17h ngày 20/10/2023, T2 gọi điện cho H1 hỏi mua 200.000₫ H, H1 đồng ý bảo T2 đến nhà H1 để giao dịch mua bán ma tuý. Khoảng 30' sau, T2 đến cổng nhà H1, H1 đã bán cho T2 01 gói Heroin được gói trong giấy bạc màu trắng với giá 200.000đ;
Lần thứ hai: Khoảng 21h ngày 28/10/2023,T2 gọi điện cho H1 hỏi mua 200.000₫ H, H1 đồng ý bảo T2 đến nhà H1 để giao dịch mua bán ma tuý. Khoảng 30' sau, T2 đến cổng nhà H1, H1 đã bán cho T2 01 gói Heroin được gói trong giấy bạc màu trắng với giá 200.000đ;
Lần thứ ba: Khoảng 11h ngày 29/10/2023,T2 gọi điện cho H1 hỏi mua 300.000₫ H, H1 đồng ý bảo T2 đến nhà H1 để giao dịch mua bán ma tuý. Khoảng 30' sau, T2 đến cổng nhà H1, H1 đã bán cho T2 01 gói Heroin được gói trong giấy bạc màu trắng, bên ngoài được bọc bằng ni lon màu đỏ với giá 300.000đ. Trền đường về, T2 đã mang ra sử dụng thì bị tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh P phát hiện, lập Biên bản vi phạm hành chính như đã nêu ở trên.
Bán cho Lại Ngọc H4 – sinh năm 1980, nơi thường trú: Khu B, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ: Trong thời gian từ ngày 22/10/2023 đến ngày 29/10/2023, H1 đã bán cho H4 02 lần = 02 gói Heroin với số tiền 400.000đ. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 7h ngày 22/10/2023, H4 đến nhà H1 hỏi mua 200.000₫ Heroin, H1 đồng ý rồi bán cho H4 01 gói Heroin được gói trong giấy bạc màu trắng với giá 200.000đ;
Lần thứ hai: Khoảng 7h ngày 29/10/2023, H4 đến nhà H1 hỏi mua 200.000₫ Heroin, H1 đồng ý rồi bán cho H4 01 gói Heroin được gói trong giấy bạc màu trắng với giá 200.000đ.
Đối với thuốc phiện thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của H1, H1 khai mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ ở huyện V, tỉnh Yên Bái vào thời gian tháng 10/2022 để cho anh Nguyễn Văn N1 - sinh năm 1990, nơi thường trú: Xóm B, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên là người đã sống như vợ chồng với H1 sử dụng (do anh N1 bị ung thư). Sau khi anh N1 chết, H1 vẫn giấu trong cánh tủ lạnh, mục đích để bán và bị Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã có đủ cơ sở chứng minh Trần Thị H1 đã có hành vi mua trái phép tổng số 11 lần = 9,1 chỉ Heroin của Hà Văn D, mục đích để bán và sử dụng; H1 đã bán trái phép H3 cho C Xe Tăng 03 lần = 03 gói Heroin với số tiền 700.000đ, Lại Ngọc H4 02 lần = 02 gói Heroinvới số tiền 400.000đ, Đỗ Đức Đ1 02 lần = 02 gói Heroinvới số tiền 300.000đ, đều không xác định được khối lượng. Ngoài ra, H1 còn có hành vi tàng trữ trái phép 2,491 gam Heroine và 1,678 gam thuốc phiện, mục đích để bán. Như vậy, Trần Thị H1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán trái phép chất ma tuý (Heroin) từ 02 lần trở lên và tổng khối lượng 2,491 gam Heroine và 1,678 gam thuốc phiện; thu được tổng số tiền 1.400.000đ.
Tại bản Cáo trạng số: 59/CT-VKSPT-P1 ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo: Hà Văn D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và Trần Thị H1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ giữ quyền công tố luận tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS (Đối với D).
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, p khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS (Đối với H1).
Xử phạt bị cáo Hà Văn D từ 16 năm tù đến 16 năm 6 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 01/11/2023.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H1 từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 29/10/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo không có tài sản riêng gì.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Noika màu đen.
- Truy thu số tiền 10.900.000đồng là tiền D phạm tội mà có nộp ngân sách nhà nước.
- Trả cho D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen xám và số tiền 3.300.000đ, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án
- Duy trì lệnh phong tỏa tài khoản đối với 01 thẻ Ngân hàng H5 (MSB số 03401010886883 mang tên Hà Văn D, số tiền trong thẻ còn lại đến ngày 31/10/2023 là 12.102.504đ, để đảm bảo cho khoản tiền phải thi hành án của Hà Văn D.
- Trả lại cho D 01 căn cước công dân mang tên Hà Văn D;
- Trả lại cho H1 01 căn cước công dân mang tên Trần Thị H1;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước của H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen và số tiền 100.000đồng bán ma tuý cho C Xe Tăng;
- Truy thu của H1 số tiền 1.100.000đồng là tiền H1 phạm tội mà có nộp ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho H1 105.000đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- Tịch thu nộp ngân sách số tiền 200.000đồng tiền thu giữ của T1 do H1 bán trái phép chất ma tuý cho Cù Xe Tăng giấu trong tủ quần áo nhà chị T1 khi H1 trốn;
- Tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ sim có số thuê bao 0962890732; 02 thẻ sim có số thuê bao: 0899100731 và 0342233351; 01 mảnh nilon màu đỏ kèm 01 bật lửa gas; 01 camera vỏ nhựa màu trắng nhãn hiệu Vietel, bên trong có 01 thẻ nhớ màu đen loại 64 GB; 01 cân điện tử màu đen; 02 thẻ sim có số thuê bao: 0976810755 và 0356101558.
- Tịch thu tiêu hủy; 01 túi niêm phong, ký hiệu PS3 trên một mặt của túi có dán 01 mảnh giấy có in chữ “Công an tỉnh P - Phòng K số: 1414/KL-KTHS; 01 mảnh giấy hai mặt đều màu trắng bạc cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu thu giữ của Cù X. Mặt sau và đáy túi có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia tại các mép dán; 01 túi niêm phong, ký hiệu PS3 trên một mặt của túi có dán 01 mảnh giấy có in chữ “Công an tỉnh P - Phòng K số: 1399/KL-KTHS. Kính gửi: Phòng PC04 Công an tỉnh P, trả lại 1,774gam chất bột cục màu trắng và 0,514 gam chất dẻo màu đen cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Trần Thị H1. Mặt sau và đáy túi có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của thành phần tham gia tại các mép dán.
Về án phí: Buộc bị cáo D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo H1 thuộc trường hợp được miễn án phí.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng truy tố, các bị cáo không tranh luận gì. Các bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và phù hợp với pháp luật.
[2] Về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 21/8/2023 đến ngày 29/10/2023, Hà Văn D và Trần Thị H1 đã nhiều lần mua bán trái phép chất ma tuý với nhau và cho nhiều người trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và Yên Bái. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định các bị cáo mua bán trái phép như sau:
1/ Hà Văn D đã có hành vi bán trái phép cho Trần Thị H1 tổng số 11 lần = 9,1 chỉ Heroin = 34,125gam Heroin; D còn bán cho Đinh Văn L và Phùng Văn T4 03 lần = 03 gói Heroin (không xác định được khối lượng) thu được số tiền 1.800.000đ. Như vậy, Hà Văn D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán trái phép chất ma tuý với tổng khối lượng là 34,125 gam Heroin và bán trái phép chất ma tuý (Heroin) từ 02 lần trở lên. D hưởng lợi 9.100.000đồng và thu được tổng số tiền là 1.800.000đồng;
2/ Trần Thị H1 đã có hành vi mua trái phép tổng số 11 lần = 9,1 chỉ Heroin của Hà Văn D, mục đích để bán và sử dụng; H1 bán trái phép Heroin cho Cù Xe Tăng 03 lần = 03 gói Heroin với số tiền 700.000đồng, Lại Ngọc H4 02 lần = 02 gói Heroin với số tiền 400.000đồng, Đỗ Đức Đ1 02 lần = 02 gói Heroin với số tiền 300.000đồng, đều không xác định được khối lượng. Ngoài ra, H1 còn có hành vi tàng trữ trái phép 2,491 gam Heroine và 1,678 gam thuốc phiện, mục đích để bán. Như vậy, Trần Thị H1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán trái phép chất ma tuý (Heroin) từ 02 lần trở lên và tổng khối lượng 2,491 gam Heroine và 1,678 gam thuốc phiện; thu được tổng số tiền 1.400.000đồng.
Như vậy, hành vi của D, H1 thoả mãn dấu hiệu cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Điều 251 BLHS;
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Các bị cáo đều nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vì mục đích lợi nhuận cũng như thỏa mãn tính ham chơi nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Nên cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi của từng bị cáo.
Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo D: Bị cáo D phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên. Bị cáo D là người cung cấp nguồn ma tuý và bán cho H1 với số lượng 34,125g Heroin. Bị cáo có nhân thân xấu, nên cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, quá trình điều tra bị cáo đã tự thú nhận khai ra hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Đinh Văn L và Phùng Văn T4 với tổng số tiền thu lời 1.800.000đồng và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 BLHS. Do vậy khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Đối với bị cáo H1: Bị cáo H1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã tự thú nhận khai ra hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Lại Ngọc H4 02 lần = 02 gói Heroin với số tiền 400.000đồng, Đỗ Đức Đ1 02 lần = 02 gói Heroin với số tiền 300.000đồng với tổng số tiền thu lời 700.000đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người khuyết tật nặng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, p, r khoản 1 Điều 51 BLHS, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới khung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo không có tài sản riêng gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về các nội dung khác:
Đối với Cù Xe Tăng, Đỗ Đức Đ1, Đinh Văn L, Phùng Đức T6, Lại Ngọc H4, đã có hành vi mua trái phép chất ma túy của D, H1, mục đích để sử dụng. Xét thấy, Đ1, T2, T6, L, H4 chưa có tiền án về các tội phạm ma túy; số ma túy mua được của D, H1 đã sử dụng hết; nên phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh P đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Cù Xe T2, Đỗ Đức Đ1, Đinh Văn L, Phùng Đức T6, Lại Ngọc H4 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng:
Vật chứng của vụ án cần được xử lý như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
[7] Về án phí: Bị cáo Hà Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Trần Thị H1 thuộc hộ cận nghèo, người khuyết tật nên được miễn án phí.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo D đề nghị HĐXX xem xét áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS và cho bị cáo hưởng mức hình phạt khởi điểm khung, tuy nhiên xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tình tiết giảm nhẹ, nhưng có 01 tình tiết tăng nặng nên mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo phù hợp với pháp luật nên đề nghị của luật sư không được chấp nhận.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo H1 đề nghị HĐXX áp dụng thêm cho bị cáo tiết giảm nhẹ tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS và áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới khung, xét thấy đề nghị của trợ giúp viên pháp lý phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s, r khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS (Đối với D);
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, p, r khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 BLHS (Đối với H1);
Tuyên bố các bị cáo Hà Văn D và Trần Thị H1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn D 16 (mười sáu) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 01/11/2023.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H1 05 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 29/10/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.
Truy thu số tiền 10.900.000đồng (mười triệu chín trăm nghìn đồng) là tiền D phạm tội mà có nộp ngân sách nhà nước.
Trả cho D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen xám và số tiền 3.300.000đồng (ba triệu ba trăm nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Duy trì lệnh phong tỏa tài khoản đối với 01 thẻ Ngân hàng H5 (MSB số 03401010886883 mang tên Hà Văn D, số tiền trong thẻ còn lại đến ngày 31/10/2023 là 12.102.504đồng và tiền lãi phát sinh, để đảm bảo cho khoản tiền phải thi hành án của Hà Văn D.
Trả lại cho D 01 căn cước công dân mang tên Hà Văn D.
Trả lại cho H1 01 căn cước công dân mang tên Trần Thị H1.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước của H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen và số tiền 100.000đồng (một trăm nghìn đồng) bán ma tuý cho Cù Xe T2.
Truy thu của H1 số tiền 1.100.000đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) là tiền H1 phạm tội mà có nộp ngân sách nhà nước.
Trả lại cho H1 105.000đồng (Một trăm linh năm nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu nộp ngân sách số tiền 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) là tiền thu giữ của T1.
Tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ sim có số thuê bao 0962890732; 02 thẻ sim có số thuê bao: 0899100731 và 0342233351; 01 mảnh nilon màu đỏ kèm 01 bật lửa gas; 01 camera vỏ nhựa màu trắng nhãn hiệu Vietel, bên trong có 01 thẻ nhớ màu đen loại 64 GB; 01 cân điện tử màu đen; 02 thẻ sim có số thuê bao: 0976810755 và 0356101558.
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi niêm phong, ký hiệu PS3 trên một mặt của túi có dán 01 mảnh giấy có in chữ “Công an tỉnh P - Phòng K số: 1414/KL-KTHS; 01 mảnh giấy hai mặt đều màu trắng bạc cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu thu giữ của Cù X. Mặt sau và đáy túi có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của các thành phần tham gia tại các mép dán; 01 túi niêm phong, ký hiệu PS3 trên một mặt của túi có dán 01 mảnh giấy có in chữ “Công an tỉnh P - Phòng K số: 1399/KL-KTHS. Kính gửi: Phòng PC04 Công an tỉnh P, trả lại 1,774gam chất bột cục màu trắng và 0,514 gam chất dẻo màu đen cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Trần Thị H1. Mặt sau và đáy túi có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và 03 loại chữ ký của thành phần tham gia tại các mép dán.
(Các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/7/2024, số tiền được chuyển từ tài khoản Công an tỉnh P sang tài khoản cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ)
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hà Văn D phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Trần Thị H1 được miễn án phí.
Những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận: -TAND cấp cao tại Hà Nội - VKSND tỉnh PT; - Công an tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan THAHS - CA tỉnh Phú Thọ; - Cục THADS tỉnh Phú Thọ; - Sở Tư pháp tỉnh PT; Trại giam; - Người có QLNVLQ; - Luật sư, trợ giúp viên pháp lý; - UBND xã Nghĩa Tân, H. Văn Chấn, T. Yên Bái - UBND xã Mỹ Lương, H. Yên Lập - Lưu: HS+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Bích Lượt |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn D - Trần Thị H1 - Mua bán trái phép chất ma túy
