Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày 30-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Ông Huỳnh Minh Nhì

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân

huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Ngô Thanh P, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1980 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Ngô Văn D (đã chết) và bà Trần Thị H; vợ: Nguyễn Thị T (đã ly hôn); con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 15/6/2001 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 10/HS-ST; Ngày 01/8/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 66/HSPT. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/11/2023, cho bảo lĩnh tại ngoại ngày 02/5/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo P: Bà Nguyễn Thị Kim S - Luật sư, Văn phòng Luật sư Phạm Văn C thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K (xin vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Ngô Văn T1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (em ruột bị cáo, có mặt);

Bị hại: Ông Huỳnh Văn O, sinh năm 1970. Địa chỉ: khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 02 năm 2019, ông Huỳnh Văn O, sinh năm 1970, thường trú: khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang có mua một chiếc vỏ composite dài 9,2m và máy xe 4T86 để đi biển đánh bắt thủy sản, thời điểm này ông O có mượn của bị can Ngô Thanh P 12 cal dầu, mỗi cal 30 lít, đến khoảng tháng 01 năm 2022, ông O không có dầu trả cho bị can P nên hai bên thỏa thuận với nhau khi nào ông O có tiền sẽ trả cho bị can P 12 cal dầu bằng số tiền 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó ông O nghĩ đi biển nên gửi vỏ máy tại bến sông nhà ông Dương Minh K, thường trú: ấp A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, nhờ ông K trông giữ dùm, lúc này trên vỏ có một số ngư cụ dùng đánh bắt thủy sản và một số vật dụng khác như: 01 bình ắc quy 150 ampe, 01 máy D9, 01 diamo, 01 bóng đèn led, 02 bộ bóng đèn cao áp, 01 bình gas, 01 cây neo, khoảng 50m đến 60m dây bô loại 16mm (dây neo), 200 lưỡi câu mực bằng nhựa. Đến khoảng tháng 5 năm 2022, vào khoảng 23 giờ (không xác định được ngày), bị can Ngô Thanh P đi bộ đến nhà ông K thấy nhà đóng cửa, trong nhà bật đèn sáng không thấy ai trong nhà, bị can P xuống khởi động máy điều khiển vỏ chạy đi, lúc này ông K đang ngủ trong nhà nghe tiếng máy chạy nên đi ra, nhìn thấy bị can P nên nói với theo “giờ này lấy vỏ máy người ta chạy đi đâu vậy ông”, nhưng bị can P không dừng lại mà tiếp tục điều khiển vỏ máy chạy về đậu tại bến sông trước nhà. Sáng hôm sau, ông K gọi điện thoại cho ông O hay việc bị can P lấy vỏ máy của ông O, sau khi lấy vỏ máy bị can P có gọi điện thoại cho ông O nói để bị can P giữ vỏ máy dùm, nghe vậy ông O không đồng ý mà nói chỉ gửi vỏ máy cho ông K giữ. Khoảng tháng 8 năm 2022, bị can P đem bán chiếc vỏ máy trên cùng một số đồ vật trên vỏ cho một người lạ mặt không rõ họ tên ở Cà Mau với giá 43.000.000đ.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Ngô Thanh P không thừa nhận hành vi phạm tội, bị can cho rằng hành vi lấy vỏ máy của ông Huỳnh Văn O không phải là trộm cắp tài sản.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 05 KL-HĐĐG ngày 17 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, tỉnh Kiên Giang, kết luận:

- 01 (một) vỏ Composite nhãn hiệu “ĐỨC TÀI”, có chiều dài 9,2m, ngang (nơi rộng nhất) 2,25m, vỏ được đóng cabin dài 3,5m, ngang 2,25m, cao 1,2m, sau lái vỏ được cơi nới cải tạo dài thêm 1,5m, ngang 2,25m, cabin và sau lái được làm bằng gỗ tràm bông vàng và bạch đàn được lắp keo có giá trị 99.450.000₫.

- 01 (một) máy xe 48T86 có giá trị 19.350.000₫.

- 01 (một) ống bọc láp bằng kim loại Inox đường kính 75mm, dài 2,5m, 01 (một) cây láp máy bằng kim loại Inox đặc ruột đường kính 49mm, dài 2,8m, 02 (hai) chân vịt máy 03 cánh bằng thau, 01 (một) lợi trí và 01 (một) bánh lái có giá trị 11.050.000₫.

- 01 (một) máy dầu D9 và 01 (một) Diamo phát điện có giá trị 5.200.000₫.

- 01 (một) bình ắc quy lắc khô 150 ampe có giá trị 1.050.000đ.

- 02 (hai) bộ bóng đèn cao áp có giá trị 1.200.000₫.

- 01 (một) bóng đèn led hiệu “Rạng Đông” 150W có giá trị 1.050.000đ.

- 01 (một) bình gas 195.000đ.

- 01 (một) cây neo bằng kim loại có giá trị 975.000đ.

- 12 (mười hai) ký dây bô, loại dây 12mm có giá trị 650.000đ.

- 200 (hai trăm) con mực bằng nhựa dùng để câu mực có giá trị 845.000đ.

Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 141.015.000đ.

Quá trình điều tra, thấy bị can Ngô Thanh P có biểu hiện không được bình thường, nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự. Để đảm bảo cho việc điều tra xử lý, ngày 26/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A ra Quyết định Trưng cầu giám định tình trạng tâm thần của bị can Ngô Thanh P.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 11/2024/KLGĐ ngày 19/01/2024 của Trung tâm P1 kết luận:

- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0- ICD10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Đối với vật chứng của vụ án là chiếc vỏ máy và một số vật dụng trên vỏ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành các hoạt động truy tìm nhưng không gặp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị can Ngô Thanh P đã bồi thường khắc phục xong cho người bị hại là ông Huỳnh Văn O số tiền 100.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Tại cáo trạng số 43/CT-VKS-AM ngày 25-4-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Ngô Thanh Phong về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Ngô Thanh P phạm tội trộm cắp tài sản và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Thanh P từ 12 đến 18 tháng tù; về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong, bị hại không yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.

- Bị cáo: thừa nhận hành vi vi phạm như Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng xác định bản thân đã biết sai trái, rất ân hận, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ được ở ngoài xã hội để nuôi mẹ già đang bị bệnh và con còn nhỏ.

- Người bào chữa cho bị cáo (gửi bài bào chữa): Thống nhất về tội danh với Viện kiểm sát; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường, khắc phục đầy đủ cho bị hại và được bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ; bị cáo phạm tội do nhận thức hạn chế nên không hiểu biết pháp luật; hiện tại gia đình bị cáo khó khăn vì phải nuôi mẹ già và con nhỏ. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo được ở nhà lo cho gia đình.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Xin Tòa án xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

- Bị hại ông O trình bày: Đã thỏa thuận và được bị cáo bồi thường đầy đủ bằng 100 triệu đồng; xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội, tội danh:

    [2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng tháng 5 năm 2022 tại ấp A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Ngô Thanh P đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của ông Huỳnh Văn O gồm: 01 (một) vỏ Composite nhãn hiệu “ĐỨC TÀI”, có chiều dài 9,2m, ngang (nơi rộng nhất) 2,25m, vỏ được đóng cabin dài 3,5m, ngang 2,25m, cao 1,2m, sau lái vỏ được cơi nới cải tạo dài thêm 1,5m, ngang 2,25m, cabin và sau lái được làm bằng gỗ tràm bông vàng và bạch đàn được lắp keo có giá trị 99.450.000 đồng; 01 (một) máy xe 48T86 có giá trị 19.350.000 đồng; 01 (một) bình ắc quy lắc khô 150 ampe có giá trị 1.050.000 đồng; 01 (một) máy dầu D9 và 01 (một) Diamo phát điện có giá trị 5.200.000 đồng; 01 (một) bóng đèn led hiệu “Rạng Đông” 150W có giá trị 1.050.000 đồng; 02 (hai) bộ B có giá trị 1.200.000 đồng; 01 (một) bình gas 195.000 đồng; 01 (một) cây neo bằng kim loại có giá trị 975.000 đồng; 12 (mười hai) ký dây bô, loại dây 12mm có giá trị 650.000 đồng; 200 (hai trăm) con mực bằng nhựa dùng để câu mực có giá trị 845.000 đồng; 01 (một) ống bọc láp bằng kim loại Inox đường kính 75mm, dài 2,5m, 01 (một) cây láp máy bằng kim loại Inox đặc ruột đường kính 49mm, dài 2,8m, 02 (hai) chân vịt máy 03 cánh bằng thau, 01 (một) lợi trí và 01 (một) bánh lái có giá trị 11.050.000 đồng.

    Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 05 KL-HĐĐG ngày 17 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, tỉnh Kiên Giang, kết luận tổng giá trị tài sản bị cáo P chiếm đoạt của ông O có tổng giá trị là 141.015.000 đồng.

    [2.2] Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 11/2024/KLGĐ ngày 19/01/2024 của Trung tâm P1 kết luận tại thời điểm gây án và hiện tại bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng bị cáo vẫn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết được tài sản đã chiếm đoạt là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông O, tại thời điểm bị cáo lấy tài sản thì ông O không hay biết nên có đủ căn cứ xác định bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút, đến khi ông O phát hiện thì bị cáo cho rằng quản lý tài sản dùm nhưng không được sự đồng ý của ông O, sau đó bị cáo còn tự ý bán toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt của ông O cho người khác, theo kết luận định giá tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 141.015.000 đồng, đây là tình tiết định tội theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Ngô Thanh P phạm tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

  3. [3] Về hình phạt:

    [3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản, tuy đã được xóa án tích nhưng không sửa chữa mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng, bất an trong nhân dân. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

    [3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục đầy đủ hậu quả, thiệt hại cho bị hại; bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. HĐXX xác định đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

    [3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Khi lượng hình thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện nay bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; hành vi phạm tội xuất phát từ nhận thức pháp luật còn hạn chế. HĐXX thống nhất với ý kiến của Kiểm sát viên và Người bào chữa áp dụng khoản 1 Điều 54 xử phạt bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ để răn đe và phòng ngừa chung và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

  4. [4] Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường cho bị hại với số tiền 100.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
  5. [5] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thanh P phạm tội Trộm cắp tài sản.
  2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Thanh P 06 (sáu) tháng 03 (ba) ngày tù về tội Trộm cắp tài sản. Khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 02/11/2023 đến ngày 02/5/2024, bị cáo đã chấp hành xong bản án.

  3. Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.
  4. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Ngô Thanh P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 30-5-2024)./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; Bị hại; NĐD& NBC cho bị cáo;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND TT. Thứ Mười Một, AM, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thanh P phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger