TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/4/2024 V/v Ly hôn, T/c nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Út
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thơi
Bà Đặng Kim Ngân
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trăm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 589/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kiều O, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí N, sinh năm: 1989 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Kiều O trình bày: Qua quen biết chị và anh N tự nguyện sống với nhau từ năm 2010, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 26/4/2010. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và chính thức ly thân từ ngày 11/01/2023 âm lịch cho đến nay.
Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do anh N có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài, chị không bắt gặp được trực tiếp nhưng có nhiều lần bắt gặp được tin nhắn qua lại giữa anh N và người phụ nữ khác, chị có khuyên ngăn nhưng anh N không thay đổi nên vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau và làm mất hạnh phúc gia đình. Hiện nay chị thấy không còn tình cảm với anh N, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị yêu cầu:
- Về hôn nhân: Chị O yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Chí N
- Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Lê Ái M, sinh ngày 20/6/2012. Hiện nay đang sống với chị O, chị O yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra không có yêu cầu khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị O có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không có yêu cầu khác.
Anh Nguyễn Chí N (Vắng mặt): Do anh N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được ý kiến và tài liệu chứng cứ của anh N
Cháu Nguyễn Lê Ái M trình bày: Khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được sống với mẹ là chị Lê Thị Kiều O
Tại phiên tòa, chị O và anh N vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự. Kết luận, quan hệ tranh chấp về “ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Kiều O là nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần 2. Ngày 20/3/2024 chị O có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Oanh
Anh Nguyễn Chí Nghĩa là bị đơn đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N
[3] Về hôn nhân: Qua quen biết chị O và anh N tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 26/4/2010 tại Ủy ban nhân xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng sống với nhau đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và chính thức ly thân từ ngày 11/01/2023 (âm lịch) cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị O là do anh N có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài, chị không bắt gặp được trực tiếp nhưng có nhiều lần bắt gặp được tin nhắn qua lại giữa anh N và người phụ nữ khác, chị có khuyên ngăn nhưng anh N không thay đổi nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn với nhau và làm mất hạnh phúc gia đình. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh N để làm rõ yêu cầu ly hôn của chị O nhưng anh N vắng mặt không rõ lý do nên không thể thu thập được ý kiến của anh N
Nay chị O xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh N, chị O kiên quyết ly hôn với anh N. Cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Kiều O đối với anh Nguyễn Chí N
[4] Về con chung: Chị O trình bày vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Lê Ái M, sinh ngày 20/6/2012. Hiện nay cháu M đang sống với chị O
Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh N để làm rõ yêu cầu nuôi con của chị O nhưng anh N vắng mặt không rõ lý do nên không thể thu thập được ý kiến của anh N. Tại Bản tự khai ngày 13/12/2023 cháu M có nguyện vọng là sau khi cha mẹ ly hôn cháu được tiếp tục sống với mẹ là chị Lê Thị Kiều O. Mặt khác, từ khi chị O và anh N ly thân đến nay cháu M đều do chị O chăm sóc nuôi dưỡng đã ổn định về cuộc sống, hơn nữa cháu M là con gái cần sự chăm sóc từ người mẹ và cháu M đang trong quá trình phát triển tâm sinh lý. Để đảm bảo ổn định cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như tâm sinh lý cho cháu. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị O. Giao cháu Nguyễn Lê Ái M, sinh ngày 20/6/2012 cho chị Lê Thị Kiều O tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị O không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị O không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc chị Lê Thị Kiều O phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kiều O
1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kiều O được ly hôn với anh Nguyễn Chí N
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lê Ái M, sinh ngày 20/6/2012 cho chị Lê Thị Kiều O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Kiều O không yêu cầu anh Nguyễn Chí N cấp dưỡng nuôi con nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
Anh Nguyễn Chí N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Kiều O không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Kiều O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013800, ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Chị Lê Thị Kiều O đã nộp xong.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Út |
Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Kiều Oanh, Nguyễn Chí Nghĩa, ly hôn
