Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23-8-2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Bùi Đắc Nghĩa;
  • Ông Lê Xuân Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2024/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Phạm Trúc L, sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  • Bị đơn: Anh Diệp Minh T, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Chị L có đơn xin vắng mặt; anh T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 5 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Trúc L trình bày:

Chị và anh Diệp Minh T sống chung với nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, hôn nhân là tự nguyện.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ anh T được khoảng 01 năm thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau, năm 2017 chị sinh con nhưng anh T thiếu quan tâm chăm sóc nên thường xuyên xảy ra cãi vã với nhau và sau khi sinh con được 04 tháng, chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và từ khi chị đi cho đến nay anh T không đến thăm con cũng không hỏi thăm, chị có yêu cầu anh T giao giấy tờ để làm giấy khai sinh cho con đi học nhưng anh T không giao nên chị đăng ký khai sinh cho con không có tên cha và lấy họ của chị. Do đó, nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không tiếp tục sống chung nên yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Thị Quỳnh A, sinh ngày 14-5-2016, hiện đang sống chung nhà với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã triệu tập hợp lệ và tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Diệp Minh T nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện các thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với anh Diệp Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy giữa chị L và anh T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến ly thân từ năm 2017 cho đến nay không thể hàn gắn được nên chị L yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận. Do đó căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử theo hướng:

  • Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Trúc L đối với anh Diệp Minh T.
  • Về nuôi con chung: Chị L và anh T có 01 người con tên Phạm Thị Quỳnh A, sinh ngày 14-5-2016, hiện cháu đang sinh sống ổn định cùng với chị L và theo nguyện vọng của cháu Quỳnh A muốn sống với chị L nên chị L yêu cầu nuôi con chung là có căn cứ. Do đó, cần giao con chung cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị L không yêu cầu giải quyết.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Trúc L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

2

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Anh Diệp Minh T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
  2. Về nội dung vụ án:
    1. Về hôn nhân: Chị Phạm Trúc L và anh Diệp Minh T chung sống với nhau từ năm 2015, hôn nhân giữa anh, chị là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử nhận định đây là hôn nhân hợp pháp.

    Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến; tuy nhiên theo biên bản xác minh bà Trần Thị T1 là mẹ ruột anh T thì giữa chị L và anh T không có xảy ra mâu thuẫn với nhau, chị L tự bỏ nhà đi từ năm 2017 cho đến nay không sống chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh T nhiều lần nhưng anh không đến, đều này thể hiện anh T không muốn đoàn tụ. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa chị L và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, dẫn đến vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên chị L yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

    1. Về nuôi con chung: Chị L và anh T có 01 người con tên Phạm Thị Quỳnh A, sinh ngày 14-5-2016, hiện đang sống chung nhà với chị L. Trong quá trình giải quyết vụ án chị L có nguyện vọng nuôi con chung và theo nguyện vọng của cháu Quỳnh A muốn sống chung với chị L. Xét thấy, từ khi chị L và anh T ly thân cho đến nay, cháu Quỳnh A sống ổn định với chị L nên để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của con chung, cần giao cháu Phạm Thị Quỳnh A, sinh ngày 14-5-2016 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T có nghĩa vụ đóng góp (cấp dưỡng) con cùng với chị.
    2. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị L không yêu cầu giải quyết.
  3. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Trúc L là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

3

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Trúc L và anh Diệp Minh T.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Phạm Thị Quỳnh A, sinh ngày 14-5-2016 cho chị Phạm Trúc L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T có nghĩa vụ đóng góp (cấp dưỡng) con cùng với chị.

Anh T2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị L không yêu cầu giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Trúc L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tại biên lai thu số 0006260 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Trúc L, anh Diệp Minh T có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh (Phòng KT-NV);
  • - VKSND huyện Tân Châu;
  • - CC THADS huyện Tân Châu;
  • - UBND xã Tân Hưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thanh Quốc

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị và anh Diệp Minh T sống chung với nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, hôn nhân là tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ anh T được khoảng 01 năm thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau, năm 2017 chị sinh con nhưng anh T thiếu quan tâm chăm sóc nên thường xuyên xảy ra cãi vã với nhau và sau khi sinh con được 04 tháng, chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và từ khi chị đi cho đến nay anh T không đến thăm con cũng không hỏi thăm, chị có yêu cầu anh T giao giấy tờ để làm giấy khai sinh cho con đi học nhưng anh T không giao nên chị đăng ký khai sinh cho con không có tên cha và lấy họ của chị. Do đó, nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không tiếp tục sống chung nên yêu cầu ly hôn với anh T. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Thị Quỳnh A, sinh ngày 14-5-2016, hiện đang sống chung nhà với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger