Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/DS-PT

Ngày: 24/7/2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất".

 

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Thanh

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Hồng Ánh

ông Ngô Văn Thắng

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Vũ Ngọc Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 22 và 24 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST, ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 86/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1933; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1965; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O; địa chỉ: Công ty L2, tổ C, khu I, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1963 và bà Đặng Thị T1, sinh năm: 1967; cùng nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; đều có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Trương Xuân H; địa chỉ: Văn phòng L3 - số A, ngõ H, phố H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị M, sinh năm 1935; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (chết ngày 14/12/2022). Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M:

- Ông Nguyễn Văn Y; sinh năm: 1967; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

- Ông Nguyễn Bá T; sinh năm: 1965; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1933; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị V; sinh năm: 1963; nơi cư trú: tổ A, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị C; sinh năm: 1969; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị K; sinh năm: 1972; nơi cư trú: số D, ngõ A, K, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội.

- Anh Nguyễn Nhật A; sinh năm: 2002; nơi cư trú: tổ E, khu F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị K và anh Nguyễn Nhật A: Ông Nguyễn Bá T; có mặt.

- Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1963; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

3. Người làm chứng:

- Bà Trịnh Thị H1; sinh năm: 1939; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Ông Nguyễn Thanh H2; sinh năm: 1935; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Ông Lê Trọng S2; sinh năm: 1960; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị L; sinh năm: 1965; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

* Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:

Năm 1974, ông và vợ là bà Lê Thị M nhận chuyển nhượng nhà đất của bà Bùi Thị L1 tại phường H, thành phố H (giáp đường tiểu mạnh xóm). Năm 1976 đến 1977, Trung đoàn Trung Dũng lấy phần đất đồi của gia đình ông để đổ đường C - Cầu B. Năm 1979, gia đình ông tôn tạo lại mặt bằng giáp đường 337 và đào ao nuôi cá nên thửa đất có diện tích 3.750m². Theo bản đồ địa chính năm 2000, diện tích đất nhà ông thuộc thửa số 01 tờ bản đồ số 39 và thửa số 08 tờ bản đồ số 30. Năm 1990, con trai ông là ông Nguyễn Văn S1 kết hôn với bà Đặng Thị T1. Khoảng

năm 1992, vợ chồng ông cho vợ chồng ông S1 xây nhà cấp 4 rộng khoảng 20m² trên thửa đất để ở. Năm 2003, vợ chồng ông S1 phá nhà cấp 4 và xây nhà mái bằng như hiện nay. Năm 2002, khi kê khai thuế sử dụng đất, vợ chồng ông đã kê khai để các con nộp thuế, trong đó mỗi người được vợ chồng ông bà chia cho 400m² (ông S1 cũng được chia 400m²). Năm 2000, khi đo bản đồ địa chính, ông S1 chỉ cho cán bộ địa chính đo thửa 08 diện dích 1.345,5m² đứng tên ông S1, còn thửa 01 đứng tên ông. Năm 2007, khi có dự án mở rộng đường 337 Nhà nước thu hồi đất, ông mới biết toàn bộ thửa 08 đứng tên ông S1. Sau khi nhà nước thu hồi đất, ông dự định chia đất cho các con như đã kê khai nộp thuế mỗi người 400m², nhưng ông S1 không đồng ý và cho rằng thửa 08 diện tích 1.345,5m² là của mình. Ông đã làm đơn khiếu nại đến UBND thành phố H và UBND tỉnh Q đòi lại thửa 08. Ngày 16/12/2013, chủ tịch UBND thành phố H ban hành Quyết định số 3648 và ngày 07/11/2014, chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2606 không chấp nhận khiếu nại. Ông khởi kiện vụ án hành chính, Bản án số 69 ngày 19/9/2016, TAND tỉnh Quảng Ninh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Bản án phúc thẩm số 302 ngày 18/10/2017 của TAND cấp cao đã huỷ bản án sơ thẩm. Ngày 27/7/2020, UBND tỉnh Q có Quyết định số 2553 thu hồi Quyết định số 2606 và UBND thành phố H có Quyết định số 8941 thu hồi Quyết định số 3648. Sau đó, ông rút đơn khởi kiện, vụ án hành chính được đình chỉ. Do đó, ông khởi kiện buộc vợ chồng ông S1 trả lại thửa đất số 08 và một phần thửa đất số 07 bản đồ địa chính.

Ngày 02/4/2024, ông S thay đổi yêu cầu khởi kiện: buộc vợ chồng ông S1 trả lại một phần diện tích đất thửa 08 tờ 30 bản đồ địa chính 2000, cụ thể diện tích đất còn lại của thửa 08 tờ 30 giải phóng mặt bằng năm 2008. Vì năm 2008, vợ chồng ông là người được bồi thường thửa đất này (gồm 1 phần thửa đất số 08 tờ bản đồ 30 địa chính). Bản chứng nhận nhà đất tại hồ sơ bồi thường xác định thửa đất được bồi thường có nguồn gốc ông nhận chuyển nhượng của bà L1 và sử dụng để làm vườn. Ông S1 đã ký xác nhận và giáp ranh bản đồ giải phóng mặt bằng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 trình bày: thửa đất số 08 tờ 30 bản đồ địa chính năm 2000 do gia đình ông bà khai hoang và tôn tạo. Năm 1992, vợ chồng ông xây nhà cấp 4 để ở, đến năm 2003 vợ chồng ông sửa chữa nhà và sinh sống ổn định cho đến nay. Năm 2000, thành phố lập bản đồ địa chính thửa đất vợ chồng ông ở số 08 tờ bản đồ số 30 có diện tích 1.345,5m²; thửa đất ông S quản lý, sử dụng là thửa số 01 tờ bản đồ số 39 diện tích 1.865,7m². Gia đình ông và gia đình ông S đã ký giáp ranh cho nhau. Quá trình sử dụng đất từ năm 1992 đến năm 2011, gia đình ông đều nộp thuế. Do đó, ông bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông S.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị M trình bày:

Bà đồng ý yêu cầu khởi kiện cũng như trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S. Ngày 14/12/2022, bà M chết. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M là bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Bá T, ông Nguyễn Văn Y, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị K, anh Nguyễn Nhật A (con trai của ông Nguyễn Văn H3 (chết năm 2010) đều có quan điểm đồng ý với trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông S. Ông Nguyễn Văn S1 không đồng ý.

Các tài liệu Tòa án xác minh, thu thập:

- Người làm chứng bà Trịnh Thị H1 và ông Nguyễn Thanh H2 đều trình bày: Bà H1 sinh sống từ năm 1963, ông H2 sinh sống từ năm 1970 tại phường H đến nay. Nguồn gốc thửa đất ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị M là đất của mỏ than Giáp Khẩu. Trước đây bà L1 mua lại đất này, sau đó bán cho vợ chồng ông S. Sau đó, vợ chồng ông S và các con chuyển về đây sinh sống. Gia đình ông S có tôn tạo, đổ đất để hình thành thửa đất như hiện nay. Thửa đất gia đình ông S1 đang sử dụng ông, bà cũng không biết ai là người đổ đất, tôn tạo.

- Người làm chứng ông Lê Trọng S2 và bà Nguyễn Thị L trình bày: Ông S2 sinh sống từ năm 1990, bà L sinh sống từ cuối năm 1996 tại phường H. Khi ông, bà chuyển về sinh sống thì gia đình ông Nguyễn Văn S1 ở trên thửa đất số 08. Phía trước ngôi nhà cấp 4 của gia đình ông S1 là mương nước. Bà L thì cho rằng vợ chồng ông S1 đã đổ đất tôn tạo hình thành thửa đất như hiện nay. Ông S2 không biết cụ thể ai là người trực tiếp đổ đất. Ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị M ở phần đất cạnh đất của gia đình ông S1.

- Biên bản xác minh ngày 09/02/2023 và ngày 24/4/2024 tại UBND phường H có nội dung: theo hồ sơ lưu trữ tại UBND phường H thì thửa đất 08 tờ bản đồ địa chính 30 (bản đồ địa chính năm 2000) có nguồn gốc do vợ chồng ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị M nhận chuyển nhượng của bà Bùi Thị L1 từ năm 1974. Quá trình sử dụng gia đình ông S có khai phá, mở rộng thêm thửa đất. Năm 1990, vợ chồng ông S cho con trai là ông Nguyễn Văn S1 một phần diện tích đất để xây dựng nhà ở (thời điểm đó không xác định được diện tích). Năm 1992, vợ chồng ông Nguyễn Văn S1, bà Đặng Thị T1 xây dựng nhà ở, sử dụng ổn định cho đến nay. Năm 2000 khi đo vẽ bản đồ địa chính, diện tích đất vợ chồng ông S1 đăng ký sử dụng là thửa 08 tờ bản đồ địa chính số 30, diện tích 1.345,5m², mục đích sử dụng là đất thổ cư, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.

- Quyết định số 3648/QĐ-UBND ngày 16/12/2013 của Chủ tịch UBND thành phố H về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa hộ ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Văn S1 với nội dung “không chấp nhận đơn kiến nghị tranh chấp đất đai của hộ ông Nguyễn Văn S đòi lại thửa đất số 08 tờ bản đồ số 30 phường H của ông Nguyễn Văn S1”.

- Quyết định số 2606/QĐ-UBND ngày 07/11/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc giải quyết tranh chấp đất đai của ông Nguyễn Văn S với hộ ông Nguyễn Văn S1 với nội dung “đồng ý Quyết định số 3648/QĐ-UBND ngày 16/12/2013 của Chủ tịch UBND thành phố H, không chấp nhận khiếu nại của ông Nguyễn Văn S”.

- Quyết định số 2553/QĐ-UBND ngày 27/7/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Q về việc “thu hồi Quyết định số 2606/QĐ-UBND ngày 07/11/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh”.

- Quyết định số 8941/QĐ-UBND ngày 28/8/2020 của UBND thành phố L về việc thu hồi Quyết định số 3648/QĐ-UBND ngày 16/12/2013 của Chủ tịch UBND thành phố H.

- Phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư dự án nâng cấp tỉnh lộ 337 đoạn L - Cầu B, phường H, thành phố H được phê duyệt tại Quyết định số 228 ngày 09/3/2009 của UBND thành phố H, chủ hộ: Nguyễn Văn S, Lê Thị M, đối với thửa số 08 tờ 30 giải phóng mặt bằng (thửa 8 tờ 30 địa chính).

- Phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư dự án nâng cấp tỉnh lộ 337 đoạn L - Cầu B, phường H, thành phố H được phê duyệt tại Quyết định số 228 ngày 09/3/2009 của UBND thành phố H, đồng chủ sử dụng: Nguyễn Văn S1, Nguyễn Văn H3 đối với thửa số 07 tờ 30 giải phóng mặt bằng.

- Phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư dự án nâng cấp tỉnh lộ 337 đoạn L - Cầu B, phường H, thành phố H được phê duyệt tại Quyết định số 1057 ngày 16/3/2009 của UBND thành phố H, hộ ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị M với thửa số 27 tờ 31 giải phóng mặt bằng.

- Công văn số 80/UBND ngày 19/02/2024 của UBND phường H có nội dung:

+ Căn cứ sổ bộ thuế hiện lưu trữ tại phường H hộ ông Nguyễn Văn S thực hiện nghĩa vụ thuế nhà, đất từ năm 1996 đến năm 1999, 2001, 2002, 2004, 2005, 2010 và 2011; hộ ông Nguyễn Văn S1 thực hiện nghĩa vụ thuế nhà, đất từ năm 1996 đến năm 1999, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2010 và 2011. Từ năm 2012 đến nay cả hai hộ không có tên trong sổ bộ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

+ Cung cấp Biên bản giải quyết và xác định về việc đo nhầm phần diện tích ngõ đi của ông Nguyễn Văn S vào thửa đất mang tên ông Nguyễn Văn S1 (theo nội dung bản chứng nhận nhà đất ngày 29/4/2009 của UBND phường H). Qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ, Uỷ ban chưa tìm được biên bản giải quyết và xác định việc nhầm lẫn trên. UBND phường H đã làm việc với ông Nguyễn Văn S1, ông S1 thống nhất nguồn gốc sử dụng đất tại Bản chứng nhận nhà đất ngày 29/4/2009.

- Công văn số 134/UBND ngày 15/3/2024 của UBND phường H có nội dung:

+ Diện tích 1.34,5m² tại bản chứng nhận nhà đất ngày 22/11/2016 của UBND phường H theo phương án bồi thường, hỗ trợ thửa đất số 29 tờ bản đồ 30 giải phóng mặt bằng thuộc thửa 08 tờ bản đồ 30 địa chính năm 2000.

+ Bản chứng nhận nhà đất ngày 22/11/2016 của UBND phường H tại phương án bồi thường đối với thửa 29 tờ bản đồ 30 giải phóng mặt bằng gộp cả phần diện tích đất đã lập phương án cho ông Nguyễn Văn S tại thửa 08 tờ bản đồ 30 giải phóng mặt bằng là do: thửa đất 08 tờ bản đồ 30 địa chính chủ sử dụng đứng tên ông Nguyễn Văn S1.

+ Biên bản xác định ranh giới, mốc giới ngày 16/6/2017 tách phần diện tích bồi thường mang tên ông S (như Bản chứng nhận nhà đất ngày 25/02/2009) là do gia đình ông S yêu cầu đơn vị đo vẽ đo vẽ theo bản trích lục năm 2008.

Biên bản xác minh ngày 11/4/2024 tại UBND phường H có nội dung:

- Thửa 8 tờ 30 giải phóng mặt bằng năm 2008 đứng tên người được bồi thường là ông Nguyễn Văn S và bà Lê Thị M có diện tích 533,9m². Sau khi đối chiếu Biên bản xác định ranh giới, mốc giới ngày 06/7/2008; kết quả đo vẽ của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long có lồng ghép sơ đồ giải phóng mặt bằng năm 2008, thì thửa 08 tờ 30 giải phóng mặt bằng bao gồm các thửa địa chính năm 2000 là: thửa 06, thửa 07, thửa 08, một phần diện tích thửa 27 và một phần diện tích thửa 1. Diện tích đất thu hồi đối với thửa 8 tờ 30 giải phóng mặt bằng là 223,9m², trong đó diện tích thu hồi vĩnh viễn là 158,1m²; diện tích đất thu hồi tạm thời là 65,8m². Diện tích đất thu hồi nằm trong thửa 06, thửa 07 và thửa 27 địa chính. Bảng tổng hợp khối lượng và tính giá trị bồi thường xác định diện tích thu hồi vĩnh viễn 98,5m² và thu hồi tạm thời 65,8m² thuộc thửa 08 tờ bản đồ địa chính là chưa chính xác (tại phương án này chưa thu hồi vào diện tích đất thuộc thửa 8 bản đồ địa chính). Bản chứng nhận nhà đất ngày 25/02/2009 xác định diện tích 533,9m² tại bản bản đồ địa chính năm 2000 là thửa 08 tờ bản đồ số 30 là chưa đầy đủ.

- Thửa 07 tờ 30 giải phóng mặt bằng năm 2008 đứng tên người được bồi thường là ông Nguyễn Văn S1 và ông Nguyễn Văn H3 có diện tích 628m². Sau khi đối chiếu Biên bản xác định ranh giới, mốc giới ngày 06/7/2008; kết quả đo vẽ của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long có lồng ghép sơ đồ giải phóng mặt bằng năm 2008 thì thửa 07 tờ 30 giải phóng mặt bằng bao gồm các thửa địa chính năm 2000 là: thửa 06, thửa 07, thửa 08 và một phần diện tích thửa 09. Diện tích đất thu hồi đối với thửa 07 tờ 30 giải phóng mặt bằng là 281,6m², trong đó diện tích thu hồi vĩnh viễn là 206m²; diện tích đất thu hồi tạm thời là 75,6m². Diện tích đất thu hồi nằm trong thửa 06, thửa 07 và thửa 09 địa chính. Bảng tổng hợp khối lượng và tính giá trị bồi thường xác định diện tích thu hồi vĩnh viễn là 206m², trong đó có 120m² và diện tích đất thu hồi tạm thời là 75,6m² thuộc thửa 08 tờ bản đồ địa chính là chưa chính xác (tại phương án này chưa thu hồi vào diện tích đất thuộc thửa 8 bản đồ địa chính). Bản chứng nhận nhà đất ngày 25/02/2009 xác định diện tích 628m² tại bản đồ địa chính năm 2000 là thửa 07 tờ bản đồ 30 là chưa đầy đủ.

- Thửa 29 tờ 3 giải phóng mặt bằng năm 2016 đứng tên người được bồi thường là ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 có diện tích 1.804,6m². Sau khi đối chiếu Biên bản xác định ranh giới, mốc giới ngày 01/5/2016; kết quả đo vẽ của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long có lồng ghép sơ đồ giải phóng mặt bằng năm 2016 thì thửa 29 tờ 3 giải phóng mặt bằng bao gồm các thửa địa chính năm 2000 là: thửa 7, thửa 8, một phần diện tích thửa 1 và một phần diện tích thửa 17. Diện tích đất thu hồi đối với thửa 29 tờ 3 giải phóng mặt bằng là 300,8m²; trong đó diện tích thu hồi vĩnh viễn là 300,8m²; diện tích thu hồi nằm trong thửa 7 địa chính là 299,8m² và thu hồi trong thửa 8 thửa địa chính là 1,0m² (nằm trong thửa 07 và thửa 8 tờ 30 giải phóng mặt bằng 2008). Bảng tổng hợp khối lượng và tính giá trị bồi thường xác định diện tích thu hồi thuộc thửa 7 tờ bản đồ địa chính là chưa đầy đủ.

- Đối với sổ bộ thuế UBND phường H cung cấp cho Toà án tại Công văn số 80/UBND ngày 19/02/2024 là thu thuế trên cơ sở kê khai của người sử dụng đất và là đất ở; không phản ánh đầy đủ hiện trạng đất mà hộ dân đang quản lý, sử dụng.

Ngày 05/4/2021, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định, kết quả:

- Về đất: thửa 08 tờ bản đồ địa chính 30 diện tích: 1.345,5m², trong đó đã giải phóng làm đường 337 diện tích 1,8m²; còn lại 1310,7m² ông S1 đang quản lý, sử dụng.

Thửa 07 tờ bản đồ địa chính số 30 diện tích: 391,9m², trong đó đã giải phóng làm đường 337 diện tích 373,3m²; còn 18,6m² ông S1 đang quản lý, sử dụng.

Ngoài ra, ông S1 còn sử dụng 29,2m² đất thuộc thửa 01 tờ bản đồ số 39.

- Về tài sản trên đất: có 01 nhà mái bằng diện tích khoảng 60m², 01 công trình phụ khoảng 40m², sân lát gạch và cây cối.

Ngày 03/01/2024, Toà án tiến hành xem xét thẩm định bổ sung, kết quả:

- Về đất: hiện trạng đất hộ ông Nguyễn Văn S1 đang quản lý, sử dụng và dẫn đạc cho cơ quan đo vẽ có diện tích là 1579,1m²; trong đó: 1341m² thuộc thửa 08 tờ bản đồ 30; 107,3m² thuộc thửa 01 tờ bản đồ số 39; 21,2m² thuộc thửa 07 tờ bản đồ 30; 1,9m² thuộc thửa 27 và 107,7m² thuộc thửa 17 (đất đồi).

Diện tích thửa 08 giải phóng mặt bằng năm 2008 (giải phóng thêm tại thửa 29 tờ bản đồ số 3 giải phóng mặt bằng năm 2016) hiện nay hộ S1 đang quản lý, sử dụng là: 296,3m² trong đó có: 261,7m² thuộc thửa 08; 17,4m² thuộc thửa 7; 16,2m² thuộc thửa 01 và 1m² thuộc thửa 27.

- Về tài sản trên đất: như biên bản thẩm định ngày 05/4/2021.

Công văn số 2818/UBND ngày 16/4/2024 và số 3151/UBND ngày 26/4/2024 của UBND thành phố H có nội dung: căn cứ hồ sơ địa chính thì thửa đất số 08 tờ bản đồ địa chính số 30 địa chỉ tại tổ B, khu C, phường H, thành phố H phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của thành phố H giai đoạn 2021-2030, được quy hoạch là đất ở đô thị, có nguồn gốc và quá trình sử dụng như xác minh của UBND phường H. UBND thành phố chỉ xem xét cấp giấy khi đủ điều kiện theo khoản 1 Điều 20, Điều 70 Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ. Sau khi có Bản án của Toà án thành phố H, đề nghị công dân hoàn thiện hồ sơ và liên hệ T2 tậm hành chính công thành phố H để thực hiện các thủ tục theo quy định.

Ngày 04/4/2023, Toà án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải: các đương sự không hoà giải được với nhau.

Tại phiên tòa sơ thẩm

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông Nguyễn Văn S1, bà Đặng Thị T1 trả lại một phần diện tích đất của thửa 08 tờ 30 bản đồ địa chính 2000, cụ thể là phần còn lại của thửa số 08 tờ 30 giải phóng mặt bằng đứng tên chủ sử dụng ông Nguyễn Văn S, theo kết quả đo vẽ là 261,7m².

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của nguyên đơn trình bày quan điểm: về nguồn gốc thửa đất số 08 tờ bản đồ địa chính số 30 nằm trong thửa đất do ông Nguyễn Văn S nhận chuyển nhượng lại của bà L1 năm 1974. Sau đó, gia đình ông S khai phá thêm thành thửa đất diện tích 3.750m². UBND phường H, UBND thành phố H đều xác nhận nguồn gốc đất là của ông S, bà M và có cho ông Nguyễn Văn S1 một phần, nhưng không xác định diện tích. Khi giải phóng mặt bằng thực hiện dự án nâng cấp tỉnh lộ 337 đoạn L - Cầu B, UBND thành phố H có Quyết định số 228 phê duyệt phương án bồi thường và tái định cư đối với thửa đất số 8 tờ bản đồ GPMB số 30 cho gia đình ông S và bà M. Tại phương án nêu rõ diện tích ông S và bà M đang quản lý là 533,9m². Ông S1 ký xác nhận giáp ranh trong bản đồ giải phóng mặt bằng, xác nhận phần đất thuộc bản đồ GPMB được bồi thường là của ông S. Bản chứng nhận nhà đất của UBND phường H xác định chủ sử dụng đất đối với thửa đất số 08 tờ bản đồ GPMB số 30 là ông Nguyễn Văn S. Ông S1 cho rằng thửa 08 tờ 30 bản đồ địa chính do vợ chồng ông khai hoang là không có cơ sở. Không thể chỉ căn cứ vào lời khai của ông S1 và hồ sơ đo vẽ địa chính năm 2000 có chữ ký giáp danh của ông S để xác định toàn bộ thửa đất số 8 tờ bản đồ địa chính số 30 thuộc quyền quản lý, sử dụng ổn định của ông S1 từ trước năm 1993 đến năm 2009. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S.

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc vợ chồng ông S được bồi thường thửa 08 tờ 30 giải phóng mặt bằng ông bà không biết và cũng không ký giáp ranh. Trên diện tích đất ông S yêu cầu vợ chồng ông bà trả lại có một số cây cối do ông bà trồng. Tuy nhiên, ông bà không có yêu cầu gì đối với tài sản này. Về ngõ đi hiện nay gia đình ông sử dụng được hình thành từ sau khi Nhà nước thu hồi đất năm 2009. Còn trước đây, gia đình ông đi lối ngõ xóm cùng gia đình ông S.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm: thửa đất số 08 tờ 30 bản đồ địa chính là do vợ chồng ông S1 khai phá và tôn tạo. Thửa đất của vợ chồng ông S là thửa giáp ranh được đăng ký là thửa số 01 tờ 39 bản đồ địa chính. Ông S và ông S1 ký giáp ranh cho nhau. Bản chứng nhận nhà đất năm 2009 chỉ lập cho gia đình ông S. Hơn nữa, diện tích đất thu hồi tại phương án năm 2008 chưa lấy vào thửa 08 tờ 30 bản đồ địa chính nên gia đình ông S1 chưa bị ảnh hưởng quyền lợi nên không có ý kiến.

Các đương sự đều thống nhất bà Lê Thị M và ông Nguyễn Văn S có con là các ông, bà Nguyễn Thị V,Nguyễn Bá T,Nguyễn Văn Y,Nguyễn Thị C,Nguyễn Thị K, Nguyễn Văn H3 (chết năm 2010). Ông H3 có con là anh Nguyễn Nhật A. Bà M và ông H3 đều không có con nuôi và con riêng. Bố mẹ của bà M đều chết trước bà M.

Với nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã quyết định:

Căn cứ khoản 8 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai; Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S. Buộc ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 trả lại cho ông Nguyễn Văn S và những người thừa kế khác của bà Lê Thị M là ông Nguyên Văn Y1, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị K, anh Nguyễn Nhật A và ông Nguyễn Văn S1 quyền sử dụng 261,7m² đất (được giới hạn bởi các điểm M, 19, G, H, 21, I, J, K, L, M) thuộc thửa 08 tờ bản đồ địa chính số 30 (bản đồ địa chính năm 2000) mang tên ông Nguyễn Văn S1, địa chỉ tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (có sơ đồ hiện trạng kèm theo và là phần không thể tách rời Bản án).

Ông Nguyễn Văn S và những người thừa kế của bà Lê Thị M có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/5/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 có đơn kháng cáo với nội dung: kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm theo hướng bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày rõ nội dung kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa phúc thẩm có quan điểm: Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện chức năng, nhiệm vụ đúng quy định, các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 nằm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong phạm vi bản án sơ thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về sự vắng mặt của ông Nguyễn Văn Y nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[3] Xét nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: bị đơn ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 kháng cáo không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do việc vợ chồng ông S được bồi thường thửa 08 tờ 30 giải phóng mặt bằng ông bà không biết và cũng không ký giáp ranh. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm: thửa đất số 08 tờ 30 bản đồ địa chính là do vợ chồng ông S1 khai phá và tôn tạo. Thửa đất của vợ chồng ông S là thửa giáp ranh được đăng ký là thửa số 01 tờ 39 bản đồ địa chính. Ông S và ông S1 ký giáp ranh cho nhau. Bản chứng nhận nhà đất năm 2009 chỉ lập cho gia đình ông S. Hơn nữa, diện tích đất thu hồi tại phương án năm 2008 chưa lấy vào thửa 08 tờ 30 bản đồ địa chính nên gia đình ông S1 chưa bị ảnh hưởng quyền lợi nên không có ý kiến gì đối với phương án bồi thường cho ông S. Xét nội dung yêu cầu kháng cáo của bị đơn và các căn cứ để chứng minh cho nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về nguồn gốc thửa đất tranh chấp: theo “Đơn đề nghị xí nghiệp mua nhà” của bà Bùi Thị L1 thể hiện ngày 13/7/1973 bà L1 nhận chuyển nhượng 03 gian nhà của nhà máy L4 (khu vực giáp khẩu) địa chỉ tại phường H, thành phố H có xác nhận của Giám đốc nhà máy ngày 21/9/1973. Tại “Giấy nhượng nhà” ngày 06/4/1974, bà L1 chuyển nhượng nhà lại cho ông Nguyễn Văn S. Sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông S và các con chuyển đến ở tại nhà đất trên.

Nguyên đơn ông S có lời khai thể hiện: quá trình ở, vợ chồng có khai phá, mở rộng, tôn tạo thửa đất. Năm 1990, ông S1 lấy vợ là bà Đặng Thị T1, vợ chồng ông cho vợ chồng ông S1 một phần đất xây nhà ở (khi cho không có giấy tờ, không xác định cụ thể diện tích). Năm 1992, vợ chồng ông S1 xây nhà cấp 4 để ở. Năm 2003, vợ chồng ông S1 sửa thành nhà mái bằng như hiện nay. Còn bị đơn ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 cho rằng thửa đất số 08 tờ 30 bản đồ địa chính năm 2000 do vợ chồng ông bà khai hoang và tôn tạo. Năm 1992, vợ chồng ông xây nhà cấp 4 để ở, đến năm 2003 vợ chồng ông sửa chữa nhà và sinh sống ổn định cho đến nay. Năm 2000, thành phố lập bản đồ địa chính thửa đất vợ chồng ông ở số 08 tờ bản đồ số 30 có diện tích 1.345,5m²; thửa đất ông S quản lý, sử dụng là thửa số 01 tờ bản đồ số 39 diện tích 1.865,7m². Gia đình ông và gia đình ông S đã ký giáp ranh cho nhau. Quá trình sử dụng đất từ năm 1992 đến năm 2011, gia đình ông đều nộp thuế. Do đó, ông bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông S.

Hội đồng xét xử đánh giá lời khai của nguyên đơn, bị đơn, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp, do Tòa án thu thập, lời khai của những người làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo Biên bản xác minh nguồn gốc đất tại UBND phường H ngày 09/02/2023 và ngày 24/4/2024 có nội dung: “thửa đất số 08 theo hồ sơ lưu trữ có nguồn gốc do ông Nguyễn Văn S nhận chuyển nhượng của bà L1 từ năm 1974. Quá trình sử dụng, ông S có khai phá, mở rộng thêm thửa đất. Năm 1990, ông S cho con trai là ông Nguyễn S1 một phần diện tích để xây dựng nhà ở, thời điểm cho không có giấy tờ và diện tích cụ thể. Năm 1992, vợ chồng ông S1 xây nhà ở trên đất cho đến nay”.

Biên bản xác minh ngày 11/4/2024, UBND phường H có nội dung “đối với sổ bộ thuế UBND phường H cung cấp cho Toà án tại Công văn số 80/UBND ngày 19/02/2024 là thu thuế trên cơ sở kê khai của người sử dụng đất và là đất ở; không phản ánh đầy đủ hiện trạng đất mà hộ dân đang quản lý, sử dụng”.

Những người làm chứng là những người dân sống lâu năm (sinh sống trước năm 1970) tại phường H, thành phố H là bà Trịnh Thị H1, ông Nguyễn Thanh H2 có lời khai thể hiện: “nguồn gốc thửa đất gia đình ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị M sử dụng trước đây là đất của mỏ than Giáp Khẩu. Sau đó mỏ than bán lại cho người dân sử dụng, Khoảng từ năm 1970 đến năm 1980, gia đình ông S, bà M mua lại phần đất này của bà L1. Sau đó, vợ chồng ông S và các con chuyển về đây sinh sống. Quá trình sinh sống, ông S và các con có tôn tạo, đổ thêm đất để hình thành thửa đất như hiện nay. Thửa đất gia đình ông S1 đang sử dụng ông, bà cũng không biết ai là người trực tiếp đổ đất, tôn tạo”;

Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện: năm 2000, Nhà nước đo bản đồ địa chính, thửa 08 tờ bản đồ số 30 diện tích 1345,5m² đăng ký đứng tên vợ chồng ông S1. Tuy nhiên, tại phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư dự án “nâng cấp tỉnh lộ 337 đoạn đường L - Cầu B, phường H, thành phố H” được phê duyệt tại Quyết định số 228/QĐ-UBND ngày 09/3/2009 của UBND thành phố H đối với thửa 08 tờ 30 bản đồ giải phóng mặt bằng chủ sử dụng là ông Nguyễn Văn S, bà Lê Thị M, diện tích là 533,9m². Biên bản xác minh ngày 11/4/2024, UBND phường H có nội dung: “thửa 08 tờ 30 giải phóng mặt bằng năm 2008 đứng tên người được bồi thường là ông Nguyễn Văn S và bà Lê Thị M có diện tích 533,9m². Sau khi đối chiếu Biên bản xác định ranh giới, mốc giới ngày 06/7/2008; kết quả đo vẽ của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long có lồng ghép sơ đồ giải phóng mặt bằng năm 2008, thì thửa 08 tờ 30 giải phóng mặt bằng bao gồm các thửa địa chính năm 2000 là: thửa 06, thửa 07, thửa 08, một phần diện tích thửa 27 và một phần diện tích thửa 01”. Như vậy, thửa 08 tờ 30 giải phóng mặt bằng có một phần diện tích thửa 08 tờ bản đồ địa chính số 30. Bản chứng nhận nhà đất ngày 25/02/2009 của UBND phường H thể hiện nguồn gốc đất là nhận chuyển nhượng của bà L1 và vợ chồng ông S sử dụng để làm vườn từ năm 1972 đến năm 2009 và đã được niêm yết công khai. Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất giải phóng mặt bằng ngày 06/7/2008 xác định hộ tiếp giáp là ông Nguyễn Văn S1 và ông S1 đã ký xác nhận ranh giới. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm cho rằng chữ ký Sen trong biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất GPMB ngày 6/7/2008 và trong trích lục hồ sơ thửa đất GPMB ngày 6/7/2008 không phải là chữ ký của ông S1 và đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu giám định chữ ký. Hội đồng xét xử xét thấy, các tài liệu chứng cứ này quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm các đương sự đều biết và bị đơn không có ý kiến yêu cầu gì nên đề nghị tạm ngừng phiên tòa của bị đơn để giám định chữ ký Hội đồng xét xử không chấp nhận. Mặt khác, khi thực hiện dự án GPMB nâng cấp tỉnh lộ 337, ông S1 cũng được bồi thường thửa tiếp giáp với thửa ông S được bồi thường và ông S cũng ký hộ tiếp giáp. Nếu là đất của ông S1 thì trong phương án bồi thường cho ông S1 không thể có hộ tiếp giáp là ông S ký tiếp giáp được nên việc bị đơn cho rằng chữ ký Sen trong phương án bồi thường cho ông S không phải là chữ ký của bị đơn ông S1 nhưng chính phương án bồi thường cho ông S1 lại thể hiện ông S là hộ tiếp giáp ký. Đồng thời vợ chồng ông S1 không tranh chấp đối với phương án bồi thường trên cũng như không có ý kiến kiến nghị về nguồn gốc đất là căn cứ để lập phương án bồi thường cho vợ chồng ông S. Trong thửa giải phóng mặt bằng này cũng có một phần diện tích thửa 08 tờ bản đồ địa chính số 30. Thửa này giáp ranh với thửa 08 giải phóng mặt bằng mà vợ chồng ông S được bồi thường. Tại Biên bản xác định ranh giới, mốc giới ông S đã ký xác nhận ranh giới cho ông S1 và ông H3. Như vậy, mặc dù thửa 08 tờ bản đồ địa chính số 30 đứng tên ông S1, nhưng căn cứ phương án bồi thường đối với thửa 08 và thửa 07 giải phóng mặt bằng năm 2008 thì toàn bộ thửa 08 tờ bản đồ địa chính 30 không phải do một mình vợ chồng ông S1 quản lý, sử dụng. Hơn nữa bản đồ địa chính năm 2000 cũng chỉ thể hiện tên người sử dụng là ông S1 cũng như diện tích do hộ tự kê khai, không phản ánh đầy đủ về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng thửa đất như Biên bản xác minh tại phường H ngày 09/02/2023 và ngày 24/4/2024 thể hiện.

Tại phương án bồi thường GPMB năm 2008 cho hộ ông S cũng thể hiện hiện trạng mặt bằng, kết cấu công trình và Bảng tổng hợp khối lượng và tính giá trị bồi thường, hỗ trợ và TĐC cũng đều thể hiện kiến trúc trên đất gồm có chuồng vịt, hàng tre đan mắt cáo và cây hoa màu trên đất có keo, bàng, nhãn, ổi và ông S được bồi thường những tài sản này. Như vậy, ông S1 cho rằng ông khai hoang tôn tạo thửa đất này nhưng khi GPMB nếu là tài sản của ông S1 thì ông S1 phải có ý kiến nhưng ông S1 không những không có ý kiến gì đối với phương án bồi thường mà khi lập biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất GPMB của hộ ông S1 được bồi thường thì tiếp giáp hộ bên cạnh chính là mảnh đất đang tranh chấp là ông S ký giáp ranh chủ hộ tiếp giáp. Ngoài ra, ông S1 cũng khẳng định ngõ đi hiện nay gia đình ông đang sử dụng được hình thành sau khi Nhà nước thu hồi đất năm 2008, còn trước đó gia đình ông đi ngõ đường tiểu mạnh xóm với gia đình ông S.

Như vậy, lời khai của vợ chồng ông S phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với Biên bản xác minh tại UBND phường H và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do các đương sự cung cấp, do Tòa án thu thập, đủ cơ sở để xác định về nguồn gốc thửa đất 08 tờ bản đồ địa chính số 30 là do vợ chồng ông S nhận chuyển nhượng nhà của bà Bùi Thị L1, quá trình sinh sống có khai phá, mở rộng thêm thửa đất. Do đó, việc vợ chồng ông S1 cho rằng thửa đất có nguồn gốc do vợ chồng ông S1 bà T1 khai hoang là không có căn cứ.

Theo kết quả đo đạc hiện trạng diện tích thửa 08 tờ 30 bản đồ giải phóng mặt bằng năm 2008 còn lại sau khi giải phóng và hiện nay vợ chồng ông S1 đang quản lý, sử dụng là 296,3m², trong đó có 261,7m² nằm trong thửa 08 tờ bản đồ địa chính số 30 (bản đồ năm 2000). Như phân tích nêu trên thì diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của ông S, bà M. Công văn số 2818/UBND ngày 16/4/2024 và số 3151 ngày 26/4/2024 của UBND nhân dân thành phố H và Biên bản xác minh của UBND phường H có nội dung thửa đất số 08 tờ bản đồ địa chính số 30 (bản đồ địa chính năm 2000) có nguồn gốc, quá trình sử dụng ổn định, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, được quy hoạch là đất thổ cư. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S, buộc ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 trả lại cho ông S và các đồng thừa kế khác của bà Lê Thị M quyền sử dụng 261,7m² đất thuộc thửa 08 tờ bản đồ địa chính số 30 tại phường H, thành phố H là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đều có quan điểm về tài sản là cây cối trên đất, ông S1 và bà T1 không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Từ những phân tích và nhận định trên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy có đủ cơ sở để xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó, không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/4/2021 hết số tiền 7.000.000 đồng. Nguyên đơn ông S đã nộp tạm ứng số tiền này. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Văn S1, bà Đặng Thị T1 phải có nghĩa vụ trả cho ông S số tiền này.

Đối với chi phí xem xét thẩm định bổ sung ngày 03/01/2024 hết số tiền 2.000.000 đồng. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn S tự nguyện chịu số tiền này và đã nộp đủ nên không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn S1, bà Đặng Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Tuy nhiên, ông S1 là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi và có yêu cầu được miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông S1.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 không được Tòa án chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, bị đơn ông S1 là người cao tuổi và đề nghị được miễn án phí nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông S1. Bà T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 8 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 228, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai; Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S. Buộc ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 trả lại cho ông Nguyễn Văn S và những người thừa kế khác của bà Lê Thị M là ông Nguyên Văn Y1, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Bá T, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị K, anh Nguyễn Nhật A và ông Nguyễn Văn S1 quyền sử dụng 261,7m² đất (được giới hạn bởi các điểm M, 19, G, H, 21, I, J, K, L, M) thuộc thửa 08 tờ bản đồ địa chính số 30 (bản đồ địa chính năm 2000) mang tên ông Nguyễn Văn S1, địa chỉ tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (có sơ đồ hiện trạng kèm theo và là phần không thể tách rời Bản án).

Ông Nguyễn Văn S và những người thừa kế của bà Lê Thị M có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  1. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn S1 và bà Đặng Thị T1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn S chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền là 7.000.000đ (bảy triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí: Bà Đặng Thị T1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ đi số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000780 ngày 13/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long. Miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn S1.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND thành phố Hạ Long;
  • - CCTHADS thành phố Hạ Long;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Lưu HS, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Đức Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/DS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 51/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger