|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 51/2024/DS-ST Ngày: 24-5-2024 Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Minh Quốc và ông Nguyễn Thành Phước.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 295/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 10/2024/QĐ-TA ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Thông báo về thời gian tiếp tục phiên tòa số 03/TB-TA ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T (JIVF)
Địa chỉ: Lầu A, Tòa nhà C, 7 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Taniguchi N – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H – Trưởng bộ phận cấp cao Bộ phận Quản lý Công nợ. (Theo Giấy ủy quyền số 59/2022/UQ-JIVF ngày 06/12/2022).
Người được ủy quyền lại: Ông Trương Quốc B – Nhân viên JIVF (Theo Giấy ủy quyền số 650/2023/UQLM- JIVF ngày 06/11/2023).
Bị đơn: Anh Lê Phước L, sinh năm 2004; Địa chỉ: Khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.
2
Tại phiên tòa, ông Trương Quốc B vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Lê Phước L vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là Công ty T (JIVF) do người đại diện theo ủy quyền là ông Trương Quốc B trình bày:
Ngày 25/12/2022, anh Lê Phước L có ký với Công ty T (JIVF) Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 để vay số tiền 22.000.000 đồng, thời hạn vay là 18 tháng, lãi suất 4,35%/tháng (52,2%/năm); mục đích vay: Mua xe máy. Sau khi vay thì anh L đã trả 5.404.303 đồng (trong đó nợ gốc là 2.781.707 đồng, nợ lãi 2.581.593 đồng, nợ lãi quá hạn là 5.003 đồng, phí quản lý khoản vay 36.000 đồng). Tuy nhiên, từ ngày 19/3/2023 đến nay thì anh L không trả nợ gốc và lãi cho JIVF mặc dù đã được JIVF yêu cầu nhiều lần.
Do anh Lê Phước L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên JIVF yêu cầu Tòa án buộc anh Lê Phước L phải trả cho JIVF số tiền tạm tính đến hết ngày 29/5/2023 là 21.138.403 (hai mươi mốt triệu một trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm lẻ ba) đồng (gồm: Tiền nợ gốc: 19.218.293 đồng; Lãi: 1.868.983 đồng; Lãi quá hạn: 27.127 đồng; Phí quản lý tài khoản vay: 24.000 đồng) và tiền lãi, phí tiếp tục phát sinh sau ngày 29/5/2023 cho đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Lê Phước L để tham gia các phiên họp đối chất, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Lê Phước L vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Lê Phước L cũng như không tiến hành hòa giải được.
Tòa án đã ban hành thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và thông báo cho anh Lê Phước L biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng anh Lê Phước L cũng không có ý kiến phản hồi.
Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn là Công ty T (JIVF) do người đại diện theo ủy quyền là ông Trương Quốc B vắng mặt nhưng có văn bản trình bày: JIVF yêu cầu Tòa án buộc anh Lê Phước L phải trả cho JIVF số tiền tạm tính đến ngày 24/5/2024 là 32.833.532 đồng (gồm: Nợ gốc: 19.218.293 đồng; Lãi: 11.021.421 đồng; Lãi quá hạn: 2.437.818 đồng; Phí quản lý khoản vay: 156.000 đồng) và tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 25/5/2024 cho đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022.
Bị đơn anh Lê Phước L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu quan điểm:
3
Về tố tụng:
Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tại phiên tòa, ông Trương Quốc B là đại diện theo ủy quyền nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Lê Phước L vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Phước L là phù hợp quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T (JIVF), buộc anh Lê Phước L phải trả cho JIVF số tiền tính đến ngày 24/5/2024 là 32.833.532 đồng (gồm: Nợ gốc: 19.218.293 đồng; Lãi: 11.021.421 đồng; Lãi quá hạn: 2.437.818 đồng; Phí quản lý khoản vay: 156.000 đồng) và tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 25/5/2024 cho đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022.
Về án phí: Bị đơn anh Lê Phước L phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn Công ty T (JIVF) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và tư cách tham gia tố tụng:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/8/2023, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 21.138.403 (hai mươi mốt triệu một trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm lẻ ba) đồng và tiền lãi, phí tiếp tục phát sinh sau ngày 29/5/2023 cho đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022 nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú: khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thụ lý vụ án dân sự và giải quyết là đúng quy định theo Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định Công ty T (JIVF) là nguyên đơn, anh Lê Phước L là bị đơn.
Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Ông Trương Quốc B là đại diện theo ủy quyền nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Lê Phước L đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai
4
nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Như vậy, anh Lê Phước L đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về đánh giá chứng cứ:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cung cấp Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022, Hợp đồng mua bán xe ngày 25/11/2022, Ủy nhiệm chi số 1031122L26205418 ngày 26/12/2022, Giấy đề nghị vay kiêm phương án sử dụng vốn của anh Lê Phước L. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ thể hiện phản bác hay chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và chứng cứ do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án.
Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; đồng thời đã thông báo việc thu thập tài liệu, chứng cứ cho bị đơn biết để thực hiện quyền của mình nhưng bị đơn đều vắng mặt và cũng không có ý kiến trình bày cũng như phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 92 và Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xác định đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022 được đánh giá là chứng cứ để chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp.
[2.2] Về tiền nợ gốc:
Theo quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, thì:
“... Điều 463. Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định...
... Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”
Tại Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022 thể hiện anh Lê Phước L có vay của Công ty T (JIVF) số tiền 22.000.000 đồng, thời hạn vay là 18 tháng, lãi suất 4,35%/tháng (33,2150%/năm); mục đích vay: Mua xe máy. Tại Hợp đồng mua bán xe ngày 25/11/2022 thể hiện anh Lê Phước L có mua của Cửa hàng X, địa chỉ: Tổ A, KP Ông Đ, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương 01 (một) xe gắn máy hiệu WINNER với giá 22.000.000 đồng. Ngày 26/12/2022 JIVF đã chuyển số tiền 22.000.000 đồng thông qua chuyển khoản theo Ủy nhiệm
5
chi số 1031122L26205418 ngày 26/12/2022 với nội dung: “Chuyen tien cho CUA HANG XE MAY TUAN PHAT BD2: KH LE PHUOC LOC” cho thấy JIVF đã chuyển tiền vay cho anh Lê Phước L đúng như thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
Sau khi vay, thì anh L đã trả 5.404.303 đồng (trong đó nợ gốc là 2.781.707 đồng, nợ lãi 2.581.593 đồng, nợ lãi quá hạn là 5.003 đồng, phí quản lý khoản vay 36.000 đồng). Tuy nhiên, từ ngày 19/3/2023 đến nay thì anh L không trả nợ gốc và lãi cho JIVF mặc dù đã được JIVF yêu cầu nhiều lần. Do bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận tại khoản 3.1 Điều 3, khoản 4.2 Điều 4, khoản 8.2 Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022 nên JIVF khởi kiện yêu cầu anh Lê Phước L phải trả cho JIVF số tiền nợ gốc 19.218.293 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn:
Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, thì:
“...Điều 91. Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng
1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật...”
Tại Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022 thể hiện anh Lê Phước L và JIVF thỏa thuận lãi suất vay là 4,35%/tháng (52,2%/năm), đồng thời JIVF cũng đã niêm yết công khai lãi suất áp dụng tại thời điểm vay được anh Lê Phước L đồng ý nên có căn cứ chấp nhận đối với lãi suất vay mà các bên thỏa thuận là 4,35%/tháng (52,2%/năm).
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T (JIVF), buộc anh Lê Phước L phải trả cho Công ty T (JIVF) số tiền tính đến ngày 24/5/2024 là 32.833.532 đồng (gồm: Nợ gốc: 19.218.293 đồng; Lãi: 11.021.421 đồng; Lãi quá hạn: 2.437.818 đồng; Phí quản lý khoản vay: 156.000 đồng) và tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 25/5/2024 cho đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022.
[3] Về án phí:
Bị đơn anh Lê Phước L phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn Công ty T (JIVF) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty T (JIVF) đối với bị đơn là anh Lê Phước L.
Buộc anh Lê Phước L phải trả cho Công ty T (JIVF) số tiền tính đến ngày 24/5/2024 là 32.833.532 (ba mươi hai triệu tám trăm ba mươi ba ngàn năm trăm ba mươi hai) đồng (gồm: Nợ gốc: 19.218.293 đồng; Lãi: 11.021.421 đồng; Lãi quá hạn: 2.437.818 đồng; Phí quản lý khoản vay: 156.000 đồng)
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (24/5/2024) anh Lê Phước L còn phải chịu tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ.
2. Về án phí: Hoàn lại cho Công ty T (JIVF) số tiền 528.460 (năm trăm hai mươi tám ngàn bốn trăm sáu mươi) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013315 ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.
Anh Lê Phước L phải chịu 1.641.677 (một triệu sáu trăm bốn mươi mốt ngàn sáu trăm bảy mươi bảy) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Trí Nguyên |
Bản án số 51/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 51/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn là Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam J do người đại diện theo ủy quyền là ông Trương Quốc B vắng mặt nhưng có văn bản trình bày: JIVF yêu cầu Tòa án buộc anh Lê Phước L phải trả cho JIVF số tiền tạm tính đến ngày 24/5/2024 là 32.833.532 đồng (gồm: Nợ gốc: 19.218.293 đồng; Lãi: 11.021.421 đồng; Lãi quá hạn: 2.437.818 đồng; Phí quản lý khoản vay: 156.000 đồng) và tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 25/5/2024 cho đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 948060003633269000 ngày 25/12/2022.
