Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày 25-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Viết Thanh.
  2. Ông Nguyễn Hồng Thơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn L (Cu B), sinh năm 1970, tại Quảng Bình; Nơi thường trú: Khóm B, phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn S (đã chết) và bà: Trần Thị B1 (đã chết); Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

  • - Năm 1988, bị Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 18 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản của công dân theo Bản án số 20/ST ngày 13/6/1988.
  • - Năm 1990, bị Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù về Tội trộm cắp tài sản của công dân theo Bản án số 07/ST ngày 07/3/1990.
  • - Năm 1997, bị Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 12 tháng tù về Tội Trộm cắp tài sản của công dân theo Bản án số 56/HS-ST ngày 10/9/1997.

Tạm giữ, tạm giam: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1991 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi thường trú: Số A, tổ E, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

  1. Võ Thái P, sinh năm 1977 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi thường trú: Tổ I, khóm A, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Cao Thanh T, sinh năm 1986 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi thường trú: Tổ 34, khóm D, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/01/2020, chị Nguyễn Thị Thanh N sau khi nuôi mẹ ruột đang điều trị tại buồng bệnh số 5, khoa ung bướu, Bệnh viện Đ thuộc tổ G, Ấp C, xã M, thành phố C thì đến khu vực nhà chờ của thân nhân để ngủ. Khi ngủ, chị N có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A30 màu xanh dương ở ngay đầu nằm bên tay phải để sạc pin.

Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, Nguyễn L từ bên ngoài Bệnh viện đi bộ vào trong khu vực nhà chờ thân nhân tại Bệnh viện Đ thấy nhiều người nằm ngủ ở sảnh. Lợi dụng lúc chị N ngủ say, L ngồi xuống cạnh mùng ngủ của chị N, đưa tay trái giở mùng lên rồi lén lút lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A30 của chị N. Sau khi lấy trộm được điện thoại, L cất vào túi quần bên phải đang mặc trên người rồi đi bộ ra khỏi Bệnh viện và mang chiếc điện thoại vừa lấy trộm được đi cất giấu dưới dạ cầu nơi để các túi rác tại khu vực cầu L thuộc xã M, thành phố C. Trong lúc L cất giấu điện thoại thì ông Võ Thái P là người dân gần đó thấy sự việc, sau khi cất giấu điện thoại xong L rời đi thì ông P trình báo cho Công an xã M, thành phố C đến và thu giữ chiếc điện thoại nói trên. Còn chị N đến khoảng 03 giờ 50 phút cùng ngày thức giấc và phát hiện chiếc điện thoại di động nêu trên đã bị mất nên trình báo lực lượng bảo vệ và Công an xã M về toàn bộ sự việc. Qua rà soát các đối tượng trên địa bàn, Công an xã M phát hiện Nguyễn L có biểu hiện khả nghi nên đã mời L về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an, bị cáo L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên Công an xã M vụ việc cùng vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG SM-A305F/DS, màu xanh dương để xử lý theo thẩm quyền.

Căn cứ Bản Kết luận định giá tài sản số 18 ngày 31/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C, tỉnh Đồng Tháp kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG SM-A305F/DS, màu xanh dương, có giá: 3.000.000 đồng. Sau khi định giá, Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại tài sản cho bị hại Nguyễn Thị Thanh N xong và chị N không yêu cầu gì thêm.

Sau khi khởi tố vụ án và bị cáo được khởi tố để xử lý L theo quy định thì Cơ quan điều tra nghi vấn L có dấu hiệu bị bệnh tâm thần nên ngày 13/11/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án số 18/QĐ-CQĐT và tạm đình chỉ điều tra đối với bị cáo số 09/QĐ-CQĐT đối với Nguyễn L để chờ kết quả giám định pháp y tâm thần.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 443/2023/KLGĐ ngày 24/11/2023 của Trung tâm P1, kết luận: Về y học:

  • - Trước thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (ngày 19/01/2020): Đương sự có tiền sử bệnh tâm thần đã điều trị ổn.
  • - Trong, sau thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (ngày 19/01/2020) và hiện tại: Đương sự không bệnh lý tâm thần.

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (ngày 19/01/2020) và hiện tại: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Ngày 08/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị cáo đối với Nguyễn L xử lý theo quy định.

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, kết luận định giá tài sản, biên bản, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, lời khai của những người làm chứng, biên bản nhận dạng biên bản vụ việc cùng vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKS-TPCL ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

  • * Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
    • - Về tội danh: Áp dụng Điều 173 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn L với mức án từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.
    • - Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.
  • * Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình xét xử vụ án, ngày 08 tháng 5 năm 2024 Hội đồng xét xử đã ra Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 04/2024/HSST-QĐ để điều tra bổ sung những vấn đề: Làm rỏ nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo Nguyễn L (thu thập Bản án hình sự sơ thẩm số 56/HS-ST ngày 10/9/1997 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long và việc thi hành án đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/HS-ST ngày 10/9/1997, Bản án hình sự sơ thẩm số 20/ST ngày 13/6/1988 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp và Bản án hình sự sơ thẩm số 07/ST ngày 07/3/1990 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp). Sau khi điều tra bổ sung Viên kiểm sát chỉ thu thập được Bản án hình sự sơ thẩm số 56/HS-ST ngày 10/9/1997 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long và kết quả thi hành án bản án Bản án hình sự sơ thẩm số 56/HS-ST ngày 10/9/1997 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Không bổ sung được kết quả thi hành án đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/ST ngày 13/6/1988 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp và Bản án hình sự sơ thẩm số 07/ST ngày 07/3/1990 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Xét thấy, Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát không bổ sung được, đồng thời Bản án hình sự sơ thẩm số 56/HS-ST ngày 10/9/1997 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long và kết quả thi hành bản án này đã được Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thu thập bổ sung sau khi có Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung có thể hiện đầy đủ nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo Nguyễn L nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung Bản cáo trạng số 30/CT-VKS-TPCL ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo, lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, kết luận định giá tài sản, biên bản, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, lời khai của những người làm chứng, biên bản nhận dạng, biên bản vụ việc cùng vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 19/01/2020, tại khu vực nhà chờ thân nhân bệnh nhân của Bệnh viện Đ thuộc tổ G, ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, Nguyễn L có hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG SM-A305F/DS, màu xanh dương của bị hại Nguyễn Thị Thanh N, trị giá: 3.000.000 đồng thì bị phát hiện xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, ba lần bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Bị cáo nhận thức rất rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Đáng lẽ ra khi bị xét xử và trả giá bằng những bản án trước đây, bị cáo phải biết cải sửa bản thân, sống tốt hơn cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, xuất phát từ việc xem thường pháp luật, muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà không phải bỏ công sức lao động như bao người khác, bị cáo lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đặc biệt thời gian gần đây, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng ngày càng tăng, gây thiệt hại về tài sản, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết và cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, nhằm để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có anh ruột là liệt sĩ, bị cáo đang bị bệnh, bị cáo có giấy khen đạt thành tích suất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
  • [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét.
  • [7] Về vật chứng: Đã xử lý xong.
  • [8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố C về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
  • [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn L (C), phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn L (C), 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét.
  3. Xử lý vật chứng: Đã xử lý xong
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND TPCL;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - CQĐT Công an TPCL;
  • - CQTHAHS Công an TPCL;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger