Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LAI VUNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 6 - 2024.

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Danh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Duy Oanh.
  2. Ông Đặng Văn Hai.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 318/2023/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 283/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Khánh H - sinh năm: 1983.

Địa chỉ: 2, ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Võ Quang T - sinh năm: 1983.

Địa chỉ: 2, ấp T, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn là chị Huỳnh Thị Khánh H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị H và anh T tự quen biết nhau vào khoảng năm 2009, sau thời gian tìm hiểu (khoảng 01 năm) thì cả hai tiến đến hôn nhân. Có tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn vào ngày 08/01/2010 tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng về sau, khoảng tháng 9/2021, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm lẫn nhau nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần; vợ chồng thường xuyên gây gổ, cự cãi. Nay, chị H cảm thấy cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn như xưa, chị H không còn tình cảm với anh T. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2022 đến nay. Từ những mâu thuẫn trên, chị H yêu cầu được ly hôn anh T.

Nay, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng nhiều, không thể hàn gắn. Chị H yêu cầu được ly hôn anh Võ Quang T.

- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình chung sống, có 02 con chung tên Võ Huỳnh Gia H1 - sinh ngày: 19/8/2011 và Võ Huỳnh Thiên P - sinh ngày: 22/01/2018, hiện 02 con chung đang sống với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được quyền nuôi 02 con chung; chị H không yêu cầu anh Trung cấp d nuôi 02 con chung sau ly hôn.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định là không có tài sản chung, không có nợ chung, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về chia tài sản chung, nợ chung.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn là anh Võ Quang T vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến:

Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật, nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập cho anh T nhiều lần nhưng anh T vẫn không đến Tòa án để tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và không tham gia phiên tòa theo quy định.

Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, con của chị H và anh T là cháu Võ Huỳnh Gia H1 trình bày:

Khi cha mẹ ly hôn thì cháu H1 có nguyện vọng được sống chung với mẹ là chị Huỳnh Thị Khánh H.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đại diện Viện kiểm sát thống nhất với trình tự thủ tục tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về Hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Khánh H.

- Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Võ Huỳnh Gia H1 - sinh ngày: 19/8/2011 và Võ Huỳnh Thiên P - sinh ngày: 22/01/2018 hiện 02 con chung đang sống với chị H; anh T không cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau ly hôn. Anh T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom 02 con chung, không ai được cản trở.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Do các bên đương sự đều xác định là không có tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Huỳnh Thị Khánh H khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Võ Quang T thường trú ấp T, xã V, huyện L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chị Huỳnh Thị Khánh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Võ Quang T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Xét thấy trường hợp vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về hôn nhân: Chị H và anh T tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/01/2010 tại UBND xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, chị H xác định trong quá trình chung sống giữa chị H và anh T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng bị tổn thương, rạn nứt, không thể hàn gắn. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2022 đến nay. Trong khoảng thời gian này anh T cũng không tới lui, không liên lạc điện thoại thăm hỏi hay quan tâm đến chị H và các con. Chị H xác định đã không còn tình cảm với anh T, cuộc sống hôn nhân với anh T không có hạnh phúc.

Quá trình giải quyết vụ án; anh T đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh T vẫn không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, không sắp xếp công việc đến Tòa án để trình bày ý kiến nguyện vọng của anh T đối với yêu cầu khởi kiện của chị H; không tham dự các buổi hòa giải cũng như phiên tòa hôm nay. Như vậy, anh T đã từ chối các quyền và nghĩa vụ của mình do pháp luật quy định.

Mặt khác, bản thân anh T cũng không có thành ý mong muốn hàn gắn tình cảm với chị H, bỏ mặc, không còn quan tâm chị H và các con nên đã không đến Tòa án để tham gia hòa giải đoàn tụ, hàn gắn tình cảm với chị H. Đây là căn cứ để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích xây dựng hôn nhân lâu dài bền vững không đạt được, nên chị H yêu cầu ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm lẫn nhau. Nếu chị H và anh Trung đoàn t, tiếp tục chung sống vợ chồng thì cũng không có hạnh phúc. Do đó, xét thấy việc yêu cầu ly hôn của chị H và nguyện vọng được ly hôn của anh T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về nuôi con chung: Khi ly hôn chị H yêu cầu được quyền nuôi 02 con chung; chị H không yêu cầu anh Trung cấp d nuôi 02 con chung sau ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện cả 02 cháu H1 và P đang có cuộc sống ổn định với chị H, có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Mặc khác, cháu P còn quá nhỏ, rất cần có sự chăm sóc, nuôi dạy của mẹ nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho cháu trong sinh hoạt, có cuộc sống ổn định và phát triển tốt về tâm sinh lý; nguyện vọng của cháu H1 cũng mong muốn được tiếp tục sống chung với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cả 02 cháu H1 và P cho chị H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung sau khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của cháu H1 và bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của các cháu trong sinh hoạt, học tập. Anh T được quyền tới lui thăm nom 02 con chung, không ai được quyền cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, ...

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không yêu cầu anh Trung cấp d nuôi 02 con chung sau ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định là không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết; nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Khánh H phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.

[4] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Khánh H. Cho chị Huỳnh Thị Khánh H ly hôn anh Võ Quang T.
  2. Về nuôi con chung: Chị Huỳnh Thị Khánh H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung tên Võ Huỳnh Gia H1 - sinh ngày: 19/8/2011 và Võ Huỳnh Thiên P - sinh ngày: 22/01/2018, (hiện 02 con chung đang sống với chị H).

    - Anh Võ Quang T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chia tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Khánh H nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị H đã nộp ngày 21/12/2023 theo biên lai thu số: 0001343 ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp được khấu trừ toàn bộ án phí phải nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Huỳnh Thị Khánh H và anh Võ Quang T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(ký tên, ghi rõ họ tên) (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)
Nguyễn Duy O - Đặng Văn Hai Trần Quốc Danh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐT;
  • - VKSND huyện Lai Vung;
  • - Chi cục THADS huyện Lai Vung;
  • - UBND xã Hội An Đông, H. Lấp Vò, ĐT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ, Văn phòng.

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Trần Quốc Danh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger