|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2023/HSST Ngày 29 tháng 11 năm 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Tống Thị Hồng Vân
- Ông Lâm Quang Tụng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Phú - Thư ký tòa án Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với:
Bị cáo: Lương Ngọc H, sinh năm 1995 tại tỉnh Phú Thọ; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không xác định và bà Lương Thị N; có vợ: Đào Thị O, sinh năm: 1999 và 01 con: Lương Ngọc Bảo K, sinh năm: 2020; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt;
Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992; trú tại: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị G, sinh năm 1969; trú tại: Khu R, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 19 giờ ngày 17/7/2023, bị cáo đến quán bia của bà Lê Thị G, sinh năm 1969, thuộc khu R, thị trấn P, huyện P để uống bia. Tại đây H gặp anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992, thường trú tại thôn S, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (chỗ ở hiện nay; Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ); anh Nhâm Văn T, sinh năm 1991, nơi ĐKHKTT tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Phạm Công N1, sinh năm 1995, thường trú tại thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình đang uống bia tại quán. Do trước đó, H làm cùng anh Đ và anh T nên H sang bàn của hai người này để mời bia. Khi H sang mời bia chỉ có anh T và anh N1 uống, còn Đ từ chối. Hợi uống hết cốc bia rồi bảo với anh Đ là lần trước anh Đ trả thiếu tiền công cho H. Anh Đ nói “Bây giờ uống bia rượu rồi thì không nói chuyện nữa sáng mai vào xưởng gặp tao để nói chuyện”. Sau đó, giữa H và anh Đ tiếp tục nói chuyện lời qua tiếng lại. Do bực tức câu nói của anh Đ, bị cáo đã sử dụng chiếc cốc uống bia bằng thủy tinh có quai đang cầm ở tay phải đập ngang từ phải qua trái một phát trúng vào vùng đuôi lông mày trái của anh Đ làm rách da chảy máu. Khi thực hiện hành vi này bị cáo đứng cạnh bên phía tay trái anh Đ. Sau đó, mọi người can ngăn nên H bỏ lại chiếc cốc thủy tinh tại bàn rồi ra về. Do bị thương nên anh Đ đã đến điều trị tại Trung tâm y tế huyện P từ ngày 17/7/2023 đến 21/7/2023 ra viện.
Do chiếc cốc thủy tinh bị cáo sử dụng để đánh anh Đ bị rạn nứt nên chị Lê Thị G đã vứt bỏ, đến nay Cơ quan điều tra không thu giữ được. Tuy nhiên, qua lời khai của những người có liên quan và biết việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành xác minh và yêu cầu bà Lê Thị G, là chủ quán đã giao nộp chiếc cốc có đặc điểm tương tự như chiếc cốc bị cáo sử dụng để đánh anh Đ để các đối tượng nhận dạng. Qua nhận dạng đã xác định, chiếc cốc bị cáo sử dụng để đánh anh Đ có đặc điểm tương tự là: 01(một) chiếc cốc thủy tinh có tay cầm, miệng cốc có đường kính là 7,3cm, cao 13cm, đáy cốc có đường kính 6,7cm. Trên thân cốc có chữ “Viger” màu đỏ và chữ “Beer” màu xanh, cốc đã qua sử dụng.
Ngày 25/7/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh P giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Văn Đ. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 159/KLTTCT/TTPY ngày 21/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: “Vết sẹo đuôi cung lông mày bên trái: 03%”.
Ngày 05/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện P trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh P giám định cơ chế hình thành vết thương dài 3,5cm tại vị trí đuôi lông mày bên trái, bờ gọn, sâu sát nền xương, sưng nề gò má bên trái của anh Nguyễn Văn Đ. Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể số 175/KLTTCTBS/TTPY ngày 08/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận:
“Cơ chế hình thành thương tích:
- + Vết sẹo đuôi cung lông mày bên trái: Do tác động của vật cứng có cạnh sắc gây nên.
- + Vùng gò má bên trái không để lại thương tích nên Trung tâm pháp y không xác định được cơ chế gây chấn thương.’
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi gây thương tích của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai các nhân chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 46/CT-VKSPN ngày 09/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Lương Ngọc H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Lương Ngọc H từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng đến 18 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
Về trách nhiệm dân sự: không xem xét giải quyết
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc cốc uống bia bằng thủy tinh có quai là hung khí mà bị cáo sử dụng đập ngang từ phải qua trái một phát trúng vào vùng đuôi lông mày trái của anh Đ làm rách da chảy máu, gây thương tích cho anh Đ 03%. Do chiếc cốc này chị G (chủ quán) đã vất đi nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không thu giữ được. Vì vậy, không xem xét xử lý giải quyết chiếc cốc này trong vụ án này là phù hợp.
Đối với 01 (một) chiếc cốc thủy tinh thu giữ của bà Lê Thị G để phục vụ cho việc điều tra. Ngày 06/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho bà G là phù hợp.
Về án phí:
Căn cứ vào khoản 1,2 điều 135, khoản 2 điều 136BLTTHS; Điều 6,điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thương tích trên cơ thể bị hại, hiện trường nơi xảy ra sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng hơn 19 giờ ngày 17/7/2023, khi bị cáo đang uống bia tại quán bia của chị Lê Thị G, sinh năm 1969, thuộc khu R, thị trấn P, huyện P thì bị cáo có lời qua tiếng lại với anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992, thường trú tại thôn S, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (chỗ ở hiện nay; Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ). Bị cáo bực tức với anh Đ nên bị cáo đã sử dụng chiếc cốc uống bia bằng thủy tinh có quai đang cầm ở tay phải đập ngang từ phải qua trái một phát trúng vào vùng đuôi lông mày trái của anh Đ làm rách da chảy máu, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Văn Đ là 03%.
Mặc dù, bị hại bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ thương tích là 03% nhưng bị cáo dùng hung khí nguy hiểm nên thỏa mãn điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự thì hành vi của bị cáo chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại. Trong biên bản làm việc tại cơ quan điều tra anh Đ đề nghị truy tố trách nhiệm hình sự của bị cáo. Tại đơn xét xử vắng mặt anh Đ vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị khởi tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”. Như vậy, hành vi của bị cáo thỏa mãn tình tiết định tội “Dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt cao nhất từ 06 năm đến 03 năm tù.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quan hệ nhân thân mà cụ thể là quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo đã thành niên và đủ nhận thức để biết được hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe người khác là trái pháp luật mà vẫn thực hiện. Anh Đ và bị cáo chỉ lời qua tiếng lại mà bị cáo ngay lập tức đã thực hiện hảnh vi cố ý gây thương tích. Do vậy, bị cáo không phải do bị kích động mà thực hiện hành vi.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Xem xét nhân thân, tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo H có nơi cư trú rõ ràng, có nhân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo hiện nay phải nuôi mẹ già và con nhỏ. Tỷ lệ thương thật bị cáo gây ra cho bị hại không lớn, là 03%. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo thành một công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra xác định Lương Ngọc H đã bồi thường cho anh Đ tiền thuốc, tiền phí điều trị tại Trung tâm y tế huyện P tổng số tiền là 2.832.612,9 đồng (Hai triệu tám trăm ba mươi hai nghìn sáu trăm mười hai phẩy chín đồng) để khắc phục hậu quả. Anh Đ đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu phải bồi thường thiệt hại gì nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
Về vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp:
Đối với 01 chiếc cốc uống bia bằng thủy tinh có quai là hung khí mà bị cáo sử dụng đập ngang từ phải qua trái một phát trúng vào vùng đuôi lông mày trái của anh Đ làm rách da chảy máu, gây thương tích cho anh Đ 03%. Do chiếc cốc này chị G (chủ quán) đã vất đi nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không thu giữ được. Vì vậy, không xem xét xử lý giải quyết chiếc cốc này trong vụ án này là phù hợp.
Đối với 01 (một) chiếc cốc thủy tinh thu giữ của bà Lê Thị G để phục vụ cho việc điều tra. Ngày 06/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho bà G là phù hợp.
[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp. Đối hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị có phần nhẹ so với hành vi phạm tội, nhân thân và thái độ chưa ăn năn, hối cải của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
[1]. Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Lương Ngọc H 07 (Bảy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
[2]. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Không xem xét giải quyết.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Lương Ngọc H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 51/2023/HSST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 51/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
