Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 4 - 2024.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Nguyên và bà Hoàng Thị Bích Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 554/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024, Thông báo thay đổi lịch xét xử số 60/TB-TA ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ H – sinh năm: 1996.

Địa chỉ: Tổ A, khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Vòng Gia H1 – sinh năm: 1994.

Địa chỉ: Tổ B, khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(chị H và anh H1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh V Gia Hiếu tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2019 và được Ủy ban nhân dân thị trấn T cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 11/3/2020. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Ngoài ra, anh H1 không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ, con. Do đó trong cuộc sống chung không hạnh phúc và vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 10/2022 cho đến nay. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Vòng Gia H1.

Về con chung: Chị và anh H1 có 02 con chung là:

  • - Vòng Say Hy – sinh ngày: 05/8/2020.
  • - Vòng Say Ny – sinh ngày: 05/01/2022.

Từ khi chị và anh H1 ly thân nhau đến nay, các con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng.

Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị đang làm thuê, thu nhập bình quân hàng tháng 18.000.00đ, đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Vòng Gia H1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Mỹ H tự nguyện chung sống và được Ủy ban nhân dân thị trấn T cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2020. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau. Hiện nay anh và chị H không còn sống chung với nhau và không thể hàn gắn được. Nay chị H yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý chấp nhận.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là:

  • - Vòng Say Hy – sinh ngày: 05/8/2020.
  • - Vòng Say Ny – sinh ngày: 05/01/2022.

Khi ly hôn, anh yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu H2 và đồng ý giao cháu N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Hiện nay anh đang làm nghề mua bán mít, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 9.000.00đ, đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập thì Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xét vợ chồng chị H và anh H1 đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị Trần Thị Mỹ H được ly hôn với anh Vòng Gia H1.

+ Về con chung: Đề nghị giao cháu Vòng Say H3 – sinh ngày: 05/8/2020 cho anh V Gia Hiếu trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Vòng Say N1 – sinh ngày: 05/01/2022 cho chị Trần Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Chị H và anh H1 không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về nợ chung: Chị H và anh H1 kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về án phí: Đề nghị buộc chị Trần Thị Mỹ H phải chịu 300.000đ án phí DSST về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung đối với bị đơn anh Vòng Gia H1. Anh H1 đang cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

[1.2]. Chị Trần Thị Mỹ H và anh Vòng Gia H1 là các đương sự trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng chị H và anh H1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung: Chị H và anh H1 kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T vào ngày 11/3/2020. Nay chị H yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh H1 nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết.

[3]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 11/3/2020. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị H yêu cầu ly hôn vì do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, anh H1 không lo làm ăn, chăm sóc cho gia đình. Anh H1 thừa nhận mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm và đồng ý theo ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của chị H.

Qua ý kiến thừa nhận của các đương sự thể hiện trong cuộc sống chung của chị H và anh H1 có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau. Xét thấy hôn nhân của chị H và anh H1 trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ H là cho chị được ly hôn với anh Vòng Gia H1.

[3.2]. Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là:

  • - Vòng Say Hy – sinh ngày: 05/8/2020.
  • - Vòng Say Ny – sinh ngày: 05/01/2022.

Chị H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Anh H1 yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu H3 và đồng ý giao cháu N1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét thấy, bản thân chị H và anh H1 đều có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Từ khi chị H và anh H1 sống ly thân đến nay, con chung được chị H giao cho người thân trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu V Say Hy cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Vòng Say N1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con do chị H và anh H1 không yêu cầu.

[3.3]. Về tài sản chung: Chị H và anh H1 không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4]. Về nợ chung: Chị H và anh H1 kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Trần Thị Mỹ H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

[5]. Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ H. Cho chị Trần Thị Mỹ H được ly hôn anh Vòng Gia H1.
  2. Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là:
    • - Vòng Say Hy – sinh ngày: 05/8/2020.
    • - Vòng Say Ny – sinh ngày: 05/01/2022.

    Giao cháu V Say Hy cho anh V Gia Hiếu trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Vòng Say N1 cho chị Trần Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H và anh H1 có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Chị H và anh H1 không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Chị H và anh H1 kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Trần Thị Mỹ H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0002725 ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.
  6. Quyền kháng cáo: Chị H và anh H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - UBND thị trấn Tân Phú: Để ghi vào sổ hộ tịch (Giấy CNKH số 26, cấp ngày 11/3/2020);
  • - Lưu HS - LT.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger