Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẾ PHONG

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày 26 - 8 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Diên Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lang Văn Hải và ông Lê Văn Lương.

Thư ký phiên tòa: Ông Lang Thanh Như, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà: Ông Quang Văn Dù, Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 8 năm 2024, điểm cầu tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần tại Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 49/2024/TLST-HS, ngày 24 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo: Hà Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1970, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ (học vấn): Lớp 3/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn N (đã chết) và bà: Lương Thị H, tên gọi khác Hà Thị H1 (đã chết); Vợ: Lang Thị L, tên gọi khác Kim Thị L1; Con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, Tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 2005, bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phúc thẩm tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 12/HSPT ngày 03/3/2005, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/10/2005; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T1 - Chức danh: Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý chi nhánh S - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh N, có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Hà Thanh A, sinh năm 1972; Trú tại: Bản Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 12/6/2024, Hà Văn T trong lúc đang đi bộ trên đường thuộc bản Đồng Mới thì thấy một người đàn ông không quen biết đưa một gói nhỏ cho một nam thanh niên. Do nghĩ hai người kia đang mua bán ma tuý nên Hà Văn T đã đi đến gặp người đàn ông để hỏi mua Heroine về sử dụng. Khi gặp người đàn ông, Hà Văn T hỏi: “Ông có tí hàng mô bán không?”, người đó trả lời “Có”, T nói “Bán cho 100.000 (Một trăm nghìn) đồng” và đưa số tiền 100.000₫ (Một trăm nghìn) đồng cho người đàn ông thì người đó nhận tiền rồi đưa cho T một gói ma tuý được bọc bằng mảnh bao ni lông màu vàng. Sau khi mua được ma tuý Hà Văn T cầm ở tay và đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi Hà Văn T đang đi trên đường thuộc địa phận bản Đ, xã Đ thì bị tổ công tác Công an xã Đ, huyện Q phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của Hà Văn T một gói chất bột màu trắng (nghi là H2) được bọc bằng mảnh ni lông màu vàng.

Kết luận giám định số 665/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 16/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

“ - Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Hà Văn T gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Số chất bột màu trắng thu giữ của Hà Văn T có khối lượng là 0,16g (Không phẩy mười sáu) gam”.

Vật chứng của vụ án thu giữ: Một gói Heroine có khối lượng 0,16 gam, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q lấy toàn bộ 0,16 gam gửi đi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định, còn lại mảnh ni lông màu vàng cùng toàn bộ vỏ bao niêm phong ban đầu được niêm phong lại bằng một phong bì thư Công an huyện Q, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

Bản cáo trạng số 52/CT-VKS-QP ngày 24/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Hà Văn T Về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Q vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Hà Văn T như nội dung bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 12 đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này, đối với người đàn ông đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hà Văn T (theo lời khai của T) do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ mảnh ni lông màu vàng cùng toàn bộ vỏ bao niêm phong ban đầu giữ của Hà Văn T.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nộidung bản cáo trạng đã mô tả và thừa nhận hành vi của mình như lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

Phần tranh luận: Người bào chữa không tranh luận về tội danh và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo 01 (Một) năm tù. Và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo nhất trí với quan điểm trình bày của người bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa và người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo Hà Văn T đã thừa nhận hành vi của mình; qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người chứng kiến, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, bản kết luận giám định về ma túy, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, tại khu vực bản Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Hà Văn T đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Đ, huyện Q phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ là một gói Heroine có khối lượng 0,16 gam. Như vậy, hành vi của bị cáo Hà Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo

vệ nên cần phải được xử lý nghiêm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy mà vẫn thực hiện tội phạm. Vì vậy, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi đã gây ra, cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2005, bị Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phúc thẩm tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 12/HSPT ngày 03/3/2005, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/10/2005.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo là hợp lý; Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo là chưa phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng: Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Còn lại mảnh ni lông màu vàng cùng toàn bộ vỏ bao niêm phong ban đầu thu giữ của Hà Văn T cần tịch thu tiêu huỷ.

[7]. Về án phí: Bị cáo Hà Văn T phải chịu án phí Hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, Về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12 tháng 6 năm 2024.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ mảnh ni lông màu vàng và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Hà Văn T.

Đặc điểm vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An ngày 21 tháng 8 năm 2024.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Quế Phong;
  • - Công an huyện Quế Phong;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục THADS huyện Quế Phong;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Diên Tuấn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn Th phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger