Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-PT

Ngày: 23/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành

Ông Huỳnh Đắc Đương

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai thụ lý số: 67/2024/HSPT, ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Lê Công H, do có kháng cáo của bị cáo Lê Công H đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2024/HSST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

- Bị cáo có kháng cáo: Lê Công H, sinh ngày 27/8/1996, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp S, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Lê Tấn L, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Thu V, sinh năm 1972; Vợ bị cáo tên: Nguyễn Thị Huỳnh L1, sinh năm 1997 (đã ly hôn); con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Công H: Luật sư Phạm Minh L2 – Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 31/10/2023, bị cáo Lê Công H và anh Trần Nguyễn Nhật B, sinh ngày 01/01/1992, cư trú tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh cùng nhau đến nhà ông Nguyễn Phước M, sinh ngày 20/5/1979 và bà Nguyễn Thị B1, sinh ngày 02/02/1991 cùng thường trú tại ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh để uống rượu. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi uống hết khoảng hơn 02 (hai) lít rượu thì nghỉ, anh B rủ bị cáo đi đến nhà bạn của anh B ở phường I, thành phố T để nhậu tiếp nên bị cáo đưa xe mô tô, biển số 84B1-698.92 cho anh B điều khiển chở bị cáo ngồi sau. Khi đến thành phố T cả hai vào quán K trên đường L thuộc khóm E, phường I, thành phố T để uống bia và hát Karaoke, đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày thì ra về. Bị cáo thấy anh B say rượu (bia) nên không cho anh B điều khiển xe mà bị cáo lấy xe lại điều khiển chở anh B ngồi sau theo hướng từ cầu Ô về đường N. Do đã uống nhiều rượu (bia) nên khi điều khiển xe gần đến ngã tư đường L và đường N đoạn thuộc khóm E, phường I, thành phố T, bị cáo không phát hiện bên lề phải theo hướng đi có hố (ổ gà) làm xe bị sụp hố mất thăng bằng, cả hai cùng xe té ngã xuống mặt đường bị thương, được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 01/11/2023, do anh B bị thương nặng nên được chuyển đến Bệnh viện C, thành phố Hồ Chí Minh điều trị, đến 04 giờ 35 phút ngày 02/11/2023 thì tử vong. Riêng bị cáo bị thương nhẹ nên được cho về nhà tự điều trị.

Tại Kết luận giám định tử thi số: 820/KLGĐTT-KTHS ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Nguyên nhân dẫn đến anh Trần Nguyễn Nhật B tử vong là do chấn thương sọ não nặng.

Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường ngày 31/10/2023 xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường bê tông nhựa, có nhiều ổ gà, là đường hai chiều có vạch kẻ đường phân chia phần đường xe chạy thành hai chiều riêng biệt. Mặt đường nơi xảy ra tai nạn rộng 6m.

- Lấy mép đường bên phải theo hướng từ cầu Ô về hướng đường N làm mép đường chuẩn.

- Lấy trụ điện không số bên lề trái theo hướng từ cầu Ô về hướng đường N làm điểm mốc.

- Số (1) là vị trí nạn nhân Trần Nguyễn Nhật B té ngã nằm trên mặt đường, đầu hướng ra tim đường, chân hướng vào mép đường chuẩn. T đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn là 1,6m và cách tâm xe mô tô, biển số 84B1-698.92 (vị trí số 3) là 1,4m.

- Số (2) là vị trí bị cáo Lê Công H té ngã nằm trên mặt đường, đầu hướng ra tim đường, chân hướng vào mép đường chuẩn. T đầu bị cáo cách mép đường chuẩn là 2,3m và cách tâm xe mô tô, biển số 84B1-698.92 (vị trí số 3) là 1,5m.

- Số (3) là vị trí xe mô tô, biển số 84B1-698.92 ngã trên mặt đường, xe ngã sang bên phải của xe, đầu xe hướng ra tim đường và lệch về hướng cầu Ô, đuôi xe hướng vào mép đường chuẩn và lệch về hướng đường N. Hình chiếu vuông góc của xe cách đầu vết cày của xe (vị trí số 4) là 9m và cách điểm mốc là 10m. Hình chiếu vuông góc của tâm trục bánh xe trước xuống mặt đường, cách mép đường chuẩn là 2,2m. Hình chiếu vuông góc của tâm trục bánh xe sau xuống mặt đường, cách mép đường chuẩn là 1,1m.

- Số (4) là vị trí vết cày của xe mô tô, biển số 84B1-698.92 để lại trên mặt đường sau tai nạn, vết cày không liên tục, có chiều hướng từ cầu Ô về hướng đường N. Vết cày dài 9m, đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 1,2m và cách mép ngoài gần nhất với vị trí cái hố (ổ gà) theo hướng vuông góc là 1,3m.

- Số (5) là vị trí cái hố (ổ gà) trên đường không rõ hình dạng, kích thướt 1,6m x 1,2m, có độ sâu không đồng đều, vị trí sâu nhất cách mặt lộ là 5cm, mép ngoài cùng của cái hố cách mép đường chuẩn là 1,6m.

Tại bản phân tích lỗi vụ tai nạn giao thông ngày 26/02/2024: Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện liên quan vụ tai nạn giao thông và các tài liệu chứng cứ đã thu thập, xác định nguyên nhân của vụ tai nạn là do bị cáo Lê Công H điều khiển xe mô tô mà trong hơi thở có nồng độ cồn (1.39 miligam/1 lít khí thở) dẫn đến mất phương hướng, không còn khả năng quan sát nên không phát hiện chướng ngại vật (hố) phía trước dẫn đến tự té gây tai nạn vi phạm khoản 8, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1, Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại rượu, bia) và khoản 23, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.

Tại khoản 8, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ quy định: các hành vi bị nghiêm cấm gồm có: Điều khiển xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”;

Tại khoản 23, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ quy định: Các hành vi nghiêm cấm: Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Kết quả đo nồng độ cồn của bị cáo Lê Công H là 1.39 miligam/1 lít khí thở. Bị cáo có giấy phép lái xe theo quy định.

Kết quả đo nồng độ cồn của nạn nhân Trần Nguyễn Nhật B là 57.74mmol/L=2.66g/l.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2024/HSST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Công H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Công H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về bồi thường trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/8/2024, bị cáo Lê Công H kháng cáo xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Lê Công H thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã thể hiện, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Công H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Về mức hình phạt án sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Công H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ lỗi do hành vi bị cáo đã gây ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới là nộp khắc phục 15.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án thành phố Trà Vinh để khắc phục cho bị hại, bị cáo hiện nay đang cấp dưỡng nuôi 02 người con mỗi tháng 3.000.000 đồng những tình tiết này đã được áp dụng tại điểm b, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và việc bị cáo có nghĩa vụ cấp dưỡng 02 con, hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, tình tiết này được áp dụng tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên những tình tiết này đã được Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo, do đó cũng không làm thay đổi mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo. Từ những nhận định và phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Công H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.

Quan điểm người bào chữa cho bị cáo Lê Công H:

Lời nói sau cùng của bị cáo Lê Công H: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo bị cáo là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[2] Đối với yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Công H Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Công H khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 50 phút ngày 31/10/2023, bị cáo Lê Công H sau khi đã uống rượu, bia điều khiển xe mô tô biển số 84B1-698.92 chở anh Trần Nguyễn Nhật B ngồi sau lưu thông trên đường L hướng về đường N với vận tốc khoảng 40 đến 50km/h, do say rượu thiếu quan sát khi đến đoạn thuộc khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh thì bị sụp ổ gà làm người và xe té ngã dẫn đến người bị hại anh Trần Nguyễn Nhật B bị chấn thương sọ não nặng dẫn đến tử vong. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là nhất quán với nhau không thay đổi, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản hiện trường, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì hiện nay vấn đề tai nạn giao thông đang là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội, về tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Do đó, pháp luật về giao thông quy định, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông không được sử dụng rượu, bia. Do xem thường các quy định của pháp luật, bị cáo điều khiển xe mô tô mà có sử dụng rượu, bia, không làm chủ tay lái, thiếu quan sát dẫn đến sụp hố (ổ gà) làm người và xe té ngã dẫn đến anh Trần Nguyễn Nhật B bị chấn thương sọ não nặng dẫn đến tử vong. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự an toàn nơi công cộng, xâm phạm đến tính mạng của người khác. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để nhằm răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Trong khi xã hội, toàn dân thực hiện mục tiêu an toàn giao thông, đảm bảo tính mạng sức khỏe con người cũng như trật tự ở địa phương. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ là bị cáo khắc phục thêm 15.000.000 đồng tuy nhiên tình tiết này đã được tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, và bị cáo cung cấp thêm tình tiết hiện nay bị cáo đang cấp dưỡng nuôi 02 người con mỗi tháng mỗi cháu 1.500.000 đồng, xét thấy đây là nghĩa vụ của bị cáo tình tiết này được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự. Tòa án sơ thẩm đã đánh giá phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, do đó việc bị cáo xin hưởng án treo là không có căn cứ để hội đồng xét xử chấp nhận đối với tình hình phục vụ chính trị địa phương tai nạn giao thông hiện nay. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Công H giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.

[4] Đề nghị của Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Quan điểm người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét những quy định của pháp luật để cho bị cáo được hưởng án treo, tuy nhiên không phù hợp nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Công H không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Công H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 60/2024/HS-ST, ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Công H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Công H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ tố tụng hình sự; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Công H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Trà Vinh;

- Sở Tư pháp;

- TAND thành phố Trà Vinh;

- VKSND thành phố Trà Vinh;

- Cơ quan THAHS thành phố Trà Vinh;

- Cơ quan CSĐT thành phố Trà Vinh;

- Chi cục THADS thành phố Trà Vinh;

- Bị cáo;

- Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 51/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger