|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ TỈNH GIA LAI Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày: 29 -11- 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Vương Đức Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Siu Tơ Lul và ông Đỗ Trí Thuyết .
- Thư ký phiên tòa: Bà Tào Thị Mỹ Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2023/TLST-HS ngày 27/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HS ngày 13/11/2023 đối với bị cáo:
Rlan Jiu (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 01 tháng 01 năm 2000 tại C, Gia Lai; nơi cư trú: Làng K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không đi học; dân tộc: Gia Rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Rlan J và bà Rlan C; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: 01: Ngày 28/9/2022 có hành vi trộm cắp tài sản bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05 ngày 22/11/2023, đến nay chưa thi hành quyết định xử phạt. Nhân thân: Tại Bản án số 55/2018/HS-ST ngày 01/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê xử phạt 20 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 18/01/2020, đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/8/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Đoàn Minh V, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Làng B, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
- Người phiên dịch: Bà Nay H – Nguyên cán bộ Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 10/06/2023, Rlan J1 một mình đi bộ, khi đi đến nhà ông Đoàn Minh V (sinh năm 1973 trú tại: Làng B, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) thấy nhà ông V mở cửa nhưng không thấy có ai ở nhà nên đã nảy sinh ý định vào nhà ông V trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó Rlan J1 vào và đi ra phía sau nhà ông V nhảy qua hàng rào vào trong bếp nhà ông V thấy 01 Chiếc điện thoại Sam sung A30, màu đen để trên bàn, Rlan J1 đã lấy chiếc điện thoại Sam sung A30, màu đen xong đi ra ngoài, nhảy qua hàng rào và đi đến nhà anh Siu L ở làng B, xã I, huyện C để nhậu. Sau khi phát hiện mất tài sản ông Đoàn Minh V đã làm đơn trình báo lên công an xã I, huyện C. Cùng ngày 10/06/2023, công an xã I, huyện C đã xác minh và triệu tập Rlan Jiu đến làm việc, Rlan J1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp chiếc điện thoại Sam sung A30, màu đen, dung lượng lưu trữ 64GB, dung lượng bộ nhớ 4GB đã trộm cắp tại nhà ông V.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 22/KL-HĐĐG ngày 20/07/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Gia Lai kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Sam sung A30, màu đen, dung lượng lưu trữ 64GB, dung lượng bộ nhớ 4GB mua và sử dụng từ tháng 02 năm 2023, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 10/06/2023 có giá trị là: 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng).
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại di động Sam sung A30, màu đen, dung lượng lưu trữ 64GB, dung lượng bộ nhớ 4GB xác minh xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Đoàn Minh V. Do đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho ông Đoàn Minh V. Hiện ông V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi lại và trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Đoàn Minh V, ông V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì.
Tại Bản cáo trạng số: 49/CT-VKS ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê đã truy tố bị cáo Rlan J1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Rlan J1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Rlan J1 từ 18 (Mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Rlan J1 phạm tội nhưng có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 10/6/2023, Rlan J1 đã lợi dụng sơ hở của người khác trong việc quản lý tài sản, lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A30, màu đen, dung lượng lưu trữ 64GB, dung lượng bộ nhớ 4GB trị giá 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) của anh Đoàn Minh V.
Hành vi của Rlan J1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội phạm xâm phạm sở hữu và có một tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, đến nay vẫn chưa thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
[4] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm và bị trừng trị nhưng do tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên đã cố tình thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đoàn Minh V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại di động Sam sung A30, màu đen, dung lượng lưu trữ 64GB, dung lượng bộ nhớ 4GB xác minh xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Đoàn Minh V. Do đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho ông Đoàn Minh V là đúng quy định.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Rlan J1 phạm tội nhưng có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Rlan J1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Rlan J1 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/8/2023.
- Về án phí: Buộc bị cáo Rlan J1 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (29/11/2023), bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt tại phiên tòa là kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Đức Phượng |
Bản án số 51/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ - TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 51/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Rlan J có hành vi lén lút trộm cắp điện thoại
