Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25-7-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyên Vy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thanh Trâm
  2. Ông Trần Hoàng Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ Hằng- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 798/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà La Thị Nhật T, sinh năm: 1989 (Có mặt)

Địa chỉ thường trú: Khu phố C, phường P, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.

Địa chỉ liên lạc: Khu phố G, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Ông Võ Minh K, sinh năm: 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố C, phường P, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04/12/2023 và quá trình tố tụng, Nguyên đơn bà La Thị Nhật T trình bày:

Bà và ông Võ Minh K sau một thời gian tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân tự nguyện, vợ chồng có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 118 ngày 17 tháng 12 năm 2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà mẹ ruột bà tại Khu phố G, phường T, TP . - T. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, từ năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn kéo dài cho đến nay. Vợ chồng thường xuyên cãi nhau, đánh nhau. Nguyên nhân do ông K dùng lời lẽ không có văn hóa chửi mẹ ruột bà và bà, xúc phạm bà; bản thân bà do bức xúc cũng có lời lẽ không hay chửi lại ông K. Ngoài ra, ông K còn nghi ngờ, ghen tuông bà vô cớ,, mỗi khi bà đi ra ngoài có việc, các con hỏi mẹ đi đâu thì ông K nói với con là “mẹ đi theo trai”. Mặc dù, bà nhiều lần khuyên nhủ, góp ý với ông K về cách dạy con nhưng ông K không thay đổi, vẫn tính nào tật nấy. Từ đó mâu thuẫn ngày nhiều hơn, vợ chồng không còn sinh hoạt chung, không ăn chung, không ngủ chung. Đến năm 2022, ông K tự ý bỏ về nhà cha mẹ ông tại Khu phố C, phường P, thành phố P - T sống cho đến nay. Thời gian xa nhau, vợ chồng mạnh ai nấy sống, không quan tâm nhau; thỉnh thoảng ông K gọi điện chỉ để chửi bà, tiếp tục nhục mạ xúc phạm, ghen tuông. Ngày 10/11/2023, bà và ông K thống nhất làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; tuy nhiên do ông K không cùng bà đến Tòa án nộp đơn nên sau đó bà làm đơn khởi kiện xin ly hôn. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không hạnh phúc. Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Võ Minh K.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Ngọc Tuyết L, sinh ngày 24/12/2009, Võ Minh T1, sinh ngày 30/7/2017. Từ khi vợ chồng sống ly thân, 02 con sống cùng bà. Tại đơn khởi kiện, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con tên Võ Minh T1, giao con Võ Ngọc Tuyết L cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên không cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Tuy nhiên, do ý kiến của Tuyết L có nguyện vọng muốn ở với bà nên bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con Tuyết L và Minh T1; bà không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Võ Minh K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng Bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, HĐXX đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn xin ly hôn và xin nuôi 02 con chung, không yêu cầu Bị đơn cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không có. Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa, Bị đơn tiếp tục vắng mặt dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà La Thị Nhật T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa bà La Thị Nhật T và ông Võ Minh K được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Tại phiên tòa, bà La Thị Nhật T giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông Võ Minh K. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, không tin tưởng nhau nên xảy ra ghen tuông vô cớ, thường xuyên cãi vã; cả hai không nhường nhịn nhau mà có lời lẽ xúc phạm làm tổn hại đến tinh thần của nhau, mâu thuẫn ngày trầm trọng hơn. Hiện vợ chồng không còn sống chung, đã ly thân một thời gian dài, mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, ông K không đến Tòa tham gia hòa giải, xét xử... Điều này cho thấy ông K có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chứng tỏ tình cảm vợ chồng ông K bà T hiện không còn, không có tình nghĩa vợ chồng, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn bà La Thị Nhật T.

[2.3] Về giao người trực tiếp nuôi con:

Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Võ Ngọc Tuyết L, sinh ngày 24/12/2009, Võ Minh T1, sinh ngày 30/7/2017. Xét thấy, từ ngày vợ chồng không còn sống chung, 02 con sống ổn định với mẹ, đảm bảo được sức khoẻ cũng như học tập của trẻ. Hơn nữa, trẻ Tuyết L có nguyện vọng tiếp tục ở cùng mẹ. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung của Nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình

[2.4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.

[2.5] Về án phí: Bà La Thị Nhật T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà La Thị Nhật T.

  1. Về quan hệ hôn nhân:La Thị Nhật T được ly hôn ông Võ Minh K.
  2. Về giao người trực tiếp nuôi con:La Thị Nhật T được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Võ Ngọc Tuyết L, sinh ngày 24/12/2009, Võ Minh T1, sinh ngày 30/7/2017.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con chung; không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

  1. Về án phí:La Thị Nhật T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000613 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T. Bà La Thị Nhật T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. PRTC;
  • - Chi cục THADS TP.PRTC;
  • - UBND phường Phủ Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyên Vy

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Tuấn Nguyễn Thị Minh Trâm Nguyễn Thị Nguyên V

Cháu Võ Ngọc Tuyết L có ý kiến: Cháu tên Võ Ngọc Tuyết L, sinh ngày 24/12/2009 là con ruột của cha Võ Minh K và mẹ La Thị Nhật T. Hiện nay cháu đang học cấp 2 Trường THCS L1, TP . - T. Từ trước đến nay, cháu sống cùng mẹ. Nay cha mẹ cháu ly hôn, cháu xin được ở với mẹ.

Trong thời gian cha mẹ cháu còn sống chung với nhau, cha mẹ cháu cũng thường cãi nhau. Từ năm 2022 cha cháu không sống chung với mẹ nữa mà tự ý đi về nhà bà nội ở phường P, thành phố P - T để sinh sống cho đến nay. Cha cháu cũng hay lui tới thăm cháu, có khi mua đồ ăn cho cháu. Theo cháu được biết, cha mẹ cháu sống không hạnh phúc, cha mẹ cháu thường xuyên cãi vã.

Ngoài ra, cháu không có ý kiến gì thêm.

NGƯỜI TRÌNH BÀY

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

Nguyễn Thị Nguyên Vy

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN

LẤY LỜI KHAI CỦA ĐƯƠNG SỰ

Hồi 08 giờ 20 phút, ngày 29 tháng 5 năm 2024

Tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận.

Tôi là: Nguyễn Thị Nguyên V – Thẩm phán.

Tiến hành lấy lời khai của bà La Thị Nhật T, sinh năm 1989

Địa chỉ: Khu phố G, phường T, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận. Là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 798/2023 ngày 11/12/2023, về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.

Bà T khai: Bà và chồng bà – ông Võ Minh K kết hôn vào năm 2009, đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố P - T. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà mẹ ruột bà cho vợ chồng sống nhờ tại Khu phố G, phường T, TP . - T. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, từ năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn kéo dài cho đến nay và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng thường xuyên cãi nhau, đánh nhau, xúc phạm nhau, không nhường nhịn nhau. Nguyên nhân do ông K ăn nói không có văn hóa, dùng lời lẽ tục tĩu chửi mẹ ruột bà và bà, xúc phạm bà; và bản thân bà do bức xúc cũng có lời lẽ không hay chửi lại ông K; ông K ghen tuông vô cớ nghi ngờ bà đi theo trai, mỗi lần bà đi ra ngoài có việc, các con hỏi mẹ đi đâu thì ông K nói với con là “mẹ đi theo trai” nên các con hỏi bà là mẹ đi theo trai mới về hở mẹ. Bà có khuyên nhủ, góp ý với ông K về cách dạy con nhưng ông K không thay đổi, vẫn tính nào tật nấy. Từ đó mâu thuẫn ngày càng nhiều hơn, vợ chồng không còn sinh hoạt chung, không ăn chung, không ngủ chung; đến năm 2022 ông K tự ý bỏ về nhà cha mẹ ông tại Khu phố C, phường P, thành phố P - T sống cho đến nay. Thời gian vợ chồng không còn sống chung thì mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau; thỉnh thoảng ông K gọi điện chỉ để chửi bà và nói bà đi theo trai, tiếp tục nhục mạ xúc phạm, ghen tuông. Ngày 10/11/2023, vợ chồng thấy sống không hạnh phúc nữa nên cả hai thống nhất làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, ông K do không biết chữ nên có lăn tay vào đơn thuận tình và yêu cầu bà đem đơn đến Tòa án nộp ; tuy nhiên do ông K không cùng đến Tòa án nộp đơn với bà nên sau đó bà làm đơn khởi kiện xin ly hôn. Nay tình cảm vợ chồng không còn, sống không hạnh phúc. Do đó, bà vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông Võ Minh K và bà cung cấp cho Tòa án Đơn thuận tình ly hôn đề ngày 10/11/2023 có dấu vân tay của ông K.

Về con cái: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Ngọc Tuyết L, sinh ngày 24/12/2009 và Võ Minh T1, sinh ngày 30/7/2017. Từ khi vợ chồng sống ly thân, 02 con sống cùng bà, ông K thỉnh thoảng có gửi ít tiền để phụ nuôi con Tuyết L. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con tên Võ Minh T1; giao con Võ Ngọc Tuyết L cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên không cấp dưỡng nuôi con cho nhau.Tuy nhiên nếu con Tuyết L có nguyện vọng muốn ở với bà thì bà cũng mong muốn nuôi luôn Tuyết L.

Tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: thảo - khánh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger