|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HSST Ngày 29/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương Minh và bà Nguyễn Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khoa Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc.
- Đại diện VKSND huyện Gia Lộc tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị D - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2023, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện G, đối vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 08/7/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 19/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Hoàng N, sinh năm 2005, tại Quảng Ninh. Nơi thường trú: Khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp sinh viên; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc kinh; Giới tính nam; Tôn giáo không; Quốc tịch Việt Nam; Bố Phạm Nhật H, mẹ Dương Thị H1; Gia đình có 2 anh chị em bị cáo là thứ 2; Bị cáo chưa có vợ con.
Nhân thân, tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 21/4/2024 chuyển tạm giam, tại Nhà tạm giữ Công an huyện G (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Vũ Duy A, sinh năm 2005, tại Quảng Ninh. Nơi thường trú: Khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc kinh; Giới tính nam; Tôn giáo không; Quốc tịch Việt Nam; Bố Vũ Quang N1, mẹ Đào Thị N2; Gia đình có 2 anh chị em bị cáo là thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ con.
Nhân thân, tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 21/4/2024 chuyển tạm giam, tại trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt tại phiên tòa).
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Vũ Văn H2, sinh năm 1986; anh Bùi Bá 1, sinh năm 2000; anh Đặng Minh Đ, sinh năm 2005 (Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).
Thành phần tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần:
+ Ông Vũ Hoàng L, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc.
+ Bà Nguyễn Thị T, Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc.
+ Ông Trịnh Văn Tuấn- Đội Hỗ trợ tư pháp Công an huyện Gia Lộc.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Hoàng N sử dụng điện thoại để tìm hiểu qua mạng facebook loại ma túy thường gọi là CBD dưới dạng tinh dầu và đặt mua được 06 lọ ma túy CBD với giá 960.000 đồng, đem về cất giấu trong phòng ngủ của mình để bán kiếm lời. N sử dụng điện thoại Iphone 7 Plus, số thuê bao 0708.655.926 truy cập Zalo tài khoản tên “nam hoàng” để trò chuyện với một người sử dụng tài khoản Zalo tên “Hwy” đặt mua của Nam 04 lọ ma tuý CBD, thoả thuận tiền công ship là 50.000 đồng, còn giá của 04 lọ ma tuý CBD thì N sẽ báo sau.
Chiều ngày 12/4/2024, N điện thoại nhắn tin cho Vũ Duy A rủ Duy A đi bán ma tuý cùng N, bán ma tuý xong sẽ cho Duy A 100.000 đồng tiền công Duy A đồng ý (Do trước đó Duy A đã từng đi bán ma tuý CBD cùng N và được Nam cho 50.000 đồng). Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, N nhắn tin cho người có tài khoản Zalo “Hwy” để xác nhận lại việc mua ma tuý. N và người này thoả thuận 04 lọ ma tuý CBD giá là 250.000 đồng/01 lọ, 01 lọ ma tuý CBD khác giá là 300.000 đồng/01 lọ và 50.000 đồng tiền công. Tổng số tiền của 05 lọ ma tuý CBD và tiền công giao là 1.350.000 đồng và địa điểm mua bán ma tuý tại huyện G, tỉnh Hải Dương. Sau đó, Duy A mượn của Đặng Minh Đ xe mô tô AIR BLADE biển số 14Y1-121.58 để N điều khiển chở Duy A đi bán ma tuý cho người có tài khoản zalo “Hwy” tại địa điểm trên (Đ không biết Duy A mượn xe để đi bán ma túy). Đến 17 giờ 35 phút cùng ngày, khi N và Duy A đang đứng đợi tại khu vực đường N, thuộc khu E, thị trấn G để bán ma tuý CBD thì Công an huyện G phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của N 05 lọ bằng nhựa có đặc điểm giống nhau, hình trụ tròn, màu trắng, kích thước (5,2 x 1,9 x 0,8) cm, bên trong các lọ đều có chứa chất lỏng, trong đó 01 lọ có chất lỏng màu vàng cam và 04 lọ có chứa chất lỏng màu hồng (Nam xác định đều là ma tuý loại CBD để cùng Vũ Duy A chuẩn bị bán cho người có tài khoản zalo tên “Hwy”). N tự giao nộp cho lực lượng Công an 01 lọ bằng nhựa có hình trụ tròn, màu trắng, kích thước (5,2 x 1,9 x 0,8) cm, bên trong có chứa chất lỏng màu xanh dương, Nam xác định là ma tuý CBD cất giấu để bán kiếm lời nếu có người hỏi mua, đồng thời thu giữ 01 xe mô tô, 02 điện thoại và sim điện thoại của N và Duy A. Quá trình bắt giữ có sợ chứng kiến của anh Vũ Văn H2, anh Bùi Bá L1.
Ngày 13/4/2924, Công an huyện tiến hành xét nghiệm ma túy trong cơ thể bằng hình thức Test Ma tuý đối với 02 bị cáo đã xác định: Phạm Hoàng N, Vũ Duy A đều âm tính với chất ma tuý.
Ngày 24/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã trả lại chiếc xe mô tô AIRBLADE, biển số 14–Y121.58 cho anh Đặng Minh Đ.
Kết luận giám định số 2804/KL - KTHS ngày 19/4/2024 của V sợ Bộ C, kết quả: Đều tìm thấy chất MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA trong các mẫu chất lỏng mầu hồng, màu cam và màu xanh dương gửi giám định. MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA có tác dụng tương tự Delta-9-Trahydrocanabinol trong Cần sa. Kết luận về đối tượng giám định, không tìm thấy chất ma túy trong các mẫu chất lỏng màu hồng, màu cam và màu xanh dương gửi đến giám định. Thể tích chất lỏng màu hồng, màu cam và màu xanh dương gửi đến giám định lần lượt là 12,0ml; 3,0ml; 2,8ml.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 04/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo Phạm Hoàng N, Vũ Duy A về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo N, Duy A thừa nhận hành vi mua bán trái phép ma tuý là các chất lỏng chứa trong các lọ thủy tinh mà Cơ quan điều tra đã thu giữ là loại ma túy tổng hợp, thường gọi là CBD có thể tích là 12,0ml; 3,0ml; 2,8ml. Các bị cáo khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo về khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng. Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định.
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng N và Vũ Duy A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự; các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Nam Đ1 từ 25 đến 27 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 12/4/2024; Xử phạt Vũ Duy A từ 24 đến 26 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 12/4/2024. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy đối tượng hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói được hoàn lại sau giám định niêm số 2804/KL-KTHS theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định. Về án phí: các bị cáo Phạm Hoàng N và Vũ Duy A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo N và Duy A không tranh luận; Các bị cáo nói lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quản tang, vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 17 giờ 35 phút ngày 12/4/2024, tại đường N, thuộc khu E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương, Phạm Hoàng N và Vũ Duy A có hành vi bán trái phép chất ma túy cho người có tài khoản zalo tên “Hwy” 05 lọ ma túy loại CBD dưới dạng tinh dầu có tổng thể tích là 15 ml với giá 1.350.000 đồng và 01 lọ ma túy CBD có thể tích 2,8 ml Nam cất giấu để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
[3] Các bị cáo Phạm Hoàng N và Vũ Duy A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích kiếm lời, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù Kết luận giám định xác định: Không tìm thấy chất ma túy trong các mẫu chất lỏng màu hồng, màu cam và màu xanh dương gửi đến giám định. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo đều nhận thức chất lỏng màu hồng, màu cam và màu xanh dương mà các bị cáo cất giấu để bán là chất ma tuý. Căn cứ khoản 5 mục I Công văn 89 ngày 30/6/2020 của Toà án nhân dân tối cao "Nếu theo kết luận giám định chất thu giữ không phải là ma tuý, nhưng người thực hiện hành vi mua bán, trao đổi... ý thức rằng đó là chất ma tuý thì bị xử lý về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự". Xét về hành vi và chất ma túy mà bị cáo mang đi bán đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo Phạm Hoàng N và Vũ Duy A về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo biết ma túy tác hại xấu đến sức khỏe của con người, biết pháp luật nghiêm cấm. Nhưng vì lợi nhuận, các bị cáo cố ý mua ma túy về bán cho người khác đã tiếp tay cho tệ nạn ma túy, không những gây mất trật tự xã hội mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Nên cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với các bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Trong vụ án này, các bị cáo đồng phạm giản đơn, cùng tiếp nhận ý chí của nhau để thực hiện hành vi phạm tội. Đối với Phạm Hoàng N là người trực tiếp mua ma túy, rủ Duy A cùng đi bán ma túy cho người có tài khoản tên H3, ngoài ra N còn cất giấu 01 lọ ma túy CBD có thể tích 2,8 ml để bán kiếm lời. Bị cáo Duy A đồng phạm với vai trò là người giúp sức thực hành.
[6] Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và đều thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét các bị cáo còn trẻ tuổi, tương lai còn phía trước, cần tạo cơ hội để các bị cáo sớm trở về với gia đình, làm người có ích cho xã hội. Hội đồng xét xử coi đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
[7]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8]. Về xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định và vỏ bao gói được hoàn lại trong niêm phong, sim số của N và sim số của Duy A là vật thuộc Nhà nước cấm và không còn giá trị nên HĐXX tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với 01 điện thoại Iphone 7 Plus của N; 01 điện thoại Iphone XS của Duy A là công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, HĐXX tịch thu sung ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9]. Về các vấn đề khác:
Người có tài khoản zalo “Hwy” thỏa thuận mua ma túy của Phạm Hoàng N và Vũ Duy A. Quá trình điều tra, không làm rõ là ai nên không có căn cứ xử lý. Ngoài ra N và Duy A khai trước đó bán ma túy cho một người khác, tuy nhiên quá trình điều tra không làm rõ được người mua ma túy, thời gian, địa điểm, số lượng ma túy bán nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với số ma túy CBD, bị cáo N trình bày mua từ một trang mạng facebook nhưng không nhớ là trang facebook nào với giá 960.000 đồng. Quá trình điều tra, không làm rõ được người bán cho N, nên không có căn cứ xử lý.
Anh Đặng Minh Đ cho Vũ Duy A mượn chiếc xe mô tô, nhưng không biết Duy A sử dụng làm phương tiện để đi bán ma tuý nên không đặt ra xử lý.
[10]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về áp dụng pháp luật: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng N và Vũ Duy A phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng N 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 12/4/2024.
Xử phạt bị cáo Vũ Duy A 02 (hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày 12/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì dán kín niêm phong số 2804/KL-KTHS của V1 Bộ C được niêm phong các hình dấu đỏ của V1 Bộ C và các sim số 0708.655.926 và 0353.718.584.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại Iphone 7 Plus, số IMEI: 359128077942544 máy không cài mật khẩu, tình trạng đã qua sử dụng và điện thoại Iphone XS, số IMEI: 35 7212096283924. IMEI 2: 35 721209602992, tình trạng đã qua sử dụng.
(Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/7/2024).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Phạm Hoàng N, Vũ Duy A1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 51/2024/HSST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 51/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán ma túy dạng CBD
